Bản án số 03/2018/DS-PT ngày 09/01/2018 của TAND tỉnh Điện Biên
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 03/2018/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 03/2018/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 03/2018/DS-PT ngày 09/01/2018 của TAND tỉnh Điện Biên |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Điện Biên |
| Số hiệu: | 03/2018/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/01/2018 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Trọng L, bà Đặng Thị N tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 03/2018/DS-PT
Ngày: 09-01-2018
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quàng văn Liêm
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Hằng.
Bà Lò Thị Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Loan - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị Nga - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và 09 tháng 01 năm 2018, tại phòng xét xử số 01, Trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý
số 03/2017/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng dân
sự: Mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2017/QĐ- PT
ngày 17 tháng 11 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2017/QĐ-PT ngày
08/12/2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc T - Sinh năm 1959.
Địa chỉ: Khối A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng L - Sinh năm 1965 (Có mặt tại phiên tòa).
Bà Đặng Thị N - Sinh năm 1962 (Có mặt tại phiên tòa).
Cùng trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Điện Biên.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Vũ Thị T1 - Sinh năm 1962; Địa chỉ: Khối A, thị trấn B, huyện B,
tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).
2. Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường F,
thành phố I, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt
đề ngày 08/01/2018).
3. Ông Nguyễn Văn M - Sinh năm 1954; Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường F,
thành phố I, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt
đề ngày 08/01/2018).
- Người làm chứng: Bà Vũ Thị H - Sinh năm 1964; Địa chỉ: Xã K, huyện
D, tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa ngày 08/01/2018, vắng mặt khi Tòa
tuyên án ngày 09/01/2018).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tranh tụng nguyên đơn ông Phạm
Ngọc T trình bày:
Ngày 30/6/2015 ông có ký kết “Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và sở hữu nhà và cửa hàng” G tại tổ dân phố C, thị trấn D, huyện D,
với giá 1.900.000.000 đồng (một tỷ chín trăm triệu đồng) với vợ chồng ông
Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N. Quá trình ký kết hợp đồng các bên tự thỏa
thuận và tự nguyện ký kết, sau khi ký Hợp đồng ông có đưa trước 200.000.000
đồng tiền đặt cọc để làm tin cho ông Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N; khi
bàn giao tiền ông L có viết tay một giấy biên nhận tiền đặt cọc 200.000.000
đồng. Đến ngày 04/7/2015 ông cùng thợ lên kiểm kê phụ tùng xe mô tô tại cửa
hàng Yamaha 2S. Tại đây ông hỏi ông Nguyễn Trọng L về giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì được ông L đưa cho xem giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất bằng bản phô tô mang tên ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị L1, hiện
trú tại: Tổ dân phố E, phường F, thành phố I, tỉnh Điện Biên. Sau đó ông L, bà
N có yêu cầu ông trực tiếp gặp ông M, bà L1 để làm thủ tục chuyển nhượng và
sang tên giấy chứng quyền sử dụng đất tại UBND thị trấn D nhưng ông không
đồng ý và yêu cầu ông L, bà N có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng quyền
sử dụng đất theo hợp đồng đã ký cũng như có trách nhiệm liên hệ làm thủ tục
sang tên Cửa hàng G từ công ty TNHH Y Việt Nam cho ông, nhưng ông L, bà N
không thực hiện được. Nhiều lần ông đề nghị ông L, bà N chấm dứt hợp đồng và
trả số tiền 200.000.000 đồng nhưng ông L, bà N không đồng ý trả số tiền này.
Do đó, ông đã đề nghị UBND thị trấn D hòa giải việc tranh chấp nhưng không
thành. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Tuyên bố hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu
nhà và cửa hàng lập ngày 30/6/2015 vô hiệu toàn bộ về hình thức và nội dung.
2. Yêu cầu ông L, bà N trả số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng.
3. Bồi thường trả lãi tạm tính theo lãi suất tiền vay Ngân hàng: 22 tháng (từ
ngày 01/7/2015 đến 30/4/2017) x 9,5%/năm = 35.200.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 22/9/2017, nguyên đơn rút yêu cầu trả lãi.
Tại các biên bản ý kiến và quá trình tranh tụng bị đơn ông Nguyễn
Trọng L và bà Đặng Thị N trình bày:
Thửa đất trong hợp đồng chuyển nhượng là của gia đình ông, bà đã sử dụng
từ năm 2008 do bà L1, ông M nhượng lại cho gia đình sử dụng và ông, bà đã
xây dựng nhà ở ổn định từ năm 2008 cho đến nay. Do gia đình ông, bà chưa có
điều kiện cũng như không xác định định cư lâu dài ở huyện D nên không làm
thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông bà M - L1 sang tên chủ sở hữu
vợ chồng ông, bà. Khi ký kết Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng
3
đất và sở hữu nhà và cửa hàng lập ngày 30/6/2015, giữa hai bên thỏa thuận mua
bán tài sản trọn gói với giá 1.900.000.000 đồng bao gồm đất ở, nhà ở trên đất,
phụ tùng xe mô tô, đại lý G mà không làm hợp đồng mua riêng đối với từng tài
sản. Trước khi ký kết hợp đồng ngày 30/6/2015 gia đình ông, bà có xuất trình
cho ông Phạm Ngọc T xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên gia đình ông Nguyễn Văn M, bà
Nguyễn Thị L1) và bản hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Văn M, bà
Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn Trọng L lập ngày 29/6/2015, nội dung hợp đồng
ủy quyền là ông L có quyền quản lý, sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Sau khi ký kết Hợp đồng xong, ngày 04/7/2015 ông Phạm Ngọc T lên kiểm
kê hàng phụ tùng xe mô tô tồn kho và ông T bảo là phụ tùng xe mô tô ít nên đã
xin ông, bà giảm bớt số tiền mua bán xuống 200.000.000 đồng nhưng phía ông
chỉ đồng ý giảm số tiền 50.000.000 đồng cho ông T. Còn thủ tục sang tên cửa
hàng G theo điều khoản trong hợp đồng bị đơn chỉ có trách nhiệm bàn giao, giao
dịch của đại lý G với Công ty TNHH Y Việt Nam. Bị đơn có đơn đề nghị gửi
qua địa chỉ email cho quản lý vùng Tây Bắc của Công ty TNHH Y Việt Nam để
xin ý kiến làm thủ tục bàn giao lại cho ông Phạm Ngọc T để đảm bảo cho hợp
đồng chuyển nhượng theo nguyên tắc của bên chuyển nhượng và bên được
chuyển nhượng, đồng thời bị đơn cũng gửi nội dung đơn đề nghị qua địa chỉ
email cho ông T, nhưng do ông T không đồng ý thực hiện thủ tục đề nghị nên
quản lý vùng chưa có ý kiến hướng dẫn thủ tục. 10 ngày sau khi ký Hợp đồng
ông Thịnh không lên nhận bàn giao tài sản, chuyển số tiền 1.500.000.000 đồng
như điều khoản trong Hợp đồng. Vì vậy ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn yêu cầu gia đình ông trả lại 200.000.000 đồng tiền đặt cọc và lãi
suất 35.200.000 đồng. Về đại lý G, ngày 30/9/2016 bị đơn đã thanh lý hợp đồng
hợp tác kinh doanh với công ty TNHH Y Việt Nam, khi thanh lý hợp đồng ông
cũng không thông báo cho nguyên đơn được biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Vũ Thị T1 (là vợ của nguyên đơn) đề nghị bị đơn ông Nguyễn Trọng
L, bà Đặng Thị N trả lại cho bà và ông T số tiền 200.000.000 đồng đã đặt cọc.
+ Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1
trình bày: Gia đình bà đã cho gia đình em trai của bà là gia đình ông Nguyễn
Trọng L, bà Đặng Thị N được toàn quyền quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích
đất 141,4m
2
từ năm 2008, nhưng cho đến nay gia đình ông L, bà N chưa làm thủ
tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất theo quy định. Ngày 29/6/2015 ông
Nguyễn Văn M và bà đã có Hợp đồng ủy quyền toàn bộ cho ông Nguyễn Trọng
L được quyền tiến hành các thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Nên gia đình
bà không có ý kiến gì về việc mua bán này cũng như không có yêu cầu gì đối
với ông Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N.
Tại phiên tòa người làm chứng bà Vũ Thị H trình bày: Tại thời điểm ký
kết hợp đồng bà là người đi cùng nguyên đơn và cũng là người trực tiếp giao số
tiền 200.000.000 đồng cho ông L, bà N. Nhưng trước đó bà không biết giữa ông
4
L, bà N và ông T có trao đổi như thế nào về việc mua bán và khi hai bên ký kết
hợp đồng bà không được biết về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như
hợp đồng ủy quyền giữa ông M, bà L1 và ông L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D tại phiên tòa có ý kiến: Trong
quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa án
tuân theo pháp luật tố tụng. Về nội dung vụ án, đề nghị đình chỉ một phần khởi
kiện (yêu cầu trả lãi 35.200.000 đồng) do nguyên đơn rút đơn yêu cầu và những
người tham gia tố tụng khác đồng ý. Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu toàn bộ về nội dung và vô hiệu
toàn bộ về hình thức, ông , bà Nụ phải trả lại cho nguyên đơn 200.000.000 đồng.
Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2017/DS-ST ngày 22/9/2017 của Tòa
án nhân dân huyện D quyết định:
- Căn cứ khoản 2 Điều 122, Điều 127, Điều 134, khoản 1 Điều 136,khoản 2
Điều 137, Điều198, khoản 2 Điều 401, Điều 402, Điều 410, Điều 427, Điều 450,
khoản 2 Điều 689 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ các điểm a,b khoản 3, khoản 4 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đình chỉ về yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất đối với số tiền 35.200.000 đồng
theo khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do nguyên đơn rút
yêu cầu.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tuyên bố hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu
nhà và cửa hàng giữa ông Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Trọng L, bà Đặng Thị
N vô hiệu toàn bộ về nội dung và hình thức.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N liên đới trả số tiền
200.000.000 đồng cho nguyên đơn ông Phạm Ngọc T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự,
quyền kháng nghị theo quy định pháp luật.
Ngày 05/10/2017, bị đơn Nguyễn Trọng L kháng cáo yêu cầu sửa toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 22/9/2017 bác yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn với nội dung:
5
1. Về xác định mối quan hệ pháp luật của bản án.
Bản án xác định mối quan hệ pháp luật của vụ án là: V/v tranh chấp hợp
đồng dân sự mua bán tài sản”; đây là sự xác định sai mối quan hệ pháp luật của
bản án dẫn đến việc tại “Mục 3.1. Về hình thức của hợp đồng” của bản án đã
nhận định sai về nội dung của vụ án dẫn đến việc bản án đã vi phạm nghiêm
trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Về bản chất đúng của vụ việc thì phải xác định đây là tranh chấp về “Việc
đặt cọc” của giao dịch mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu
nhà và cửa hàng; các hành vi của việc đặt cọc đã thỏa mãn các quy định của
pháp luật và thỏa mãn đầy đủ các diễn biến khách quan của sự việc như có khởi
đầu, có diễn biến và có kết thúc của việc đặt cọc.
Còn xác định mối quan hệ pháp luật của vụ án này là tranh chấp hợp đồng
dân sự mua bán tài sản là không đúng vì nó không thỏa mãn tất cả các quy định
của pháp luật cũng như diễn biến khách quan của sự việc vì nó mới có khởi đầu,
chưa có diễn biến và đặc biệt chưa có kết thúc của sự việc; hai bên A và B mới
tiến hành ký kết các thỏa thuận và tiến hành việc đặt cọc để bảo đảm quyền và
nghĩa vụ của các bên chứ hai bên chưa giao nhận tiền, tài sản của thỏa thuận,
chưa đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (ở đây là UBND thị trấn D) để làm
hợp đồng mua bán động sản và bất động sản theo quy định của pháp luật; hai
bên cũng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ các tài sản nói trên để kết thúc hợp
đồng mua bán.
Vì vậy, việc Tòa án xác định không đúng mối quan hệ pháp luật của vụ án
dẫn đến việc giải quyết sai nội vụ án; đúng luật khi ông Thịnh khởi kiện yêu cầu
Tòa án “Tuyên bố hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở
hữu nhà ở và cửa hàng lập ngày 30/6/2015 vô hiệu toàn bộ về hình thức và nội
dung” thì Tòa án phải đình chỉ yêu cầu này theo quy định tại điểm b khoản 1
Điều 192/BLTTDS năm 2015 vì thực tế hợp đồng này chưa có và chưa đến giai
đoạn được xác lập tại cơ quan có thẩm quyền thì lấy đâu ra hình thức và nội
dung để mà Tòa án tuyên vô hiệu.
2. Về hình thức của Hợp đồng đặt cọc.
Hình thức của giao dịch đặt cọc được quy định tại khoản 1 Điều 358/BLDS
năm 2005 quy định về hình thức của việc đặt cọc là “Việc đặt cọc phải được lập
thành văn bản”; theo quy định này thì việc đặt cọc không bắt buộc phải có công
chứng chứng thực mà việc đặt cọc chỉ cần được thể hiện bằng văn bản dưới bất
kỳ một dạng văn bản nào như giấy biên nhận, hợp đồng, xác nhận, cam kết…
Tại điểm c khoản 1 Điều 138/BLDS năm 2005 thì việc đặt cọc là “Biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” cho nên mục đích của việc đặt cọc là
nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của các bên khi tham gia giao
dịch dân sự, việc đặt cọc có thể được thực hiện trong hợp đồng chính hoặc cũng
có thể được thể hiện dưới dạng hợp đồng phụ hoặc được thể hiện dưới dạng hợp
6
đồng độc lập để buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình; bên nào
vi phạm việc không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bị phạt cọc.
3. Về nội dung của việc đặt cọc.
Quá trình đặt cọc được gắn liền và tồn tại song song với việc thực hiện
nghĩa vụ của các bên và có thể chia ra làm 03 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn một: Là giai đoạn tiến hành việc đặt cọc.
Giai đoạn này hai bên đã thực hiện xong thể hiện thông qua việc vợ chồng
ông bà L, N và ông bà T, T1 đã thỏa thuận thành công giá chuyển nhượng, số
lượng tài sản chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên; tiến hành việc đặt
cọc để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của hai bên cho các thỏa thuận nói
trên. Số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng tiền VNĐ (hai trăm triệu đồng) đã
được giao nhận thành công vào ngày 30/6/2015; kể từ thời điểm này bên nào vi
phạm nghĩa vụ của mình trong các thỏa thuận nói trên thì đều phải bị phạt cọc
bằng số tiền đã đặt cọc.
- Giai đoạn hai: Là giai đoạn được thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều
I và khoản 3 Điều II của thỏa thuận “Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và sở hữu nhà và cửa hàng ngày 30/6/2015” là sau 10 ngày kể từ ngày
ký thỏa thuận và giao nhận tiền đặt cọc; tức là ngày 11/7/2015 ông bà T, T1 phải
đến nhà ông bà L, N để nhận bàn giao toàn bộ số tài sản mà hai bên đã thỏa thuận
chuyển nhượng theo quy định trong thỏa thuận và ông bà T T1 phải chuyển cho
vợ chồng ông bà L, N số tiền là 1.500.000.000 đồng tiền VNĐ (một tỷ năm trăm
triệu đồng); nhưng đến ngày đó ông bà T, T1 không lên nhà ông bà L N để nhận
bàn giao những tài sản như đã thỏa thuận mà không có lý do chính đáng; ông bà
T, T1 cũng không chuyển cho vợ chồng ông bà L, N số tiền 1.500.000.000 đồng
tiền VNĐ như đã thỏa thuận; việc ông bà T, T1 không thực hiện nghĩa vụ của
mình theo như cam kết trong thỏa thuận dẫn đến việc “Hợp đồng mua bán chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà và cửa hàng” không thực hiện. Vì vậy
ông bà T, T1 đã vi phạm việc không thực hiện nghĩa vụ của mình như đã cam kết
trong thỏa thuận; cho nên ông bà T, T1 phải bị phạt cọc với số tiền mà ông bà T,
T1 đã đặt cọc cho ông bà L N là 200.000.000 đồng.
Thời điểm phát sinh việc phạt cọc và chấm dứt các cam kết trong thỏa
thuận “Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà và
cửa hàng ngày 30/6/2015” là ngày 12/7/2015. Kể từ thời điểm này số tiền đặt
cọc của ông T đã thuộc về ông bà L, N, cùng với đó là quá trình đặt cọc cũng
như các cam kết trong thỏa thuận được kết thúc vì một bên là bên ông T đã vi
phạm.
- Giai đoạn ba (đây là giai đoạn chỉ tồn tại về mặt lý thuyết, còn trong thực
tế của thỏa thuận “Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở
hữu nhà và cửa hàng ngày 30/6/2015” đã không được diễn ra): Là giai đoạn
được thực hiện kể từ khi kết thúc giai đoạn hai tức là khi ông bà T, T1 nhận bàn
giao xong toàn bộ số tài sản theo thỏa thuận trong “Hợp đồng” cũng như vợ
7
chồng ông bà L, N nhận đủ số tiền 1.500.000.000 đồng; vợ chồng ông bà L, N
và ông bà T, T1 phải đến UBND thị trấn D để xác lập “Hợp đồng mua bán
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà và cửa hàng”. Việc xác lập này
có quy định các trình tự thủ tục đầy đủ, đúng luật; sau khi cùng với cơ quan có
thẩm quyền tiến hành xác lập xong Hợp đồng theo quy định của Luật đất đai và
Bộ luật Dân sự; vợ chồng ông bà L, N phải có nghĩa vụ làm thủ tục sang tên các
tài sản như trong cam kết cho ông bà T, T1; nếu vợ chồng ông bà L, N đã vi
phạm các cam kết trong thỏa thuận thì phải chịu số tiền phạt cọc là 200.000.000
đồng theo quy định của pháp luật dân sự.
Từ những phân tích ở trên bị đơn khẳng định vợ chồng ông bà T, T1 đã
không thực hiện nghĩa vụ của mình như cam kết vì vậy ông bà T, T1 phải chịu số
tiền phạt cọc là 200.000.000 đồng mà ông bà T, T1 đã đặt cọc cho ông bà L, N.
4. Về yêu cầu khởi kiện thứ 3 của ông T.
Về yêu cầu khởi kiện này của ông T không được Tòa án chấp nhận thì Tòa
án phải căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và
khoản 1 Điều 147/BLTTDS năm 2015 buộc ông T phải chịu án phí không giá
ngạch cho yêu cầu này.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết những việc sau đây: Sửa toàn bộ
Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2017/DSST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án
nhân dân huyện D, tỉnh Điện Biên theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của ông T
theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn và là người kháng cáo rút một phần nội yêu cầu kháng cáo về việc
“Tòa án phải căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 và khoản 1 Điều 147/BLTTDS năm 2015 buộc ông T
phải chịu án phí không giá ngạch cho yêu cầu không được Tòa án chấp nhận”.
- Các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp
như sau : Ông Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N thực hiện phạt cọc đối với
ông Phạm Ngọc T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ông Nguyễn
Trọng L và bà Đặng Thị N có trách nhiệm hoàn trả cho ông Phạm Ngọc T số
tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Thời gian hoàn trả chậm nhất là
ngày 18/01/2018. Ông Phạm Ngọc T tự nguyện chịu 10.000.000 đồng tiền án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Trọng L tự nguyện
chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên phát biểu ý kiến tại
phiên tòa phúc thẩm:
Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử
đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Tại phiên
tòa, các đương sự tự thỏa thuận giải quyết tranh chấp. Sự thỏa thuận là tự
8
nguyện không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định pháp luật. Đề nghị hội
đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308/BLTTDS: Sửa bản
án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về áp dụng pháp luật:
- Cấp sơ thẩm căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Thụ lý, thu
thập chứng cứ, tiến hành xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ngày 05/10/2017, bị đơn Nguyễn Trọng L kháng cáo yêu cầu sửa toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DSST ngày 22/9/2017 nằm trong hạn luật
định, kháng cáo những nội dung trong bản án sơ thẩm nên được chấp nhận về
hình thức kháng cáo.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
[2.1] Về nội dung cấp sơ thẩm không buộc nguyên đơn ông Phạm Ngọc T
chịu án phí về nội dung khởi kiện không được chấp nhận:
Tại phiên tòa người kháng cáo rút yêu cầu này. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại
đơn khởi kiện ngày ngày 08/5/2017 của ông Phạm Ngọc T ông yêu cầu Tòa án
xem xét bốn nội dung. Căn cứ vào Thông báo thụ lý vụ án số 02/TB-TLVA ngày
16/5/2017, Tòa án huyện D đã thụ lý ba nội dung: (Tuyên bố hợp đồng mua bán,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà và cửa hàng lập ngày 30/6/2015
vô hiệu toàn bộ về hình thức và nội dung; Yêu cầu ông L, bà N trả số tiền đặt cọc
200.000.000đồng; Bồi thường trả lãi tạm tính theo lãi suất tiền vay Ngân hàng: 22
tháng (từ ngày 01/7/2015 đến 30/4/2017) x 9,5%/năm = 35.200.000 đồng). Tòa án
cấp sơ thẩm không thụ lý giải quyết (yêu cầu xem xét trách nhiệm của ông L, bà
N có dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản) trong cùng vụ kiện này. Vì vậy hội
đồng xét xử phúc thẩm không xét kháng cáo về nội dung này.
[2.2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các đương sự tự nguyện thỏa thuận
giải quyết tranh chấp. Ông Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N thực hiện phạt
cọc đối với ông Phạm Ngọc T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Ông Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N có trách nhiệm hoàn trả cho ông Phạm
Ngọc T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Thời gian hoàn trả
chậm nhất là ngày 18/01/2018.
Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận là tự nguyện không trái đạo đức và
pháp luật, chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Căn cứ vào vào điều 300,
khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự.
9
[3] Về án phí: Ông Phạm Ngọc T tự nguyện chịu 10.000.000 đồng tiền án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Ông Nguyễn Trọng L tự nguyện chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm. Căn cứ vào điều 147, 148 BLTTDS; các điều 26
và 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng các điều 147, 148, 300, khoản 2 Điều 308/BLTTDS; các điều
26 và 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
Sửa bản án sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân
dân huyện D, tỉnh Điện Biên. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như
sau: Ông Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N thực hiện phạt cọc đối với ông
Phạm Ngọc T với số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ông
Nguyễn Trọng L và bà Đặng Thị N có trách nhiệm hoàn trả cho ông Phạm Ngọc
T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Thời gian hoàn trả chậm nhất
là ngày 18/01/2018.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Ngọc T chịu 10.000.000 đồng
(Mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, nhưng được khấu trừ
5.880.000 đồng số tiền tạm ứng án phí ông Phạm Ngọc T đã nộp theo biên lai số
AA/2010/00625 ngày 16/5/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D, tỉnh
Điện Biên. Ông T còn phải thi hành tiếp 4.120.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai
mươi nghìn đồng).
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Trọng L phải chịu 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
số: AA/2010/00629 ngày 05/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D.
Ông L đã thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
10
Án phúc thẩm công khai. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án (Ngày 09/01/2018).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- TAND H. D;
- Chi cục THADS huyện D;
- Các đương sự;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Quàng Văn Liêm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thu Hằng
Lò Thị Xuyến
Quàng Văn Liêm
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 28/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm