Bản án số 02/2024/DSST-TCHĐ ngày 10/07/2024 của TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2024/DSST-TCHĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 02/2024/DSST-TCHĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2024/DSST-TCHĐ
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2024/DSST-TCHĐ ngày 10/07/2024 của TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tân Lạc (TAND tỉnh Hòa Bình) |
| Số hiệu: | 02/2024/DSST-TCHĐ |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Phạm Quang H và gia đình đã chuyển nhượng cho Nguyễn Tiến D phần nhà đất đã có GCNQSD; tiền đã giao xong, tài sản đã nhận nhưng Phạm Quang H không làm thủ tục sang tên tại Văn phòng ĐKQSD mà gây khó khăn nên Nguyễn Tiến D đã khởi kiện |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC – TỈNH HÒA BÌNH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đình Dũng;
Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Liên và bà Bùi Thị Khánh;
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Tăng Thị Hồng;
Với sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình:
Bà Bùi Thị Nhạn, Kiểm sát viên
Ngày 10/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình mở
phiên toà công khai, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 12A/2023/TLST-DS
ngày 11/12/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-DS
ngày 21/02/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 02/2024/QĐST-DS ngày
11/3/2024 giữa các đương sự sau:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1983; Địa chỉ: Xóm X, xã T,
huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1981; Trú tại: Khu đô thị V,
phường P, quận Hà Đông, Hà Nội. Nghề nghiệp và Đơn vị công tác: Lái xe, trung
tâm y tế huyện C, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng
mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Mẹ đẻ và các em của ông Nguyễn
Quang H): 3.1 Cụ Hoàng Thị L, sinh năm 1945 và bà Phạm Thị H, sinh năm
1985. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1988. Cùng cư trú: Khu V, Phưòng P, quận Hà
Đông, thành phố Hà Nội.
3.4 Bà: Ngô Thị Ánh Ng, sinh năm 1987;
Trú tại: Xóm x, xã T, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện và quá trình cung cấp chứng cứ, Nguyên đơn ông
Nguyễn Tiến D cho rằng:
Gia đình bố mẹ ông và gia đình ông bà Phạm Minh T - Hoàng Thị L, có con
Phạm Quang H là hàng xóm liền kề, đã làm ăn sinh sống với nhau từ lâu. Do nhu
cầu chuyển đi nơi khác sinh sống, cần chuyển nhượng phần nhà đất sát nhà ông
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HÒA BÌNH
-----------------------
Số: 02/2024/DSST
Ngày: 10/7/2024
V/v: Công nhận hiệu lực của Hợp
đồng chuyển nhượng Quyền Sử
Dụng Đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-----------------------------------------
và sau khi thống nhất nên ngày 17/7/2022, vợ chồng ông đồng ý mua mảnh đất
nhà bà Hoàng Thị L. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ) số H 00406 do Uỷ ban nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình cấp
ngày 11/06/2008 mang tên ông Phạm Minh T (Chồng bà L) và Phạm Quang H
(Con trai bà L) với diện tích 53,5m2; Giữa nhà ông và nhà bà L đã thống nhất
thoả thuận việc mua bán với giá bán tại thời điểm là 650.000.000đ (Sáu trăm năm
mươi triệu đồng) và gia đình đã đặt cọc cho nhà bà L tức nhà Phạm Quang H số
tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Số tiền còn lại hai nhà thoả thuận khi
nhà Phạm Quang H đưa cho nhà ông giấy khai tử của ông Phạm Minh T để nhà
ông làm thủ tục sang tên chuyển chủ thì sẽ trả nốt. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền
đặt cọc thì nhà Phạm Quang H lật keo và đòi thêm 100.000.000đ (Một trăm triệu
đồng) nữa mới bán vì lý do: Lúc mua bán không có mặt cô con gái thứ hai là Phạm
Thị H và H không đồng ý bán giá 650.000.000đ (Sáu trăm năm mươi triệu đồng)
mà phải là giá 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng).
Sau khi thoả thuận, gia đình nhà ông chấp nhận đưa thêm cho nhà Phạm Quang
H 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Ngày 14/11/2022, gia đình nhà ông và gia
đình nhà H gồm: Bà Hoàng Thị L, ông Phạm Quang H, bà Phạm Thị H và bà
Phạm Thị H có lên UBND xã T làm hợp đồng mua bán và giao nốt số tiền
250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) nhưng vì chưa làm xong thủ tục
nhận thừa kế từ ông Phạm Minh T nên UBND xã T, huyện Tân Lạc mới chỉ làm
cho hai bên Hợp đồng đặt cọc và trong hợp đồng đặt cọc có nêu rõ: Gia đình ông
đã giao đủ số tiền chuyển nhượng mảnh đất là 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi
triệu đồng) và gia đình nhà ông Phạm Quang H có trách nhiệm trong vòng 21
ngày sẽ giao GCNQSDĐ khi hoàn tất thủ tục phân chia di sản thừa kế đồng thời
gia đình ông H phải có trách nhiệm ký hợp đồng chuyển nhượng tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền khi có yêu cầu từ gia đình ông và gia đình ông H có trách
nhiệm nộp các khoản thuế phát sinh trong giao dịch như thuế đất, thuế chuyển
nhượng …mà gia đình ông không phải chịu bất cứ khoản nào. Trong hợp đồng
cũng nêu rõ: Nếu như bên mua không mua sẽ mất toàn bộ tiền cọc và nếu bên bán
không bán sẽ phải trả toàn bộ tiền cọc và phải chịu phạt cọc trả cho gia đình ông
một khoản tiền bằng tiền nhà ông đã đặt cọc. Hợp đồng lập xong được đọc lại cho
hai bên gia đình cùng nghe và thống nhất thông qua; Các thành viên hai bên gia
đình đã ký tên, người có thẩm quyền của Uỷ ban cũng đã ký tên đóng dấu và giao
cho mỗi bên giữ 01 bản Hợp đồng. Cũng ngay sau khi thoả thuận và ký xong hợp
đồng, bên ông H đã nhận đủ tiền thì gia đình ông H có Giao GCNQSDĐ mang
tên ông Phạm Minh T và Phạm Quang H, giao chìa khoá nhà đồng thời uỷ quyền
cho bố ông là Nguyễn Hữu N đi thực hiện các giao dịch có liên quan đến việc
hoàn thiện các thủ tục phân chia di sản thừa kế và các giao dịch khác để chuyển
nhượng quyền sử dụng tài sản là nhà đất trên cho Phạm Quang H và H sẽ có trách
nhiệm làm thủ tục chuyển QSDĐ sang cho ông. Tuy nhiên trong quá trình làm
các thủ tục phân chia di sản thừa kế có phát sinh việc nhà ông H vay tiền ngân
hàng chưa xoá thế chấp thì gia đình tôi có gọi điện cho ông H về làm thủ tục xoả
thế chấp thì ông H không về khiến nhà tôi phải ra tận nhà ông H để lấy chữ ký
của ông H. Sau khi hoàn thiện các thủ tục phân chia di sản thừa kế, phần tài sản
chung trước đây của gia đình ông H đã chuyển sang tên ông Phạm Quang
H(GCNQSDĐ bản chính gia đình ông đang cầm) thì chúng tôi có liên lạc và đề
nghị ông H về hoàn tất thủ tục chuyển nhượng QSDĐ từ ông H sang cho ông như
cam kết trước đây giữa hai gia đình đã được UBND xã T xác nhận nhưng ông H
cứ khất lần, khiến ông phải ra tận nhà ông H; ông H vẫn đồng ý thực hiện cam kết
chuyển nhượng QSDĐ sang cho ông và còn cam kết sẽ về làm thủ tục với cơ quan
chức năng khi cần. Tuy nhiên, liên lạc và tìm gặp rất nhiều: H không nghe máy
và cố tình trốn tránh. Không những thế H còn nhắn tin vòi vĩnh đòi thêm tiền mới
làm thủ tục; Ông cũng đã nhân nhượng cho H vài lần nhưng H liên tục gây khó
dễ, lươn lẹo, thất hứa…. Để thực hiền quyền đối với thửa đất, ông Nguyễn Tiến
D có đơn đề nghị Toà giải quyết buộc ông Phạm Quang H và bà Hoàng Thị L, chị
Phạm Thị H và chị Phạm Thị H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
nhà đất tại xóm X, xã T, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình và hoàn tất thủ tục chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông theo đúng quy định cuat pháp luật.
2/ Quá trình cung cấp chứng cứ, bị đơn ông Phạm Quang H cùng những người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị L, Phạm Thị H, Phạm Thị H đưa ra
quan điểm:
Phần gia đình ông đã chấp nhận bán và đã nhận đủ tiền bán nhà đất đồng thời
cũng đã giao tài sản trên đất là nhà và các công trình, cây cối trên đất cho phía gia
đình nhà ông D từ lâu; Gia đình nhà ông cũng đã uỷ quyền cho ông N là bố ông
D hoàn thành thủ tục phân chia di sản thừa kế trong gia đình để ông được nhận
toàn bộ thừa kế quyền sử dụng đất đối với phần đất mang tên hai đồng sở hữu là
bố ông Phạm Minh T và ông Phạm Quang H và ông được nhận toàn bộ tài sản là
quyền sử dụng đất của ông T để lại cho hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của
pháp luật; Hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất trong gia
đình ông đã hoàn thành và ông đã là người đứng tên trên GCNQSDĐ ở phần nhà
đất trước đây của gia đình mang tên bố ông và ông. Ông và gia đình ông không
tranh chấp gì với gia đình nhà ông D mà chỉ là phần hoàn thành nốt thủ tục theo
hợp đồng nhằm chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Phạm Quang H sang
cho Nguyễn Tiến D. Do gia đình đã chuyển xuống Hà Nội và ở địa chỉ mới nên
giấy báo và triệu tập rất khó có thể đến đúng địa chỉ; ông cũng báo cho những
người có quyền và lợi ích liên quan là bà L, H1 và H2 nhưng những người này
phần ốm đau, bệnh tật, phần quá bận không thể đến toà giải quyết được nên uỷ
quyền miệng cho ông. Cụ thể: Ý kiến của ông cũng là ý kiến đại diện cho những
người này và gia đình nhà ông vẫn đồng ý chuyển nhượng cho Nguyễn Tiến D
phần nhà đất theo Giấy bán nhà, hợp đồng đặt cọc trước đây cũng như giấy chuyển
nhượng và cam kết không thay đổi việc chuyển nhượng nhà đất và giá chuyển
nhượng. Tuy nhiên vì hoàn cảnh gia đình neo đơn, bận rộn, ốm đau và vì đi làm
xa nhà không có điều kiện lên Tân Lạc để làm các thủ tục chuyển nhượng theo
quy định của pháp luạt được. Gia đình nhà Nguyễn Tiến D cứ tiến hành thủ tục
sang tên chuyển chủ vắng mặt Phạm Quang H và những người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan.
Quá trình giải quyết: Toà có cho các đương sự tự khai, tiến hành phiên họp
cho giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tuy nhiên: Bị đơn và
những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến tham gia; Bị đơn có ý
kiến thay mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như sau: Ông (Phạm
Quang H) và gia đình nhà ông vẫn đồng ý chuyển nhượng cho vợ chồng Nguyễn
Tiến D phần nhà đất theo hợp đồng đã thoả thuận. Tuy nhiên vì điều kiên gia đình
nên ông và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thể lên Tân Lạc
để làm các thủ tục tiếp theo được. Gia đình nhà Nguyễn Tiến D cứ tiến hành thủ
tục chuyển nhượng sang tên vắng mặt Phạm Quang H và những người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật và đề nghị Toà án cứ giải quyết
vắng mặt ông và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong suốt quá trình
tố tụng
Trước phiên toà, nguyên đơn thay đổi quan điểm: Đề nghị Toà Công nhận
hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 72,
tờ bản đồ số 31, xóm X, xã T, huyện Tân Lạc, Hoà Bình giữa Nguyễn Tiến D,
Ngô Thị Ánh Ng với Phạm Quang H, Hoàng Thị L, Phạm Thị H1 và Phạm Thị
H2. Nguyễn Tiến D, Ngô Thị Ánh Ng có quyền sở hữu phần nhà đất tại thửa đất
số 72, tờ bản đồ số 31, xóm X, xã T, huyện Tân Lạc, Hoà Bình. Phần thủ tục sang
tên chuyển chủ D Ng sẽ tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được
cấp theo pháp luật. Bị đơn không đến Toà giải quyết; Bị đơn không muốn gặp mặt
nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn và vợ nguyên đơn đã có những lời nói và
hành động không đúng và không thiện chí với bị đơn nên bị đơn không gặp phía
gia đình nguyên đơn nữa và đề nghị Toà cứ giải quyết vắng mặt bị đơn theo như
ý kiến và các văn bản bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã ký trên
tinh thần bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn chấp nhận
nội dung hợp đồng đã ký, không thay đổi; vẫn đồng ý để nguyên đơn làm thủ tục
sang tên chuyển chủ nhưng là tự mình làm. Bị đơn và gia đình chấp nhận nhưng
không giúp và không hỗ trợ gì.
Tại phiên Toà: Nguyên đơn Nguyễn Tiến D vẫn giữ quan điểm trên và đề
nghị Toà xem xét, giải quyết theo pháp luật để ông và gia đình ổn định cuộc sống.
Cũng tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát cho rằng:
Về tố tụng: Tháng 12/2023, ông Nguyễn Tiến D trú tại khu X, xã T, huyện
Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình có đơn khởi kiện ông Phạm Quang H, trước cùng trú tại
xóm X, xã T, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình sau chuyển xuống khu đô thị V,
phường P, quận Hà Đông, Hà Nội. Có công tác tại Trung tâm y tế huyện C, tỉnh
Hoà bình nhưng giao dịch bất động sản tại Tân Lạc, Hoà Bình để Yêu cầu Công
nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thửa đất số 72, tờ
bản đồ số 31, xóm X, xã T, huyện Tân Lạc, Hoà Bình. Công nhận quyền sở hữu
của ông D bà Ng đối với thửa đất trên và D Ng có trách nhiệm tự liên hệ với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp GCNQSDĐ theo pháp luật. Việc Tòa
án nhân dân huyện Tân Lạc thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Quá trình thụ
lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã xác định đúng tư cách của những người tham
gia tố tụng. Thẩm phán và thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự; các đương sự: Nguyên đơn tuân thủ quyền và nghĩa vụ theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan chưa tuân thủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự; tại phiên tòa Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã tuân thủ đúng, đầy đủ theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự,

Về nội dung: Căn cứ điều 116, Điều 129, Điều 508 Bộ luật Dân sự năm 2015 ;
Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự ; Điều 27 Nghị quyết 326 vể án phí lệ phí Toà
án. Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thửa đất
số 72, tờ bản đồ số 31, xóm 3, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, Hoà Bình giữa Nguyễn
Tiến D, Ngô Thị Ánh Ng với Phạm Quang H, Hoàng Thị L, Phạm Thị H1 và
Phạm Thị H2. Công nhận quyền sở hữu của ông D bà Ng đối với thửa đất trên và
D Ng có trách nhiệm tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp
GCNQSDĐ theo pháp luật Về án phí : Lẽ ra cần buộc bị đơn phải chịu nhưng
nguyên đơn tự nguyện chịu nên chấp nhận sự tự nguyện này là phù hợp
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện đã được nộp tiền tạm ứng án phí và
quá trình tố tụng tiếp theo. Quan hệ pháp luật tòa án giải quyết là tranh chấp về
Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất. Nguyên đơn là là ông Nguyễn Tiến
D và bị đơn ông Phạm Quang H. Trước cùng trú tại xóm X, xã T, huyện Tân Lạc,
tỉnh Hòa Bình. Sau anh H chuyển ra khu đô thị V, phường P, quận Hà Đông, Hà
Nội. Có công tác tại Trung tâm y tế huyện Cao Phong, tỉnh Hoà bình nhưng giao
dịch bất động sản tại Tân Lạc, Hoà Bình để Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ. Sau nguyên đơn thay đổi thành Yêu cầu Công nhận hiệu
lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thửa đất số 72, tờ bản đồ số
31, xóm X, xã T, huyện Tân Lạc, Hoà Bình. Công nhận quyền sở hữu của vợ
chồng ông bà D Ng đối với thửa đất trên và trách nhiệm của chủ sở hữu để được
cấp GCNQSDĐ theo pháp luật. Việc Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc thụ lý giải
quyết là đúng thẩm quyền. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã xác
định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng. Thẩm phán và thư ký Tòa
án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự: Nguyên
đơn tuân thủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn
và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa tuân thủ quyền và nghĩa vụ
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa Thẩm phán, thư ký và
HĐXX đã tuân thủ đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự theo
quy định tại Điều 26, Điều 35, Khoản 1 Điều 40; Điều 68 và các quy định tại Bộ
luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về Nội dung: Thời điểm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan thoả thuận và ký giấy bán nhà (Chuyển nhượng quyền sử dụng nhà
và đất): Ngày 17/7/2022 và 14/11/2022 thì phía bị đơn có GCNQSDĐ mang tên
ông Phạm Minh T (Đã chết) và Phạm Quang H. Các bên lập giấy viết tay thể hiện
nội dung thoả thuận bán nhà đất; Giấy giao tiền thể hiện bị đơn và người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ số tiền theo thoả thuận bán nhà đất từ
650.000.000đ lên 750.000.000đ. Phía bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan là cụ Hoàng Thị L, bà Phạm Thị H1 và bà Phạm Thị H2 nhất trí tự nguyện
chuyển nhượng nhà đất. Các bên đã thống nhất cùng ra UBND xã T làm thủ tục
chuyển nhượng. Tuy nhiên, vì ông Phạm Minh T (Đã chết) nên theo quy định về
trường hợp nhận thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật Đất đai năm

2013 nên UBND xã T chỉ chứng thực hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng QSDĐ
giữa Nguyễn Tiến D, Ngô Thị Ánh Ng với Phạm Quang H và những người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cụ Hoàng Thị L, bà Phạm Thị H1 và bà Phạm Thị
H2. Lúc đó, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tự nguyện lập hợp
đồng uỷ quyền cho ông Nguyễn Hữu N(Bố nguyên đơn) thực hiện các thủ tục về
thừa kế để có thể thực hiện các thủ tục chuyển nhượng tiếp theo nhưng khi đã có
GCNQSDĐ mới thì bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực
hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng để nguyên đơn làm thủ tục cấp GCNQSDĐ.
Vì thế, nguyên đơn khởi kiện: Yêu cầu Toà buộc bị đơn và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan phải ký hợp đồng chuyển nhượng để nguyên đơn thực hiện nốt
thủ tuicj sang tên chuyển chủ theo quy định của pháp luật.
Xét hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa Nguyễn Tiến D, Ngô Thị Ánh Ng
với Phạm Quang H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cụ Hoàng
Thị L, bà Phạm Thị H1 và bà Phạm Thị H2 ngày 17/7/2022 và ngày 14/11/2022
là do các bên hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Bên chuyển nhượng đã
tự nguyện giao bản chính GCNQSDĐ, giao chìa khoá…cho bên nhận chuyển
nhượng. Tức là đã giao nhận nhà đất trên thực tế. Lý do các bên chưa làm hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐ đúng hình thức vì theo quy định về nhận thừa kế
QSDĐ của pháp luật đất đai. Tuy nhiên các bên đã thể hiện ý chí đồng thuận thông
qua việc ký hợp đồng đặt cọc và hợp đòng uỷ quyền và đã được UBND xã T
chứng nhận. Điều này phù hợp với toàn bộ lời khai của bị đơn trong suốt quá trình
tố tụng là: Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh chấp
gì về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đã ký trước đây nhưng vì điều kiện hoàn
cảnh gia đình nên chưa lên làm thủ tục theo quy định của pháp luật được. Bị đơn
cũng thừa nhận quan điểm này khi đã có GCNQSDĐ mới mang tên mình: Phạm
Quang H(Bản chính hiện do nguyên đơn quản lý) tức là đã đủ điều kiện về chuyển
nhượng đồng thời cam kết sẽ làm thủ tục theo quy định nhưng bị đơn cố tình cản
trở không đến cơ quan có thẩm quyền l;àm thủ tục theo quy định. Quan điểm này
được hai bên xác lập ngày 09/10/2023 nhưng không phù hợp về hình thức, không
có công chứng, chứng thực theo quy định tại điều 116 và điều 129 của Bộ Luật
Dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng QSDĐ của các bên không tuân
thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ Luật Dân sự năm 2015
nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 750.000.000đ và phía
bị đơn đã tự nguyện giao Bản chính GCNQSDĐ, giao chìa khoá nhà cho nguyên
đơn quản lý sử dụng; giao quyền sử dụng nhà đất cho nguyên đơn sử dụng từ
tháng 11/2022 là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được
công nhận có hiệu lực.
[3]Về án phí: Lẽ ra cần buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp
luật nhưng vì bị đơn không hợp tác và nguyên đơn xin tự nguyện chịu. Đây là sự
tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Bởi các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 116; Điều 129; Điều 508 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều
147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa
án, nay tuyên xử như sau:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D.
2. Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa
đất số 72, tờ bản đồ số 31, xóm X, xã T, huyện Tân Lạc, Hoà Bình giữa Ông
Nguyễn Tiến D, bà Ngô Thị Ánh Ng với ông Phạm Quang H, Cụ Hoàng Thị L,
bà Phạm Thị H1 và bà Phạm Thị H2. Công nhận quyền sở hữu của ông Nguyễn
Tiến D bà Ngô Thị Ánh Ng đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ số 31, xóm X, xã T,
huyện Tân Lạc, Hoà Bình. Ông Nguyễn Tiến D, bà Ngô Thị Ánh Ng có trách
nhiệm tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp GCNQSDĐ
theo pháp luật.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án, theo quy định tại các điều 6,7, 7A, 7B và điều 9 Luật thi hành án
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
3.Về án phí: Ông Nguyễn Tiến D tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí DSST. Đã
nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0000519 ngày 11/12/2023 tại Chi
cục thi hành án dân sự, Nay không phải nộp thêm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo kết quả xét xử.
Án xử công khai sơ thẩm.
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hòa Bình; Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa
- VKSND huyện Tân Lạc
- Chi cục THADS huyện Tân Lạc (Đã ký)
- Đương sự;
-UBND xã T, huyện Tân Lạc;
- Lưu HS + VT + LT.
Bùi Đình Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm