Bản án số 02/2020/HNGĐ-ST ngày 17/02/2020 của TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2020/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2020/HNGĐ-ST ngày 17/02/2020 của TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đắk Mil (TAND tỉnh Đắk Nông)
Số hiệu: 02/2020/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/02/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị Loan xin ly hôn anh Nguyễn Quốc Lâm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 17-02-2020
V/v:Xin ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đợi, ông Nguyễn Tiến Tịnh.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Huệ - Thư Tòa án nhân dân huyện
Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét
xử thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2019/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 12
năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2019/QĐXX-
ST ngày 17 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:
*/ Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1985; Đa ch: thôn TN, xã T,
huyn M, tỉnh Đk Nông. (Có đơn xin xét xvng mt)
*/ Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc L, sinh năm 1982; Địa ch: thôn TN, xã T,
huyn M, tỉnh Đk Nông. (Vng mt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo ni dung đơn khi kin ngày 12/12/2019, lời khai trong quá trình
tố tụng của nguyên đơn chị Hoàng Thị L: Chị L Anh Nguyễn Quốc L kết hôn
năm 2005, đăng kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Hôn
nhân tnguyện, tự do tìm hiểu, không bị ép buộc. Trong quá tnh chung sống anh
chị 02 người con chung Nguyễn Hoàng Lan A, sinh ngày 04/9/2005
Nguyễn Quốc V, sinh ngày 10/02/2012, hiện các cháu đang sống chung cùng vợ
chồng chị. Trong thời gian chung sống vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn
nguyên nhân do Anh L thường xuyên rượu chè, về nhà chửi bới vợ con, hai vợ
chồng cũng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống.
Mâu thuẫn giữa anh chị trở nên trầm trọng kể từ tháng 7 năm 2019 đến nay, Chị L
đã nộp đơn ly hôn, sau khi được Tòa án thông báo thì Anh L ng xin lỗi mong chị
tha thứ, bản thân Chị L cũng suy nghĩ vì con cái mà đồng ý cho Anh L cơ hội thay
2
đổi nhưng được vài ngày Anh L lại đi nhậu rồi vnhà chửi bới, cầm dao sang đe
dọa đòi giết mẹ con chị, quá lo sợ nên chị các con đã dọn ra nơi khác nhưng
Anh L vẫn không để cho mẹ con chị được sống ổn định luôn đến để gây sự, chửi
bới. Khi say vào thì Anh L thay đổi bản tính, không chỉ đe dọa đến tính mạng của
chị mà n đem quần áo của chị các con ra đốt, nhiều lần đòi đốt xe, ghen tuông
cớ, nhắn tin đe dọa, những hành động của Anh L làm cho Chị L rất lo sợ, tinh
thần hoảng loạn. Bản thân Chị L nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cả
hai không thể tiếp tục sống chung với nhau việc ly hôn cần thiết, hiện nay anh
chị cũng không còn sống chung với nhau. Chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
và Anh L được ly hôn, về con chung Chị L nhận nuôi cháu Nguyễn Hoàng Lan A
Nguyễn Quốc V; về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và công nợ không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 12/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil nhận được đơn xin xét
xử vắng mặt của Chị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trong quá trình làm
việc tại Tòa án.
Trong quá trình tố tụng bị đơn Anh Nguyễn Quốc L trình bày: Anh L thống
nhất với toàn blời khai của Chị L về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung,
nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Anh L không đồng ý ly hôn và mong muốn Chị L cho anh thêm cơ hội được thay
đổi, Anh L cam kết sẽ bỏ nhậu hoàn toàn, không vì uống rượu say mà về nhà chửi
bới, đe dọa vợ con.
Đại din Vin kim sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà phát
biu ý kiến: V vic tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử nguyên đơn chị Hoàng Thị L đều chấp
hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ
nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
đối với bị đơn. Căn cứ vào khon 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản
1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và khoản 1
Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều
58; Điều 81; Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của chị Hoàng Thị L, Chị L được ly hôn với Anh Nguyễn Quốc L; về con chung:
Giao cháu Nguyễn Hoàng Lan A, sinh ngày 04/9/2005 Nguyễn Quốc V, sinh
ngày 10/02/2012 cho Chị L nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản
chung nợ chung Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí chị Hoàng
Thị L phải nộp 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ ván được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
* Về pháp luật tố tụng:
3
[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Hoàng Thị L yêu cầu ly hôn với Anh
Nguyễn Quốc L, đây là tranh chấp vhôn nhân gia đình (ly hôn) thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Anh Nguyễn Quốc L có địa chỉ cư
trú tại thôn TN, xã T, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Nên Tòa án nhân dân huyện Đắk
Mil thụ giải quyết đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nguyên đơn chị Hoàng Th L đơn xin xét x vng mt, b đơn Anh
Nguyn Quc L được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định
hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228
của Bluật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn
và bị đơn là phù hợp theo quy định của pháp luật.
* Về pháp luật nội dung:
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L Anh Nguyễn Quốc L kết
hôn năm 2005, đăng kết hôn tại UBND T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ép buộc.
[5] Về nguyên nhân mâu thuẫn vchồng: ChL Anh L đều thừa nhận
trong thời gian chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn là do Anh L thường xuyên
rượu chè, về nhà chửi bới vợ con, hai vợ chồng cũng bất đồng quan điểm, không
tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn giữa anh chị trở nên trầm
trọng kể từ tháng 7 năm 2019 đến nay, Chị L đã nộp đơn ly hôn, sau khi được Tòa
án thông báo thì Anh L cũng xin lỗi mong chị tha thứ, bản thân Chị L cũng suy
nghĩ con cái đồng ý cho Anh L hội thay đổi đã rút đơn khởi kiện tại
Tòa án, nhưng được vài ngày Anh L tiếp tục đi nhậu rồi về nhà chửi bới, cầm dao
đe dọa đòi giết mẹ con chị, quá lo sợ nên chcác con đã dọn ra nơi khác
nhưng Anh L vẫn không để cho mẹ con chị được sống ổn định và luôn đến để gây
sự, chửi bới. Khi say vào thì Anh L thay đổi bản tính, không chỉ đe dọa đến tính
mạng của chị mà còn đem quần áo của chị và các con ra đốt, nhiều lần đòi đốt xe,
ghen tuông vô cớ, nhắn tin đe dọa, những hành động của Anh L làm cho Chị L rất
lo sợ, tinh thần hoảng loạn.
[6] Xét thấy mâu thuẫn giữa Chị L và Anh L là trầm trọng, không thể khắc
phục, các bên không còn tình cảm yêu thương, quý trọng, không chămc, không
giúp đỡ nhau, cuộc sống chung không còn duy trì, mục đích hôn nhân không đạt
được, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần căn
cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly
hôn của chị Hoàng Thị L
[7] Về con chung: Anh chị 02 người con chung Nguyễn Hoàng Lan
A, sinh ngày 04/9/2005 Nguyễn Quốc V, sinh ngày 10/02/2012. Do Anh L
không đồng ý ly hôn và không đưa ra quan điểm của mình đối với việc giải quyết
nuôi con chung mặt khác cháu Nguyễn Hoàng Lan A cháu Nguyễn Quốc V đều
nguyện vọng được sống cùng với mẹ, ChL cũng nguyện vọng được nhận
4
nuôi con chung. Yêu cầu này của Chị L là phù hợp tại Điều 81 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận.
[8] Về cấpỡng nuôi con chung, tài sản chung công nợ: Các đương s
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[9] Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp án phí dân sự thẩm theo quy
định của pháp luật.
[10]t quan điểm đề nghị của đại din Viện kiểmt nn dân huyện Đắk
Mil, tỉnh Đắk ng tại phiên toà là căn cứ nên Hội đồng t xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điu 51;
Điu 56; Điu 58; Điu 81 ca Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị L.
1. Về quan hhôn nhân: Chị Hoàng Thị L được ly hôn với Anh Nguyễn
Quốc L.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Lan A, sinh ngày 04/9/2005
Nguyễn Quốc V, sinh ngày 10/02/2012 cho ChL nuôi dưỡng cho đến khi các cháu
đủ 18 tuổi trưởng thành.
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa
vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của
cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia
đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không
xem xét giải quyết.
Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án
thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng,
thay đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110
và Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình.
3. Về tài sản chung công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không
xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí ly hôn thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001847 ngày 12/12/2019
tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Đắk Nông.
5
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo toàn b
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án
theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự. Thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM
-TAND tỉnh ĐắkNông; THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKS ND huyện ĐắkMil;
-Chi cục THA DS huyện M;
-UBND xã T, huyện M;
-UBND xã T, H. N,T. Quảng Nam; (đã ký)
-Các đương sự;
-Lưu VT, hồ sơ vụ án
Nguyễn Thế Hạnh
Tải về
Bản án số 02/2020/HNGĐ-ST Bản án số 02/2020/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất