Bản án số 03/2018/DS-PT ngày 09/01/2018 của TAND tỉnh Điện Biên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2018/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 03/2018/DS-PT ngày 09/01/2018 của TAND tỉnh Điện Biên
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Điện Biên
Số hiệu: 03/2018/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/01/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Trọng L, bà Đặng Thị N tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 03/2018/DS-PT
Ngày: 09-01-2018
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quàng văn Liêm
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Hằng.
Bà Lò Thị Xuyến.
- Thư phiên tòa: Hoàng ThNgọc Loan - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị Nga - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và 09 tháng 01 năm 2018, tại phòng xét xử số 01, Trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
số 03/2017/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2017 về Tranh chấp hợp đồng dân
sự: Mua bán tài sản” theo Quyết định đưa ván ra xét xử số: 02/2017/QĐ- PT
ngày 17 tháng 11 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2017/QĐ-PT ngày
08/12/2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc T - Sinh năm 1959.
Địa chỉ: Khối A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng L - Sinh năm 1965 (Có mặt tại phiên a).
Bà Đặng Thị N - Sinh năm 1962 (Có mặt tại phiên tòa).
Cùng trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Điện Biên.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Thị T1 - Sinh năm 1962; Địa chỉ: Khối A, thị trấn B, huyện B,
tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Thị L - Sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường F,
thành phố I, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt
đề ngày 08/01/2018).
3. Ông Nguyễn Văn M - Sinh năm 1954; Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường F,
thành phố I, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt
đề ngày 08/01/2018).
- Người làm chứng: Thị H - Sinh năm 1964; Địa chỉ: K, huyện
D, tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa ngày 08/01/2018, vắng mặt khi Tòa
tuyên án ngày 09/01/2018).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện quá trình tranh tụng nguyên đơn ông Phạm
Ngọc T trình bày:
Ngày 30/6/2015 ông kết “Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và sở hữu nhà và cửa hàng” G tại tổ dân phố C, thị trấn D, huyện D,
với giá 1.900.000.000 đồng (một tỷ chín trăm triệu đồng) với vợ chồng ông
Nguyễn Trọng L và Đặng Thị N. Quá trình kết hợp đồng các bên tự thỏa
thuận tự nguyện kết, sau khi Hợp đồng ông đưa trước 200.000.000
đồng tiền đặt cọc để m tin cho ông Nguyễn Trọng L Đặng Thị N; khi
bàn giao tiền ông L viết tay một giấy biên nhận tiền đặt cọc 200.000.000
đồng. Đến ngày 04/7/2015 ông cùng thợ lên kiểm phụ tùng xe tại cửa
hàng Yamaha 2S. Tại đây ông hỏi ông Nguyễn Trọng L về giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì được ông L đưa cho xem giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất bằng bản phô mang tên ông Nguyễn Văn M Nguyễn Thị L1, hiện
trú tại: Tổ dân phố E, phường F, thành phố I, tỉnh Điện Biên. Sau đó ông L, bà
N yêu cầu ông trc tiếp gặp ông M, L1 đlàm thủ tục chuyển nhượng
sang tên giấy chứng quyền sử dụng đất tại UBND thị trấn D nhưng ông không
đồng ý và yêu cầu ông L, bà N có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng quyền
sử dụng đất theo hợp đồng đã cũng như trách nhiệm liên hệ m thtục
sang tên Cửa hàng G từ công ty TNHH Y Việt Nam cho ông, nhưng ông L, bà N
không thực hiện được. Nhiều lần ông đề nghị ông L, bà N chấm dứt hợp đồng và
trả số tiền 200.000.000 đồng nhưng ông L, N không đồng ý trả số tiền này.
Do đó, ông đã đề nghị UBND thị trấn D hòa giải việc tranh chấp nhưng không
thành. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Tuyên bố hợp đồng muan, chuyển nhượng quyền sử dụng đất sở hữu
nhà cửa ng lập ngày 30/6/2015 vô hiệu toàn bộ vềnh thức nội dung.
2. Yêu cầu ông L, bà N trả số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng.
3. Bồi thường trả lãi tạm tính theo lãi suất tiền vay Ngân hàng: 22 tháng (từ
ngày 01/7/2015 đến 30/4/2017) x 9,5%/năm = 35.200.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 22/9/2017, nguyên đơn rút yêu cầu trả lãi.
Tại các biên bản ý kiến quá trình tranh tụng bị đơn ông Nguyễn
Trọng L và bà Đặng Thị N trình bày:
Thửa đất trong hợp đồng chuyển nhượng là của gia đình ông, bà đã sử dụng
từ năm 2008 do L1, ông M nhượng lại cho gia đình sử dụng ông, đã
xây dựng nhà ổn định từ năm 2008 cho đến nay. Do gia đình ông, chưa
điều kiện cũng như không xác định định lâu dài huyện D nên không làm
thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông bà M - L1 sang tên chủ sở hữu
vợ chồng ông, bà. Khi ký kết Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng
3
đất sở hữu nhà và cửa hàng lập ngày 30/6/2015, giữa hai bên thỏa thuận mua
bán tài sản trọn gói với giá 1.900.000.000 đồng bao gồm đất ở, nhà trên đất,
phụ tùng xe , đại G không làm hợp đồng mua riêng đối với từng tài
sản. Trước khi kết hợp đồng ngày 30/6/2015 gia đình ông, xuất trình
cho ông Phạm Ngọc T xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên gia đình ông Nguyễn Văn M,
Nguyễn Thị L1) và bản hợp đồng y quyền giữa ông Nguyễn Văn M,
Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn Trọng L lập ngày 29/6/2015, nội dung hợp đồng
ủy quyền ông L quyền quản lý, sdụng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Sau khi ký kết Hợp đồng xong, ngày 04/7/2015 ông Phạm Ngọc T lên kiểm
hàng phụ tùng xe tồn kho ông T bảo phụ tùng xe ít nên đã
xin ông, giảm bớt stiền mua bán xuống 200.000.000 đồng nhưng phía ông
chỉ đồng ý giảm số tiền 50.000.000 đồng cho ông T. Còn thủ tục sang tên cửa
hàng G theo điều khoản trong hợp đồng bị đơn chỉ có trách nhiệm bàn giao, giao
dịch của đại G với Công ty TNHH Y Việt Nam. Bị đơn đơn đnghị gửi
qua địa chỉ email cho quản lý vùng Tây Bắc của Công ty TNHH Y Việt Nam đ
xin ý kiến làm thủ tục bàn giao lại cho ông Phạm Ngọc T đđảm bảo cho hợp
đồng chuyển nhượng theo nguyên tắc của bên chuyển nhượng bên được
chuyển nhượng, đồng thời bị đơn cũng gửi nội dung đơn đề nghị qua địa chỉ
email cho ông T, nhưng do ông T không đồng ý thực hiện thủ tục đề nghị nên
quản vùng chưa ý kiến hướng dẫn thủ tục. 10 ngày sau khi ký Hợp đồng
ông Thịnh không lên nhận bàn giao tài sản, chuyển số tiền 1.500.000.000 đồng
như điều khoản trong Hợp đồng. Vì vậy ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn yêu cầu gia đình ông trả lại 200.000.000 đồng tiền đặt cọc và lãi
suất 35.200.000 đồng. Về đại G, ngày 30/9/2016 bị đơn đã thanh lý hợp đồng
hợp c kinh doanh với công ty TNHH Y Việt Nam, khi thanh hợp đồng ông
cũng không thông báo cho nguyên đơn được biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Thị T1 (là vợ của nguyên đơn) đề nghị bị đơn ông Nguyễn Trọng
L, bà Đặng Thị N trả lại cho bà và ông T số tiền 200.000.000 đồng đã đặt cọc.
+ Tại phiên tòa người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1
trình bày: Gia đình đã cho gia đình em trai của gia đình ông Nguyễn
Trọng L, bà Đặng Thị N được toàn quyền quản sử dụng toàn bộ diện tích
đất 141,4m
2
từ năm 2008, nhưng cho đến nay gia đình ông L, bà N chưa làm thủ
tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất theo quy định. Ngày 29/6/2015 ông
Nguyễn Văn M và bà đã Hợp đồng ủy quyền toàn bộ cho ông Nguyễn Trọng
L được quyền tiến hành các thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Nên gia đình
không ý kiến về việc mua bán này cũng như không yêu cầu đối
với ông Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N.
Tại phiên tòa người làm chứng bà Vũ Thị H trình bày: Tại thời điểm ký
kết hợp đồng người đi cùng nguyên đơn cũng người trực tiếp giao số
tiền 200.000.000 đồng cho ông L, bà N. Nhưng trước đó bà không biết giữa ông
4
L, N ông T trao đổi như thế nào về việc mua bán khi hai bên kết
hợp đồng không được biết về giấy chng nhận quyền sdụng đất cũng như
hợp đồng ủy quyền giữa ông M, bà L1 và ông L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D tại phiên tòa ý kiến: Trong
quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa án
tuân theo pháp luật tố tụng. Về nội dung ván, đề nghị đình chỉ một phần khởi
kiện (yêu cầu trả lãi 35.200.000 đồng) do nguyên đơn rút đơn yêu cầu những
người tham gia tố tụng khác đồng ý. Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng hiệu toàn bộ về nội dung hiệu
toàn bộ về hình thức, ông , bà Nụ phải trả lại cho nguyên đơn 200.000.000 đồng.
Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Tại bản án dân sự thẩm số: 01/2017/DS-ST ngày 22/9/2017 của Tòa
án nhân dân huyện D quyết định:
- Căn cứ khoản 2 Điều 122, Điều 127, Điều 134, khoản 1 Điều 136,khoản 2
Điều 137, Điều198, khoản 2 Điều 401, Điều 402, Điều 410, Điều 427, Điều 450,
khoản 2 Điều 689 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điểm a khoản 3 Điều 167 ca Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ các điểm a,b khoản 3, khoản 4 Điều 27 của Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ mt một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đình chỉ về yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất đối với số tiền 35.200.000 đồng
theo khoản 2 Điều 244 của Bộ luật ttụng dân sự năm 2015 do nguyên đơn rút
yêu cầu.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tuyên bố hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu
nhà cửa hàng giữa ông Phạm Ngọc T ông Nguyễn Trọng L, Đặng Thị
N vô hiệu toàn bộ về nội dung và hình thức.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Trọng L bà Đặng Thị N liên đới trsố tiền
200.000.000 đồng cho nguyên đơn ông Phạm Ngọc T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự,
quyền kháng nghị theo quy định pháp luật.
Ngày 05/10/2017, bị đơn Nguyễn Trọng L kháng cáo yêu cầu sửa toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 22/9/2017 bác yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn với nội dung:
5
1. Về xác định mối quan hệ pháp luật của bản án.
Bản án xác định mối quan hệ pháp luật của vụ án là: V/v tranh chấp hợp
đồng dân sự mua bán tài sản”; đây sự xác định sai mối quan hpháp luật của
bản án dẫn đến việc tại “Mục 3.1. Về hình thức của hợp đồng” của bản án đã
nhận định sai về nội dung của vụ án dẫn đến việc bản án đã vi phạm nghiêm
trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Về bản chất đúng của vviệc thì phải xác định đây tranh chấp v“Việc
đặt cọc” của giao dịch mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất sở hữu
nhà cửa hàng; các hành vi của việc đặt cọc đã thỏa mãn các quy định của
pháp luật thỏa mãn đầy đủ các diễn biến khách quan của sự việc ncó khởi
đầu, có diễn biến và có kết thúc ca việc đặt cọc.
Còn xác định mối quan hệ pháp luật của vụ án này tranh chấp hợp đồng
dân sự mua bán tài sản không đúng không thỏa mãn tất cả các quy định
của pháp luật cũng như diễn biến khách quan của sự việc vì nó mới có khởi đầu,
chưa diễn biến đặc biệt chưa kết thúc của sviệc; hai bên A B mới
tiến hành kết các thỏa thuận và tiến hành việc đặt cọc để bảo đảm quyền và
nghĩa vụ của các bên chứ hai bên chưa giao nhận tiền, tài sản của thỏa thuận,
chưa đến quan Nhà nước thẩm quyền (ở đây UBND thị trấn D) để m
hợp đồng mua bán động sản bất động sản theo quy định của pháp luật; hai
bên cũng chưa làm thủ tục sang n đổi chủ các tài sản nói trên để kết thúc hợp
đồng mua bán.
vậy, việc Tòa án xác định không đúng mối quan hpháp luật của vụ án
dẫn đến việc giải quyết sai nội vụ án; đúng luật khi ông Thịnh khởi kiện yêu cầu
Tòa án “Tuyên bố hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sdụng đất sở
hữu nhà cửa hàng lập ngày 30/6/2015 hiệu toàn bộ vhình thức nội
dung” thì Tòa án phải đình chỉ yêu cầu này theo quy định tại điểm b khoản 1
Điều 192/BLTTDS năm 2015 thực tế hợp đồng này chưa và chưa đến giai
đoạn được xác lập tại quan thẩm quyền thì lấy đâu ra hình thức nội
dung để mà Tòa án tuyên vô hiệu.
2. Về hình thức của Hợp đồng đặt cọc.
Hình thức của giao dịch đặt cọc được quy định tại khoản 1 Điều 358/BLDS
năm 2005 quy định về hình thức của việc đặt cọc là “Việc đặt cọc phải được lập
thành văn bản”; theo quy định này thì việc đặt cọc không bắt buộc phải công
chứng chứng thực việc đặt cọc chỉ cần được thể hiện bằng văn bản dưới bất
kỳ một dạng văn bản nào như giấy biên nhận, hợp đồng, xác nhận, cam kết…
Tại điểm c khoản 1 Điều 138/BLDS năm 2005 thì việc đặt cọc “Biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” cho nên mục đích của việc đặt cọc
nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của các bên khi tham gia giao
dịch dân sự, việc đặt cọc thể được thực hiện trong hợp đồng chính hoặc cũng
thể được thể hiện dưới dạng hợp đồng phụ hoặc được thể hiện dưới dạng hợp
6
đồng độc lập để buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình; bên nào
vi phạm việc không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bị phạt cọc.
3. Về nội dung của việc đặt cọc.
Quá trình đặt cọc được gắn liền tồn tại song song với việc thực hiện
nghĩa vụ của các bên và có thể chia ra làm 03 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn mt: Là giai đoạn tiến hành việc đặt cọc.
Giai đoạn này hai bên đã thực hiện xong thể hiện thông qua việc vợ chồng
ông L, N ông T, T1 đã thỏa thuận thành công giá chuyển nhượng, số
lượng tài sản chuyển nhượng quyền nghĩa vụ của các bên; tiến hành việc đặt
cọc để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vcủa hai bên cho các thỏa thuận nói
trên. Số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng tiền VNĐ (hai trăm triệu đồng) đã
được giao nhận thành công vào ngày 30/6/2015; kể từ thời điểm này bên nào vi
phạm nghĩa vcủa mình trong các thỏa thuận nói trên thì đều phải bị phạt cọc
bằng số tiền đã đặt cọc.
- Giai đoạn hai: Là giai đoạn được thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều
I và khoản 3 Điều II của thỏa thuận “Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền s
dụng đất sở hữu nhà cửa hàng ngày 30/6/2015” sau 10 ngày kể từ ngày
ký thỏa thuận và giao nhận tiền đặt cọc; tức ngày 11/7/2015 ông T, T1 phải
đến nhà ông bà L, N để nhận bàn giao toàn bộ số tài sản mà hai bên đã thỏa thuận
chuyển nhượng theo quy định trong thỏa thun ông T T1 phải chuyển cho
vợ chồng ông L, N số tiền 1.500.000.000 đồng tiền VNĐ (một t năm trăm
triệu đồng); nhưng đến ngày đó ông T, T1 không lên nhà ông L N để nhận
bàn giao những tài sản như đã thỏa thuận mà không do chính đáng; ông
T, T1 cũng không chuyển cho vợ chồng ông L, N số tiền 1.500.000.000 đồng
tiền VNĐ như đã thỏa thuận; việc ông T, T1 không thực hiện nghĩa vụ của
nh theo như cam kết trong thỏa thuận dẫn đến việc “Hợp đồng mua bán chuyển
nhượng quyền sử dụng đất sở hữu nhà cửa hàng” không thực hiện. vậy
ông bà T, T1 đã vi phạm việc không thực hiện nghĩa vụ của mình như đã cam kết
trong thỏa thuận; cho nên ông bà T, T1 phải bị phạt cọc với số tiền mà ông T,
T1 đã đặt cọc cho ông L N là 200.000.000 đồng.
Thời điểm phát sinh việc phạt cọc và chấm dứt các cam kết trong thỏa
thuận “Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất sở hữu nhà
cửa hàng ngày 30/6/2015” ngày 12/7/2015. Kể từ thời điểm này số tiền đặt
cọc của ông T đã thuộc về ông L, N, ng với đó quá trình đặt cọc cũng
như các cam kết trong thỏa thuận được kết thúc một bên bên ông T đã vi
phạm.
- Giai đoạn ba (đây giai đoạn chỉ tồn tại về mặt lý thuyết, còn trong thực
tế của thỏa thuận “Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất s
hữu nhà cửa hàng ngày 30/6/2015” đã không được diễn ra): giai đoạn
được thực hiện kể từ khi kết thúc giai đoạn hai tức là khi ông bà T, T1 nhận bàn
giao xong toàn bộ số tài sản theo thỏa thuận trong “Hp đồng” cũng như vợ
7
chồng ông L, N nhận đủ số tiền 1.500.000.000 đồng; vợ chồng ông L, N
ông T, T1 phải đến UBND thị trấn D để xác lập “Hợp đồng mua bán
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà và cửa hàng”. Việc xác lập này
quy định các trình tự thủ tục đầy đủ, đúng luật; sau khi cùng với quan
thẩm quyền tiến hành xác lập xong Hợp đồng theo quy định của Luật đất đai
Bộ luật Dân sự; vợ chồng ông bà L, N phải có nghĩa vụ làm thủ tục sang tên các
tài sản như trong cam kết cho ông T, T1; nếu vợ chồng ông L, N đã vi
phạm các cam kết trong thỏa thuận thì phải chịu số tiền phạt cọc 200.000.000
đồng theo quy định của pháp luật dân sự.
Từ những phân tích trên bị đơn khẳng định vợ chồng ông T, T1 đã
không thực hiện nghĩa vụ của mình như cam kết vì vậy ông bà T, T1 phải chịu số
tiền phạt cọc200.000.000 đồng mà ông bà T, T1 đã đặt cọc cho ông bà L, N.
4. Về yêu cầu khởi kiện thứ 3 của ông T.
Về yêu cầu khởi kiện này của ông T không được Tòa án chấp nhận thì Tòa
án phải căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
khoản 1 Điều 147/BLTTDS m 2015 buộc ông T phải chịu án pkhông giá
ngạch cho yêu cầu này.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết những việc sau đây: Sửa toàn bộ
Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2017/DSST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án
nhân dân huyện D, tỉnh Điện Biên theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của ông T
theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn và là người kháng cáo rút một phần nội yêu cầu kháng cáo về việc
“Tòa án phải căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 khoản 1 Điều 147/BLTTDS năm 2015 buộc ông T
phải chịu án phí không giá ngạch cho yêu cầu không được Tòa án chấp nhận”.
- Các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp
như sau : Ông Nguyễn Trọng L Đặng Thị N thực hiện phạt cọc đối với
ông Phạm Ngọc T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ông Nguyễn
Trọng L Đặng Thị N trách nhiệm hoàn trcho ông Phạm Ngọc T số
tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Thời gian hoàn trả chậm nhất
ngày 18/01/2018. Ông Phạm Ngọc T tự nguyện chịu 10.000.000 đồng tiền án
phí dân sự thẩm giá ngạch. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Trọng L tự nguyện
chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên phát biểu ý kiến tại
phiên tòa phúc thẩm:
Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử
đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung ván: Tại phiên
tòa, các đương sự tự thỏa thuận giải quyết tranh chấp. Sự thỏa thuận tự
8
nguyện không trái đạo đức hội, phù hợp với quy định pháp luật. Đề nghị hội
đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308/BLTTDS: Sửa bản
án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về áp dụng pháp luật:
- Cấp sơ thẩm n cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015; Điều 27 của Nghquyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Thụ lý, thu
thập chứng cứ, tiến hành xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ngày 05/10/2017, bị đơn Nguyễn Trọng L kháng cáo yêu cầu sửa toàn bộ
bản án dân sự thẩm số 01/2017/DSST ngày 22/9/2017 nằm trong hạn luật
định, kháng cáo những nội dung trong bản án thẩm nên được chấp nhận về
hình thức kháng cáo.
[2] Xét nội dung kng cáo:
[2.1] Về nội dung cấp thẩm không buộc nguyên đơn ông Phạm Ngọc T
chịu án phí về nội dung khởi kiện không được chấp nhận:
Tại phiên tòa người kháng cáo rút yêu cầu này. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại
đơn khởi kiện ngày ngày 08/5/2017 của ông Phạm Ngọc T ông yêu cầu Tòa án
xem xét bốn nội dung. n cứ vào Thông o thụ lý vụ án số 02/TB-TLVA ngày
16/5/2017, Tòa án huyện D đã thụ lý ba nội dung: (Tuyên bố hợp đồng mua bán,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà cửa hàng lập ngày 30/6/2015
vô hiệu toàn bộ về hình thức và nội dung; Yêu cầu ông L, bà N trả số tiền đặt cọc
200.000.000đồng; Bồi thường trả lãi tạm tính theo lãi suất tiền vay Ngân hàng: 22
tháng (từ ngày 01/7/2015 đến 30/4/2017) x 9,5%/năm = 35.200.000 đồng). Tòa án
cấp sơ thẩm không thgiải quyết (yêu cầu xem xét trách nhiệm của ông L,
N dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản) trong cùng vụ kiện này. vậy hội
đồng xét xphúc thẩm không xét kháng cáo về nội dung này.
[2.2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các đương sự tự nguyện thỏa thuận
giải quyết tranh chấp. Ông Nguyễn Trọng L Đặng Thị N thực hiện phạt
cọc đối với ông Phạm Ngọc T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Ông Nguyn Trọng L Đặng Thị N trách nhiệm hoàn trcho ông Phạm
Ngọc T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Thời gian hoàn trả
chậm nhất là ngày 18/01/2018.
Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận tự nguyện không trái đạo đức
pháp luật, chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Căn cứ vào vào điều 300,
khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa án thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự.
9
[3] Về án phí: Ông Phạm Ngọc T tự nguyện chịu 10.000.000 đồng tiền án
phí dân sự thẩm giá ngạch. Ông Nguyễn Trọng L tự nguyện chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm. Căn cứ vào điều 147, 148 BLTTDS; các điều 26
29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng các điều 147, 148, 300, khoản 2 Điều 308/BLTTDS; các điều
26 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
Sửa bản án thẩm s01/2017/DS-ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân
dân huyện D, tỉnh Điện Biên. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như
sau: Ông Nguyễn Trọng L và Đặng Thị N thực hiện phạt cọc đối với ông
Phạm Ngọc T với số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ông
Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N có trách nhiệm hoàn trả cho ông Phạm Ngọc
T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Thời gian hoàn trả chậm nhất
là ngày 18/01/2018.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự thẩm: Ông Phạm Ngọc T chịu 10.000.000 đồng
(Mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, nhưng được khấu trừ
5.880.000 đồng số tiền tạm ứng án phí ông Phạm Ngọc T đã nộp theo biên lai số
AA/2010/00625 ngày 16/5/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D, tỉnh
Điện Biên. Ông T còn phải thi hành tiếp 4.120.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai
mươi nghìn đồng).
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Trọng L phải chịu 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu tr
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) stiền tạm ứng án pđã nộp theo biên lai
số: AA/2010/00629 ngày 05/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D.
Ông L đã thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut thi hành án
dân st người đưc thi hành án dân sự, người phi thi hành án n scó quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền u cầu thi hành án, tự nguyện thi nh án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tạic Điều 6,7 9 Lut thinh án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hin theo Điều 30 Luật thi hành án n sự”.
10
Án phúc thẩm công khai. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án (Ngày 09/01/2018).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Điện Bn;
- TAND H. D;
- Chi cục THADS huyện D;
- Các đương sự;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Quàng Văn Liêm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thu Hằng
Lò Thị Xuyến
Quàng Văn Liêm
11
Tải về
Bản án số 03/2018/DS-PT Bản án số 03/2018/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất