Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2025/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Chi Lăng (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 02/2025/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/01/2025
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 28 tháng 9 năm 2024, Tổ công tác gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 20-01-2025
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Hương Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Nguyên;
Bà Vi Thị Ngọc Ánh.
- Tphiên tòa: Vy Thị Mai Hương - Thư Tòa án nhân dân huyện
Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: ông Lành Đức Thảo, ông Vi Thế C - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng
Sơn xét xsơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: điểm
cầu trung tâm phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn gồm
Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án và điểm cầu thành phần Trại tạm
giam ng an tỉnh L gồm bị cáo, Kiểm sát viên, Thư ký, cán bộ chiến sỹ thuộc
sở giam giữ đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS, ngày 26
tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-
HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Tô Anh Q, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1968 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi
đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn;
nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn
giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô L và bà Nguyễn Thị Minh H (đều
đã chết); vợ: Phạm Thị Bích V; con: 02 con (sinh năm 1988, sinh năm 1995);
tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày
19/6/1995 của Công an huyện C xử phạt số tiền 50.000 đồng về hành vi gây rối
trật tự công cộng; bị tạm giam từ ngày 29 tháng 9 năm 2024 đến nay; có mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vliên quan đến vụ án: anh Hoàng Văn S, sinh
năm 1996, đơn vị công tác: Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện C,
tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1, Anh Trịnh Xuân Q1; vắng mặt.
2
2, A Vi Văn C1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 28 tháng 9 năm 2024, Tổ công tác gồm: Thiếu
Đặng Tuấn P, Thượng úy Trịnh Xuân Q1 và Trung úy Hoàng Văn S thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra nồng độ cồn tại Km 160+500 Quốc lộ B, thuộc thôn Làng
Nong, T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn dừng xe ô biển số 12K- 1503 do anh
Vi Văn C1 điều khiển, ngồi ghế phụ bị cáo A Quyền đang di chuyển theo
hướng Đ - V.
Sau khi anh Đặng Tuấn P ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn, anh
Vi Văn C1 dừng xe theo hiệu lệnh xuống xe. Anh Đặng Tuấn P, anh Hoàng
Văn S đi về phía xe ô tô để thực hiện kiểm tra nồng độ cồn đối với lái xe. Lúc này
bị cáo nhìn thấy anh Đặng Tuấn P và anh Hoàng Văn S là người quen nên xuống
xe, đi đến vị trí họ đang làm việc với anh Vi Văn C1.
Khi anh Hoàng Văn S yêu cầu lái xe thổi nồng độ cồn thì bị cáo A Quyền
nói với anh Hoàng Văn S tao uống rượu rồi, mày kiểm tra tao đây này”, anh
Hoàng Văn S nói chú không phải lái xe nên cháu không kiểm tra chú”, đồng thời
anh Hoàng Văn S, anh Đặng Tuấn P yêu cầu bị cáo Tô Anh Q đi ra ngoài để Tổ
công tác làm nhiệm vụ nhưng bị cáo không đi, tiếp tục to tiếng chửi anh Hoàng
Văn S, anh Hoàng Văn S xưng hô “mày, tao” với Tô Anh Q.
Sau khi được mọi người can ngăn dẫn bị cáo Tô A Quyền ra gần vị trí đầu
xe ô biển số 12K-1503 thì bị cáo A Quyền quay lại đi về phía của anh Hoàng
Văn S đang đứng, anh Hoàng Văn S cũng tiến lại gần phía bị o, lúc này bị cáo
A Quyền dùng chân phải đá một phát trúng phần bụng ngang thắt lưng anh
Hoàng Văn S, anh Hoàng Văn S vung tay phải về phía bị cáo (không xác định
được vị trí đánh tng), khiến bị cáo nxuống mặt đường. Bị cáo Anh Q đứng
dậy tiếp tục tiến đến dùng chân phải đá 01 phát về phía người anh Hoàng Văn S
nhưng không trúng, bị cáo Tô Anh Q cầm chóp nón cảnh báo giao thông đang đặt
dưới đường ném vào đầu xe ô chuyên dụng biển số 12A-003.21 của Tổ công
tác tiếp tục chửi anh Hoàng Văn S, dùng tay phải đấm vào mắt trái của anh
Hoàng Văn S khiến anh bị thương vùng mắt trái. Khi lực lượng Công an T,
huyện C đến hỗ trợ, Tổ công tác đã phối hợp với Công an T quật ngã, khống
chế đưa bị cáo A Quyền về trụ sở Công an xã T lập biên bản sự việc. Tiến
hành kiểm tra được nồng độ cồn đối với Vi Văn C1, kết quả trong hơi thở của Vi
Văn C1 không nồng độ cồn; không tiến hành kiểm tra được nồng độ cồn đối
với Tô Anh Q do bị cáo không đồng ý cho kiểm tra.
Tại Kết luận giám định số 990/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của phòng K
Công an tỉnh L, kết luận: 03 tập tin video thu trên máy điện thoại của Trịnh Xuân
Q1 và đầu thu Camera của Công an xã T không phát hiện cắt ghép, chỉnh sửa.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số
407/KLTTCT-TTPY ngày 12/11/2024 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh L, kết
3
luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tô A Quyền tại thời điểm giám định 9%, cơ
chế hình thành thương tích: do vật tày gây nên.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số
386/KLTTCT-TTPY ngày 12/11/2024 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh L, kết
luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hoàng Văn S tại thời điểm giám định là 0%, cơ
chế hình thành thương tích: không xác định được do tổn thương đã hồi phục hoàn
toàn.
Tại Công văn số 117/CAH ngày 19/01/2025 của Công an huyện C về việc
phối hợp cung cấp thông tin giải quyết vụ án: ngày 28/9/2024, trong khi thực hiện
nhiệm vụ Trung uý Hoàng Văn S đã có lời nói, xưng hô không đúng chuẩn mực
khi tiếp xúc, giải quyết công việc với nhân dân (xưng hô mày tao với Tô Anh Q)
đã vi phạm quy định vquy tắc ứng xử của cán bộ, chiến Công an nhân dân;
Công an huyện đã họp xét xử đồng chí Hoàng Văn S bằng hình thức: Hạ
một bậc danh hiệu thi đua năm.
Đối với thương tích của Anh Q: Anh Q khai do quá trình Tổ công
tác khống chế (vật, tỳ, đè) gây nên; các video thu gikhông phản ánh A Quyền
bị người khác đánh gây thương tích hoặc bị anh Hoàng Văn S đánh vào bộ phận
nào trên thể, do vậy không đủ sở để xác định A Quyền bị người khác
đánh gây thương tích Anh Q cũng không ý kiến gì về những thương tích
này.
Đối với hành vi Anh Q cầm chóp nón cảnh báo giao thông đang đặt dưới
đường ném vào đầu xe ô tô chuyên dụng biển số 12A-003.21 của Tổ công tác: tại
Biên bản khám phương tiện xe ô chuyên dụng biển số 12A-003.21 ngày
30/8/2024 thể hiện: Xe ô tô biển số 124-003.21 nhiều vết mài, trượt sạch bụi
tại góc bên trái tấm cản gió phía trước đầu xe góc bên trái ba đsóc đầu xe,
ngoài ra không phát hiện dấu vết gì thêm. Nên không có căn cứ xử lý Anh Q
về hành vi khác.
Cáo trạng số: 03/CT-VKSLS-P2 ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo A Quyền về tội Chống người thi
hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Anh Q khẳng định bị truy tố về tội Chống người
thi hành công vụ là đúng, không oan sai. Ngày 28/9/2024, do bị cáo đã uống rượu
trước đó và khi gặp các đồng chí cảnh sát đã không giữ được bình tĩnh nên đã có
hành vi, lời nói chống đối, cản trở đồng chí Hoàng Văn S thực hiện nhiệm vụ.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoàng Văn S vắng
mặt, nhưng trong hồ đã lời khai tại quan điều tra thể hiện: ngày
28/9/2024, tổ công tác đang được giao nhiệm tuần tra kiểm soát bảo đảm trật tự
an toàn giao thông từ 22 giơ
̀
00 phu
́
t đến 02 giơ
̀
00 phu
́
t tại Km 160+500 Quốc lộ
B. Khoảng 22 giơ
̀
50 phu
́
t cùng ngày, khi bị tổ công tác dừng xe ô biển số 12K-
1503 do Vi Văn C1 điều khiển để kiểm tra nồng độ cồn, ngồi ghế phụ A
Quyền xuống xe lời nói xúc phạm, hành vi cản trở không cho anh thực hiện
kiểm tra nồng độ cồn với lái xe. Do bị xúc phạm nên anh đã không giữ được bình
tĩnh và có phát ngôn không chuẩn mực đối với bcáo, bị cáo hành vi cản trở,
4
chống người thi hành công vụ nên anh cùng các đồng chí Công an T khống chế
bị cáo đưa về trụ sở làm việc.
Người làm chứng anh Trịnh Xuân Q1 vắng mặt, nhưng trong hồ đã
lời khai tại quan điều tra thể hiện: ngày 28/9/2024, anh là thành viên tổ công
tác nhiệm vhỗ trợ tuần tra kiểm soát, sử dụng camera, ghi nhật ký. Khoảng
22 giơ
̀
50 phu
́
t cùng ngày, khi bị tổ công tác dừng xe ô biển số 12K- 1503 do
Vi Văn C1 điều khiển để kiểm tra nồng độ cồn thì Anh Q (ngồi ghế phụ)
hành dùng lời nói, hành động cản trở việc thực hiện nhiệm vụ nên anh đã sử dụng
camera quay lại hành vi Tô Anh Quyền chống người thi hành công vụ.
Người làm chứng ông Vi Văn C1 vắng mặt, nhưng trong hồ đã lời
khai tại quan điều tra thể hiện: ngày 28/9/2024, ông lái xe ô tô biển số 12K-
1503 chở Anh Q đi đến H, khi đi đến gần Ủy ban nhân dân T tgặp
chốt giao thông đang làm nhiệm vụ, ông lái xe chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát
giao thông. Khi ông xuống xe, chấp hành việc kiểm tra nồng độ cồn thì A
Quyền nói chuyện với các đồng chí cảnh sát giao thông không cho ông thổi
nồng độ cồn, sau đó A Quyền hành động chống người thi hành công vụ,
ông có can ngăn nhưng không được. Khi Công an xã T đến hỗ trợ khống chế
Anh Q thì kết thúc sự việc.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về
hành vi phạm tội đối với bị cáo, sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của
hành vi phạm tội bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị
cáo A Quyền phạm tội Chống người thi hành công vụ. Căn cứ vào khoản 1
Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự,
xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng cho hưởng án treo, ấn định thời gian
thử thách.
Bị cáo không ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đnghị
Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hvụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết
định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án, người làm chứng vắng mặt đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong hồ
vụ án đã đầy đủ lời khai tại quan điều tra, xét thấy, việc vắng mặt của
những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xnên Hội đồng xét xử quyết
5
định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản
1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng nh sự.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều
tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên toà, thể hiện: khoảng 22 giờ 50 phút ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại
Km 160+500 Quốc lộ B, thuộc thôn Làng Nong, T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn,
bị cáo Anh Q đã hành vi dùng chân, tay đánh anh Hoàng Văn S cán bộ
thuộc đội Cảnh sát giao thông, Trật tCông an huyện C khi đang thực hiện nhiệm
vụ nhằm cản trở việc đo nồng độ cồn của anh Hoàng n S đối với lái xe ô tô là
anh Vi Văn C1. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ
một phần lỗi của anh Hoàng Văn S trong khi thực hiện nhiệm vụ do không giữ
được bình tĩnh đã có lời nói không chuẩn mực dẫn đến bị cáo bức xúc nên đã xảy
ra sự việc, bản thân anh Hoàng Văn S cũng đã bị Công an huyện C xphạt vi
phạm về hành vi trên.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo ng vũ lực, lời nói cản trở người thi hành
công vụ thực hiện nhiệm vụ, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường, đúng
đắn của quan Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại
địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được
hành vi cản trở người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố
ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ để kết luận
bị cáo Tô A Quyền phạm tội Chống người thi hành công vụ theo quy định khoản
1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 03/CT-VKSCL ngày 24 tháng 12 năm
2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo đu
́
ng người, đu
́
ng
tội và đu
́
ng quy định pháp luật.
[5] Về nhân thân: bị cáo không tiền án, tiền sự, nhân thân như đã nêu
tại phần đầu Bản án. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội
của mình; bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến thắng hạng
nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy
định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng
nặng không có.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Anh Q đã
thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội nhưng thuộc loại tội phạm ít nghiêm
trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự; nơi tru
́
ràng, trước khi phạm tội chấp hành tốt chính sách của Đảng
pháp luật của Nhà nước tại địa phương nơi trú. Do vậy, bị cáo đủ điều
kiện cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết s02/2018/NQ-HĐTP
ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên việc cách ly bị cáo ra ngoài xã
hội không cần thiết quyết định cho bị cáo được hưởng án treo ấn định
thời gian thử thách theo quy định.
[7] Vấn đề khác:
6
[7.1] Đối với thương tích của bị cáo không đủ cơ sở để xác định bị cáo
A Quyền bị người khác đánh gây thương tích bị cáo cũng không có ý kiến
về những thương tích này do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[7.2] Đối với hành vi Anh Q cầm chóp nón cảnh báo giao thông đang
đặt dưới đường ném vào đầu xe ô chuyên dụng biển số 12A-003.21 của Tổ
công tác, tại Biên bản khám phương tiện xe ô tô chuyên dụng thể hiện xe ô tô có
nhiều vết mài, trượt sạch bụi tại góc bên trái tấm cản gió phía trước đầu xe góc
bên trái ba đờ sóc đầu xe, ngoài ra không phát hiện dấu vết thêm. Nên không
có căn cứ xử lý Tô Anh Q về hành vi khác.
[8] Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh,
hình phạt đối với bị cáo Tô Anh Q là có căn cứ.
[9] Về án phí: bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định pháp luật.
[10 Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình
sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50;
Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 260, khoản 4 Điều 328, Điều 331, Điều
333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Anh Q phạm tội Chống người thi hành
công vụ.
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Anh Q 01 (một) năm cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án thẩm ngày 20
tháng 01 năm 2025.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo trách nhiệm phối hợp
với Ủy ban nhân dân thị trấn Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình s02 lần trở lên thì Tòa án thể
quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng
án treo. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi trú, thay đổi
nơi trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự
năm 2019.
7
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu bị cáo không
bị tạm giam về một tội phạm khác.
3. Về án phí: bị cáo A Quyền phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo mặt quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng;
- Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng;
- Cơ quan THA hình sự Công an huyện Chi Lăng;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng;
- UBND thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- Thi hành án hình sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
à KÝ)
Trương Thị Hương Giang
Tải về
Bản án số 02/2025/HS-ST Bản án số 02/2025/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2025/HS-ST Bản án số 02/2025/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất