Bản án số 02/2021/DS-PT ngày 06/01/2021 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 02/2021/DS-PT ngày 06/01/2021 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 02/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 02/2021/DS-PT
Ngày 06-01-2021
V/v tranh chấp về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Trần Minh Phương
Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ
Bà Lương Thị Hải Hà
- Thư phiên tòa: Thị Hương Ngân - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 m 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý s39/2020/TLPT-DS ngày 18 tháng 8 m
2020 về tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2020/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2020 của
Toà án nhân dân huyện E, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 304/2020/QĐ-PT ngày
18 tháng 11 năm 2020 Quyết định hoãn phiên toà số 465/2020/QĐ-PT ngày 18
tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1955; Thị B, sinh năm
1958; cùng i cư trú: Thôn 3 C, xã D, huyện E, thành phố Hải Phòng; đều có mặt;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn A: Ông Trần
Minh G trợ giúp viên pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp Nhà nước thành
phố Hải Phòng ; có mặt;
- Bị đơn:
1. Anh Trịnh Đức H, sinh năm 1970; nơi trú: Thôn C, D, huyện E,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
2
2. Ông Nguyễn Đình I, sinh năm 1950; nơi cư trú: Thôn 3 C, xã D, huyện E,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
3. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn 3 C, D, huyện E,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
4. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn 3 C, D, huyện E,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
5. Anh Nguyễn Đình M, sinh năm 1983; nơi trú: Thôn 3 C, D, huyện
E, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
6. Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1976; Thôn 3 C, D, huyện E, thành
phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn A là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/10/2017; Đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/4/2018;
Đơn khởi kiện ngày 26/3/2019 và quá trình giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm,
nguyên đơn ông Nguyễn Văn A và bà Vũ Thị B trình y:
Khoảng đầu tháng 9 năm 2015, ông Trịnh Đức H (nguyên thư chi bộ
thôn C) cùng một số thanh niên trong thôn bao gồm c anh Nguyễn Văn K, Nguyễn
Văn L, Nguyễn Xuân N Nguyễn Đình M nhiều lần đến nhà ông A, B để trao
đổi về việc thôn có ý định mở rộng n bóng để phục vụ nhu cầu thể thao của thôn.
Theo đó hai bên thoả thuận: Thôn sẽ lấy phần diện tích đất gia đình ông A đang
trồng câyu năm rng khoảng 02m, chạy i theo sânng khoảng 100m đổi trả
cho gia đình ông A khoảng 80m
2
phần diện tích cuối n bóng để gia đình ông A
làm lối đi vào khu trang trại. Hai bên còn thỏa thuận, sau khi phá bỏ tường bao, y
cối của gia đình thì sxây lại ờng o tại vị trí mới, y cối bđốn hạ để lấy mặt
bằng sẽ được bồi thường bằng giá trthực tế. Đến chiều ngày 06/9/2015, ông H
ông Nguyễn Đình I đã huy động thanh niên và nhân dân thôn C phá tường bao, cây
cối, thuê máy c đào các cột ng của gia đình ông A. Việc phá dỡ dọn dẹp
được diễn ra trong 02 ngày mùng 06 và 07 tháng 9 năm 2015. Cuối ngày 06/9/2015
thì ông H, các anh L, M, N cùng gia đình ông A đã đo diện tích 80m
2
cuối sân bóng
trả cho gia đình ông A. Gia đình ông A lập văn bản để ghi nhận lại sự thỏa thuận
của hai n nhưng ông H những người thanh niên i rằng để xong việc rồi .
Tuy nhiên, sau đó những người này đã không ký vào văn bản và cũng không xây lại
tường rào, không bồi thường thiệt hại thực tế cho gia đình ông A. Ông A đã làm đơn
kiến nghị gửi Ủy ban nhân dân D Công an huyện E đề nghị giải quyết. Tuy
nhiên, Công an huyện E trả lời việc phá dỡ tường rào, cây cối có sthoả thuận, đồng
ý của c bên nên không có sở khẳng định ông H, ông I hành vi hủy hoại tài
sản theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, ông A làm đơn khởi kiện đến Tòa án
nhân dân huyn E khởi kiện đối với bị đơn là những người trực tiếp thỏa thuận, huy
3
động mọi người, máy móc trực tiếp tham gia phá dỡ tường bao,y cối của gia đình
ông A phải trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại về i sản, cụ thể: Tường
bao: 8.000.000 đồng; giá trị chuồng nuôi c, chuồng nuôi gà: 2.500.000 đồng; g
trị đất màu xúc đổ đi: 10.000.000 đồng; giá trị y cối, hoa màu: 8.000.000 đồng;
thiệt hại về vật nuôi: 3.300.000 đồng; chi phí thuê người trông coi trang tri từ tháng
11/2015 đến tháng 02 m 2018 42.000.000 đồng (28 tháng x 1.500.000
đồng/tng). Tổng giá trị thiệt hại là: 73.800.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 30/5/2019, ngày 08/7/2019, ngày 10/7/2019,
15/7/2019, ngày 16/9/2019 quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm
ông Trịnh Đình I, ông Trịnh Đức H, các anh Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn L,
Nguyễn Xuân N và Nguyễn Đình M trình bày:
Ông Trịnh Đức H trình bày: Từ năm 2013 đến năm 2016, ông H giữ chức vụ
thư chi bộ Thôn 3 C, đại biểu Hội đồng nhân dân D khóa 18, 19; Ủy viên
Ban kiểm tra Đảng ủy D. Đầu tháng 9 năm 2015, ông H không đến nhà ông A
đặt vấn đề đổi đất sân bóng với ông A và cũng không có thỏa thuận gì với gia đình
ông A về việc phá bỏ tường bao, cây cối như ông A trình bày. Ông H không tham
gia, không chđạo bất k ai làm ảnh hưởng đến gia đình ông A. Ông A đã trình
bày không đúng sự thực. Việc phá bỏ tường bao, cây cối do ông A tự thực hiện.
Thời điểm đó ông H bị ốm nên không mặt tại đó. Theo ông H, nguồn gốc sân
bóng từ năm 1994, lúc đó trưởng thôn vận động nhân dân hiến đất mỗi nhà một
ít đ làm sân vui chơi được Ủy ban nhân dân D đồng ý ghi nhận vào bản đồ
cắt giao cho thôn để làm sân bóng. Đến năm 2015, thì diện tích sân bóng bị thu hẹp
do gia đình ông A lấn chiếm 1.466m
2
như Thông báo số 17/TB-UBND ngày
16/10/2015 của Ủy ban nhân dân xã D. Do vậy, khi ông A nhờ nhân dân trong thôn
đến dọn dẹp thì mọi người đều ủng hộ. vậy, ông H không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông A, đnghị ông A phải trả lại diện tích đất 1.466m
2
đlàm sân
bóng.
Ông Trịnh Đình I trình bày: Ông I trưởng thôn C năm 2015-2016. Ông I
thống nhất với lời trình bày của ông H, không bàn bạc không thỏa thuận với
ông A về việc đổi đất tại sân bóng cũng như việc bồi thường phá dỡ tường bao
cây cối. Việc ông A cùng nhân n trong thôn phá dtường bao, cây cối, ông I,
ông H không chỉ đạo, không tổ chức việc này.
Các anh Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn L, Nguyễn Xuân N Nguyễn Đình M
trình bày:
Ông I và ông H không chỉ đạo gì về việc phá tường bao, cây cối của gia đình
ông A. Gia đình ông A tháo dỡ trước nhờ nhân dân trong thôn dọn hộ. Do ông
A trả lại diện tích đất cho sân bóng nên nhân dân trong thôn ủng hộ dọn cùng ông
A. Gia đình ông A còn ủng hộ tiền một số đồ để uống nước. y ban nhân dân
D đã ra Thông báo thu hồi diện tích đất ông A đã lấn chiếm. Các bị đơn đều rất
bất ngờ về việc ông A khởi kiện. Việc ông A khởi kiện các bị đơn là không đúng
các bị đơn chỉ những người dân bình thường nên không quyền để thỏa thuận
4
đổi đất đối với ông A. Do vậy, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông A, đề
nghị ông A phải trả lại diện tích đã lấn chiếm theo thông báo của Ủy ban nhân dân
xã D.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2020/DS-ST ngày
25 tháng 6 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện E, thành phố Hải Phòng căn cứ vào
Điều 604 của Bộ luật Dân sự năm 2005, xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Văn A và bà Thị B về việc buộc các bị đơn phải bồi thường thiệt hại số
tiền 73.800.000 đồng vtường bao, cây cối, chuồng nuôi gà, chuồng nuôi chó,
đất màu.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí; tuyên quyền kháng cáo
đối với các đương sự.
Sau khi t x sơ thẩm, ngày 07/7/2020, ông Nguyễn Văn A kháng cáo toàn bộ
bản án thm đnghị hủy bn án sơ thẩm vi lý do: Kng đồng ý với vic xác định
quan hệ tranh chấp của Tòa án cp thm; kng đồng ý vi vic đánh g chng c
quyết định của Tòa án cp sơ thm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn A gi nguyên yêu cầu khởi kiện; giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo trình bày việc phá dỡ tường bao cây cối ngày 06/9/2015 ông A
biết cũng đồng ý; đề nghị Tán cấp phúc thẩm huỷ bản án thẩm do đánh
giá chứng cứ không khách quan.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông A trình bày: việc thoả
thuận miệng giữa ông A và ông I, ông H. Việc thoả thuận miệng giữa các bên được
coi là giao dịch nên cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hợp
đồng. T án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng nhưng lại áp dụng khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự không
đúng quy định của pháp luật. Việc Uỷ ban nhân dân xã D ra thông báo thu hồi diện
tích đất của gia đình ông A không đúng thẩm quyền. căn cứ để xác định
việc thoả thuận giữa nguyên đơn bị đơn về việc đổi đất việc xây lại tường bao
và nguyên đơn có thiệt hại thực tế là 73.800.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các bị đơn vắng mặt tại phiên toà.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp nh đúng các quy định
của Bluật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các
quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm của Kiểm sát viên đối với kháng cáo của ông A: Việc ông A,
B yêu cầu các bđơn phải bồi thường số tiền 73.800.000 đồng không có căn cứ
ông A, B đã sử dụng diện tích đất trái pháp luật, việc phá dỡ tường bao, cây
5
cối đều được sự đồng ý của ông A. n cứ khoản 1 Điều 308 của Bluật Tố tụng
dân sự, đề nghị Hội đồng xét x không chấp nhận kháng cáo của ông A, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Quan hệ tranh chấp trong vụ án về tranh chấp bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do vụ án kháng cáo,
nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng - quy định tại
khoản 6 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, ông Trịnh Đình I, ông Trịnh Đức H, c anh Nguyễn Văn
K, Nguyễn Văn L, Nguyễn Xuân N Nguyễn Đình M vắng mặt lần thứ hai
không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ n Hội đồng xét xử căn cứ
khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt họ.
[3] Sự việc xảy ra ngày 06 tháng 9 năm 2015, ngày 16/10/2017 nguyên đơn
khởi kiện, các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện nên còn thời
hiệu khởi kiện - quy định tại Điều 588 Bộ luật Dân sự.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[4] Qua nghiên cứu lời trình y của c đương sự, lời khai của người m
chứng c tài liệu, chứng cứ trong hsơ thấy rằng:
[4.1] Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s vào sổ cấp
GCNQSDĐ: H01723 ngày 27/7/2009 của Ủy ban nhân dân huyện E, thành phố Hải
Phòng Quyết định số 03 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng thì hộ ông
Nguyễn Văn A đưc quyền sử dụng diện tích đất 3360,0m
2
đất sản xuất nông
nghiệp (bao gồm 07 thửa đất).
[4.2] Căn cứ vào ng văn s01/CV-UBND ngày 05/01/2018 của Ủy ban
nhân dân xã D gửi Tòa án nhân dân huyện E; căn cứ vào Báo cáo số 07/BC-UBND
ngày 12/5/2016 của Ủy ban nhân dân xã D đối với Ủy ban nhân dân huyện E về kết
quả giải quyết nội dung đơn kiến nghị của công dân Thôn 3 C; Thông báo số 17/TB-
UBND ngày 16/10/2015 của Ủy ban nhân dân D; Thông báo số 250/TB-UBND
ngày 13/5/2016 của Ủy ban nhân dân huyện E về việc giải quyết đơn của một số
công dân thôn 3, C , D, huyện E, thì:
[4.2.1] Ngày 28/8/2015, Ủy ban nhân dân D nhận được đơn của lãnh đạo
chi ủy nh đạo thôn C yêu cầu làm diện tích sân bóng gia đình ông
Nguyễn Văn A đã sử dụng trái phép. Ngày 05/10/2015, Ủy ban nhân dân cử tổ
công tác xuống đo thực địa tại khu vực sân bóng và diện tích gia đình ông A đang sử
dụng xác định được: Tổng diện tích đất 95% gia đình ông A được giao là 3360,0m
2
tại 07 thửa đất trên so với số khẩu được giao đã đủ. Ngoài diện tích 3360,0m
2
gia
đình ông A được giao thì gia đình ông A n tự ý sử dụng diện tích đất của tập thể
1519,0m
2
+ 119,0m
2
đất khu vực Đầm của ông A đổi cho Ủy ban nhân n về
6
Cửa Miếu Nam. Như vậy, ông A đang sử dụng đất 95% tại khu vực Cửa Miếu Nam
Đầm Cửa thuộc quỹ đất Ủy ban nhân dân đang quản 1638,0m
2
. Ngày
16/10/2015, Ủy ban nhân dân D bannh thôngo số 17/TB-UBND về việc thu
hồi diện tích đất 1.466,0m
2
. Ngày 11/8/2016, Ủy ban nhân dân D ban hành
Thông báo số 12/TB-UBND thu hồi diện tích đất 5% thuộc quỹ đất công ích Ủy ban
nhân dân đang quản 1.695,0m
2
tại thửa số 185+186 khu Cửa Miếu Nam
Thôn 3 C gia đình ông A tự sử dụng từ năm 2007 đến nay. Trong đó diện tích
quy hoạch mở rộng khu vui chơi, giải trí 262,5m
2
. Yêu cầu ông A phải thu hồi y
cối, hoa màu, vật kiến trúc trên diện tích đất này xong trước ngày 31/8/2016. Diện
tích đất còn lại 1.432,0m
2
Ủy ban nhân n xin ý kiến các cấp thẩm quyền
thiết lập hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật. Ông A đã nhận được các
thông báo này nhưng không chấp nh trái lại còn đơn tố cáo ông H nguyên
bí thư chi bộ và ông Nguyễn Đình I nguyên là trưởng Thôn 3 C về hành vi hủy hoại
tài sản.
[4.2.2] Ngày 08/9/2017, ông A đã vi phạm hành chính y dựng trái phép, tự
ý xây lán, nhà trên diện tích đất bị thu hồi. Ngày 08/9/2017, y ban nhân dân D
đã lập Biên bản vi phạm hành chính; ban hành quyết định đình chỉ thi công số
70/-UBND; ngày 16/9/2017 ban nh quyết định xử phạt vi phạm nh chính
trong nh vực đất đai số 73/QĐ-XPVPHC. Việc ông A khởi kiện dân sự nhằm trốn
tránh trách nhiệm, không thi nh các quyết định hành chính thông báo thu hồi
đất nhằm kéo dài thời gian, y mất trật tự tran địa phương, đặc biệt nh trạng
khiếu kiện đông người vượt cấp của nhân dân Xuân Bdo Ủy ban nhân dân
chưa thu hồi được đất đối với diện tích ông A tự sử dụng trái pp để phục vụ việc
xây dựng nông thôn mới.
[4.3] Ông A trình bày hai bên thỏa thuận về việc sau khi phá dỡ tường bao và
các vật kiến trúc khác để trả lại diện tích cho sân bóng nhưng các bị đơn không thừa
nhận việc thoả thuận này. Lời khai của bị đơn nhân n trong thôn đều xác
định không việc thoả thuận như lời trình bày của ông A khi phá dỡ vật kiến
trúc, cây cối ông A có mặt tự nguyện phá dỡ đồng thời nhờ nhân n cùng phá
dỡ, thậm chí ông A còn ủng hộ nước uống cho mọi người. Ngoài lời trình bày thì
ông A không xuất trình được văn bản nào thể hiện có việc thoả thuận về việc đổi đất
và bồi thường thiệt hại sau khi phá dỡ. Nhân dân trong thôn giúp ông A phá dỡ là
muốn thêm diện ch cho sân bóng. Cũng cần phải nói thêm rằng, sự việc xảy ra
từ ngày 06/9/2015 nhưng mãi hai năm sau - ngày 16/10/2017, ông A mới làm đơn
khởi kiện.
[5] Từ những phân tích trên thấy rằng diện tích đất ông A trồng cây cối và các
vật kiến trúc không được cơ quan có thẩm quyền giao quyền sử dụng hợp pháp. Uỷ
ban nhân dân xã D đãThông báo số 17/TB-UBND ngày 16/10/2015 thu hồi diện
tích đất 1466,0m
2
tại thửa đất số 186 tờ bản đồ số 11 Xứ đồng của Miếu Nam thôn
03 Xuân Bồ trả lại cho Uỷ ban nhân dân quản lý. Như vậy, nghĩa ông A đã
trồng cây, xây tường bao trên diện tích đất ông A kng được quyền sử dụng.
Không có tài liệu nào thể hiện có việc thoả thuận đổi đất, hayy lại tường bao giữa
7
ông A các bị đơn. Trong khi đó, lời khai của những người m chứng xác nhận
không việc thoả thuận, ông A đã tự nguyện phá dỡ nhờ nhân dân trong thôn
cùng phá dỡ. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng o
của nguyên đơn, quyết định của Tòa án cấp thẩm n cứ nên giữ nguyên
bản án sơ thẩm Điều 584 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự:
[6] Nguyên đơn: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên
nguyên đơn phải chịu án phí dân sự thẩm. Tuy nhiên, ông A B đều
người cao tuổi; ông A còn là thương binh hạng 4/4 nên theo quy định của pháp luật
thì ông A, B được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự thẩm - quy
định tại điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội; Điều 2
Luật Người cao tuổi.
[7] Các bị đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Ông A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, ông A người cao tuổi thương binh hạng 4/4 nên được miễn án
phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cvào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Ginguyên bản án thẩm.
Căn cứ vào Điều 534 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1
Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 2
của Luật Người cao tuổi;
Xử: Không chấp nhận toàn bộ u cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn
n A ThB về việc:
1. Buộc ông Trịnh Đức H, ông Nguyễn Đình I, anh Nguyễn Văn K, anh
Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Đình M, anh Nguyễn Văn L phải bồi thường thiệt hại
về tường bao; chuồng nuôi chó; chuồng nuôi gà; thiệt hại về đất màu do việc xúc
đất đổ đi; thiệt hại về cây cối, hoa màu, vật nuôi; chi phí thuê người trông coi trang
trại từ tháng 11/2015 đến tháng 02 năm 2018; tổng giá trị thiệt hại 73.800.000
đồng.
2. Về án phí:
a. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn A và bà Vũ Thị B.
8
- Ông Trịnh Đức H, ông Nguyễn Đình I, anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn
Văn K, anh Nguyễn Đình M, anh Nguyễn Văn L không phải chịu án phí dân sự
thẩm.
b. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn A.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự (để thi hành);
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND huyện E;
- Chi cục THADS huyện E;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Minh Phương
Tải về
Bản án số 02/2021/DS-PT Bản án số 02/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất