Bản án số 02/2019/DS-ST ngày 17/04/2019 của TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2019/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2019/DS-ST ngày 17/04/2019 của TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hòa An (TAND tỉnh Cao Bằng)
Số hiệu: 02/2019/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/04/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ AN, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lục Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Thức.
2. Bà Lưu Thị Tuyết.
Hội thẩm nhân dân dự khuyết: Ông Đàm Văn Dần.
Thư phiên toà: Hoàng Hồng Nụ - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Hoà An, Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng tham gia
phiên toà: Ông Trịnh Nguyễn Huyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà
An, tỉnh Cao Bằng xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ s:
17/2018/TLST-DS ngày 19 tng 9 năm 2018 về việc: "Tranh chấp quyền sử
dụng đất".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thẩm số: 03/2019/QĐXXST- DS
ngày 04 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị H; Sinh năm 1974;
Địa chỉ: xóm N, xã B, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
- Các bị đơn:
Ông Hoàng Văn Q; Sinh năm 1974.
Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1977.
Cùng địa chỉ: xóm N, xã B, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. (Đều có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Đại diện Ủy ban nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng: Ông Lục
Minh T - Phó tởng phòng Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Hòa An,
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀ AN
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 02 /2019/DS-ST
Ngày: 17/4/2019
V/v: "Tranh chấp quyền sử
dụng đất"
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
§éc lËp - Tù do - H¹nh phóc
2
tỉnh Cao Bằng (Theo giấy ủy quyền số: 235/UBND-UQ ngày 12/4/2019 của Ủy
ban nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng). Có mặt
2. Đại diện Ủy ban nhân n B, Hòa An, Cao Bằng: Ông Sầm Quốc T
Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân B, Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Theo giấy ủy
quyền số: 01/GUQ-UBND ngày 17/4/2019 của Ủy ban nhân n B, a An,
Cao Bằng). Có mặt
3. Đại diện Hạt kiểm lâm huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng: Ông Đoàn
Trung H Kiểm m viên Hạt kiểm lâm huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. (Theo
giấy ủy quyền số: 09a/GUQ-HKL ngày 15/02/2019 của Hạt kiểm lâm huyện
Hòa An, tỉnh Cao Bằng). Có mặt.
4. Đại diện Công ty TNHH Quang Minh địa chỉ tại Nam Phong, Hưng
Đạo, thành phố Cao Bằng, Cao Bằng: Ông Đoàn Ngọc C - Tổ trưởng tổ bảo v
phát triển rừng. (Theo giấy ủy quyền số 20/GUQ - CT ngày 17/4/2019 của Công
ty TNHH Q Minh ). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2018, nộp tại Tòa án ngày 11/9/2018,
bản tự khai, các biên bản hòa giải tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn
Dương Thị H trình bày:
thửa đất diện tích khoảng 155,5 m
2
, tại xóm N, B, huyện Hòa
An, tỉnh Cao Bằng, tcận như sau: Phía đông phía bắc giáp đường mòn
lên nhà ông Dương Văn Q2; phía tây và phía nam giáp đất rừng của ông Hoàng
Văn Q. Thửa đt này hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền s dng
đất.
Về nguồn gốc của thửa đất trước năm 1991 do bố mẹ chồng của
canh tác, sử dụng. Từ năm 1991, sau khi về làm dâu thì được bố mẹ chồng
cho quản lý sử dụng để trồng kiệu, khoai, sắn, dứa. Đến năm 2013 thì bà chuyển
sang trồng hẳn dứa, những cây da to đã cho thu hoạch. Đến m 2016 gia đình
ông Hoàng Văn Q, địa chỉ ở xóm N, xã B, Hòa An, Cao Bằng khai thác cây rừng
phần trên thửa đất có làm cây đvào phần đất đang trồng dứa làm
những cây dứa của bị hư hỏng với diện tích khoảng 40m
2
. Lý do mà gia đình
ông Q tranh chấp với về thửa đất trên ông Q cho rằng thửa đất này nằm
trong phần đt rừng 327 mà gia đình ông Q được giao trong Hợp đồng quản
bảo vệ và phát triển rừng được Ủy ban nhân dân huyện Hòa An giao rừng và
đất lâm nghiệp để quản bảo vệ phát triển sản xuất kinh doanh về lâm
nghiệp theo Quyết định số 117/QĐ-UB ngày 26/2/1997.
Tuy nhiên, sau khi gia đình ông Q khai thác gỗ, đã mời đại diện Công
ty TNHH Quang Minh xuống đối chiếu trên bản đồ do bên Công ty TNHH
Quang Minh quản lý thì n đại diện Công ty TNHH Quang Minh xác định thửa
đất trên không nằm trong phần đất mà gia đình ông Q được giao trong Hợp đồng
quản bảo vệ và phát triển rừng và được Ủy ban nhân dân huyện Hòa An giao
rừng đất lâm nghiệp để quản bảo vệ phát triển sản xuất kinh doanh về
lâm nghiệp theo Quyết định số 117/QĐ-UB ngày 26/2/1997. Hơn nữa, sau khi
3
xảy ra tranh chấp làm đơn yêu cầu các quan chức năng giải quyết tranh
chấp giữa gia đình ông Q thì ông Q thừa nhận thửa đất này từ trước tới
nay gia đình ông không được canh tác sử dụng. Đến khoảng tháng 9 năm 2018
gia đình ông Q đã t ý nhổ những cây dứa đã trồng lên trồng keo trên
phần đất mà bà đã trồng dứa có diện tích khoảng 40m
2
.
Sau khi bà làm đơn khởi kiện đến Tòa án thì Tòa án đã xuống thực địa đo
diện tích đất tranh chấp, theo Trích lục bản đồ địa chính do n phòng đăng
đất đai tỉnh Cao Bằng cung cấp thì phần diện tích hiện nay có những cây dứa to
diện tích 126m
2
phần diện tích đất mà đã trồng dứa nhưng ông Q đã
nhổ lên và trồng keo xuống có diện tích là 44,7m
2
thì bà nhất trí với những phần
diện tích mà cơ quan chức năng đã đo đạc.
Nay, yêu cầu được quyền quản lý, canh tác, sử dụng phần đất tranh
chấp có diện tích 170,7m
2
.
* Tại bản tự khai, lời khai tiếp theo tại hồ vụ án tại phiên tòa: bị
đơn ông Hoàng Văn Q trình bày: Về nguồn gốc của thửa đất đang tranh chấp
của ông cha trong gia đình ông để li được Ủy ban nhân dân huyện Hòa An
giao theo đất rừng 327 giao vào năm 1994 quyết định giao đất năm 1997.
Về quá trình quản sử dụng phần đt đang tranh chấp ông không canh tác
hoa màu với do để khi khai thác cây rừng tiếp giáp phía trên thửa đất đổ
xuống sẽ không bị ảnh hưởng. Trên đất tranh chấp không ai canh tác , đến
năm 2016, khi ông khai thác rừng thì trên phần đất này chỉ vài cây dứa nên
giữa gia đình ông và bà H đã phát sinh tranh chấp. Sau khi ông khai thác cây
xong, H mới tiếp tục trồng dứa xuống chỗ đất tranh chấp này. Về diện tích
đất tranh chấp, ông nhất trí với Trích lục bản đồ địa chính do Văn phòng đăng
ký đất đai tỉnh Cao Bằng cung cấp với diện tích là 170,7m
2
.
Nay ông không nhất trí vi yêu cầu của H, ông ý kiến phần đất này
liền kề với chỗ đất rừng 327 của ông nên ông yêu cầu được quản lý sử dụng
* Bị đơn Hoàng Thị D trình bày: bà lấy ông Hoàng Văn Q vào năm 1992.
Từ khi về làm dâu gia đình ông Q thì thấy trên phần đất đang tranh chấp
những cây keo do gia đình chồng của trồng từ lâu. Đầu năm 2016, sau khi
khai thác rừng gia đình tiếp tục trồng keo xuống phần đất đang tranh chấp
cũng tại thời điểm gia đình khai thác cây xong thì mới thấy H trồng dứa
xuống phần đất đang tranh chấp.
Nay bà cũng không nhất trí với yêu cầu của bà H và bà nhất trí với ý kiến
của ông Hoàng Văn Q.
* Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa:
- Ý kiến của đại diện UBND B: Về nguồn gốc đất tranh chấp nằm
trên khu nhà của bà Dương Thị H, chỗ đất chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất bên nào, cũng không thuộc đất công do UBND quản lý.
Trước đây phía dưới thửa đất này có thửa đất số 184 diện tích 664m
2
gia đình
Dương Thị H đã khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm
2014. Tuy nhiên khi khai thì gia đình H không khai chỗ đất này nhưng
4
theo nắm được thì chỗ đất này trước đây đất trống nằm giữa phía dưới
phần đất rừng 327 của gia đình ông Q phía trên thửa đất số 184 của gia đình
H, tại chỗ đất y gia đình H canh tác những cây ngắn ngày xuống
phần lớn diện tích. Nay giữa hai bên xảy ra tranh chấp thì theo ý kiến của
UBND B giải quyết như biên bản giải quyết tại sở, phần đất hiện nay gia
đình bà H đang canh tác thì tiếp tục giao cho gia đình bà H quản lý canh tác, còn
chỗ đất hiện nay có trồng những bụi dứa nhỏ và cây keo nhỏ do đất liền tha với
chỗ H đang trồng dứa và không nằm trong đất rừng 327 của gia đình ông
Q nên đề nghị giao cho gia đình bà H quản lý canh tác.
- Ý kiến của đại diện Hạt kiểm lâm huyện Hòa An: Qua xem xét đối chiếu
các tài liệu, hồ thì phần đất hiện đang tranh chấp giữa các bên đương s
không thuộc phần đất rừng Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng cho Công ty
TNHH Q Minh thuê đất, cũng không thuộc phần đất nông nghiệp. Trên bản đồ
lâm nghiệp thể hiện phần đất đang tranh chấp khoảng trắng. Việc hai bên
đương sự đều trình y vnguồn gốc quá trình quản lý, s dụng đất nên đ
nghị HĐXX căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập để giải quyết vụ án một
cách hợp lý.
- Ý kiến của đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn Quang Minh: Phần đất
tranh chấp giữa hai gia đình trước đây Công ty đã được xuống xác định tại thực
địa vào năm 2016. Đại diện Công ty khng định phần diện tích tranh chp này
không nằm trong lô đất rừng 327 của gia đình ông Q đất rừng 327 không bao
giờ giao sát tận nhà dân.
- Ý kiến của đại diện UBND huyện Hòa An: Vị trí đất tranh chấp do
nguyên đơn cung cấp. Từ trước đến nay bên nguyên đơn canh tác liên tục, khi
xảy ra tranh chấp đã xác định đất không thuộc quyền quản lý của gia đình bị đơn
nên ý kiến của UBND huyện Hòa An nhất trí theo ý kiến của UBND Bình
Dương.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án,
Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
Vphía nguyên đơn. Các tài liệu được xác minh thu thập, chỉ ra rằng ch
đất tranh chấp trước đây phần đất trống chưa ai quản lý. Khoảng những năm
1990 gia đình nguyên đơn phát quang trồng những cây ngắn ngày như ngô,
khoai, sắn. Đến năm 2013 nguyên đơn chuyển sang trồng dứa. Đến năm 2016
thì phát sinh tranh chấp góc nhỏ thửa đất nên gia đình nguyên đơn mới trồng
tiếp những cây dứa nhỏ xuống chỗ còn lại. Nên việc canh tác trên đất là có thật
Về phía bị đơn: Phía bị đơn khẳng định phần đt đang tranh chấp với
Dương Thị H nằm trong đất rừng 327 bên bị đơn được giao trong Hợp
đồng quản lý bảo vệ và phát triển rừng và được Ủy ban nhân dân huyện Hòa An
giao rừng và đất lâm nghiệp để quản lý bảo vệ và phát triển sản xut kinh doanh
5
về lâm nghiệp theo Quyết định số 117/QĐ-UB ngày 26/2/1997. Tuy nhiên, căn
cứ vào những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Công
ty TNHH Q Minh thì xác định phần đất trên không nằm trong phần đất rừng 327
của gia đình bị đơn.
Từ những phân tích đánh giá như trên, Căn cứ hồ vụ án, các tài liệu,
chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét kết quả tranh luận của những
người tham gia tố tụng tại phiên tòa;
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1
Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 15; Điều 100; khoản 1 Điều
125; Điều 131; Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Đề nghị TAND huyện Hòa An xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn bà Dương Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp là thuộc quyền
sử dụng đất của nguyên đơn; bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp là thuộc quyền
sử dụng đất của bị đơn. vậy, đây tranh chấp quyền sử dụng đất, căn cứ
khản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án. Phần đất tranh chấp địa điểm tại xóm N, xã B, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
nên căn cứ khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự,
Tòa án nhân dân huyện Hòa An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Gia đình H
thửa đất diện tích khoảng 170,7 m
2
, tại xóm N, xã B, huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bằng, thửa đất này hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về nguồn gốc của thửa đất trước năm 1991 do bố mchồng của H
canh tác, sử dụng. Từ năm 1991, sau khi bà H về làm dâu thì được được bố mẹ
chồng cho quản sử dụng để trồng kiệu, khoai, sắn, dứa. Đến năm 2013 thì
H chuyển sang trồng hẳn dứa phần lớn diện tích thửa đất, sau đấy đến m
2016 gia đình ông Q khai thác gỗ ở phía trên đổ xuống làm hư hng phần góc
nhọn diện tích nên bà H tiếp tục trồng những bụi dứa xuống phần đất này. Lý do
gia đình ông Q tranh chp thửa đất trên phía ông Q cho rằng thửa đất này
nằm trong phần đất rừng 327 mà gia đình ông Q được giao trong Hợp đồng quản
bảo vệ phát triển rừng được Ủy ban nhân dân huyện Hòa An giao rừng
đất lâm nghiệp để quản bảo vệ phát triển sản xut kinh doanh về lâm
nghiệp theo Quyết định số 117/QĐ-UB ngày 26/2/1997.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc gia đình ông Q xác định chỗ đất tranh
chấp thuộc về gia đình ông quản không đúng thực tế đại diện Công ty
TNHH Quang Minh đã xuống đối chiếu tn bn đồ do bên Công ty TNHH
Quang Minh quản lý thì bên đại diện Công ty TNHH Quang Minh xác định thửa
6
đất trên không nằm trong phần đất mà gia đình ông Q được giao trong Hợp đồng
quản bảo vệ phát triển rừng được Ủy ban nhân dân huyện Hòa An giao
rừng đất lâm nghiệp để quản bảo vệ và phát triển sản xuất kinh doanh về
lâm nghiệp theo Quyết định số 117/QĐ-UB ngày 26/2/1997. Trên thực tế trước
khi gia đình ông Q được giao phần đất rừng 327 trong Hợp đồng quản lý bảo v
và phát triển rừng và được Ủy ban nn dân huyện Hòa An giao rừng và đất lâm
nghiệp đquản lý bảo vệ phát triển sản xuất kinh doanh v lâm nghiệp theo
Quyết định số 117/QĐ-UB ngày 26/2/1997 thì gia đình H đã canh tác sử
dụng trồng cây ngắn ngày như kiệu, khoai, sắn. Hơn nữa, sau khi xảy ra tranh
chấp nguyên đơn yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết tranh chấp thì ông Q
thừa nhận thửa đất này t trước tới nay gia đình ông không được canh tác sử
dụng nên việc ông Q cho rằng chỗ đất đang tranh chấp hiện nay phần đất
ông Q được giao theo đất rừng 327 là không có căn cứ.
[2.2]. Xét về nguồn gốc đất tranh chấp:
Về phần đất tranh chấp H cho rằng phần đất này do vợ chồng được
bố mẹ chồng cho quản lý, s dụng từ năm 1991, sau khi được quản thì vợ
chồng tiếp tục trồng ngô khoai sắn. Đến năm 2013 thì H chuyển sang
trồng dứa, việc H canh tác trên phần đt này thì những người dân trong làng
đi lại đều biết. Quá trình xác minh tại sở những người làm chứng trong
xóm đều khẳng định là gia đình bà H thường xuyên canh tác trên phần đất này.
Xác minh tại UBND Bình Dương ý kiến của Chủ tịch UBND Bình
Dương như sau: Về phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn bđơn đt chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền s dng đất không thuộc đất công do
UBND xã quản lý.
Tòa án đã xác minh quá trình quản sử dụng đối vi phần đất này của
gia đình phía nguyên đơn cho thấy quá trình quản lý sử dụng liên tục và kéo dài
từ năm 1991 cho đến nay, đối vi quá trình giao đất rừng 327 cho gia đình bị
đơn diễn ra sau thời điểm gia đình nguyên đơn canh tác phần đất này không
nằm trong phần đất 327 mà gia đình bị đơn quản lý.
Nay về việc giải quyết tranh chấp thì đại diện cho UBND xã nh Dương
ý kiến giải quyết như hòa giải tại xã, đồng thời các quan chuyên môn trên
cũng nhất trí là tạm giao đất tranh chấp cho H sẽ là người tiếp tục quản lý, sử
dụng. Khi được giao đất bà H phải có trách nhiệmkhai với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3]. Như vậy, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án kết quả
tại phiên tòa, Hội đng xét xử sở kết luận: Yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn sở nên cần chấp nhận. Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát
tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ.
[4]. Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/01/2019. Diện tích
đất tranh chấp tích 170,7m
2
(trong đó phần phía đông các bụi dứa to diện
tích là 126m
2
, phần phía bắc có những bụi dứa nhỏ và những cây keo giống mới
trồng có diện tích là 44,7m
2
) thuộc xóm N, xã B, Hòa An, Cao Bằng.
7
Tứ cận của thửa đất như sau: Phía tây giáp đất rừng ông Hoàng Văn Q, có
ranh giới giữa đất rừng ông Q đất tranh chấp được xác định bởi bậc ngăn
cách; Phía nam giáp đất rừng của ông Hoàng Văn Q, ranh giới giữa đất rừng của
ông Q đất tranh chấp được xác định bởi mương nước; Phía đông phía bắc
giáp đường dân sinh lên nhà ông Dương Văn Q2.
Trên đất một số bụi cây dứa to do H trồng. Tài sản trên đất không
tranh chấp hai bên đương s không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng t
xử không đặt vấn đề xem xét.
[5]. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu xem xét thẩm định tại
chỗ của bà Dương Thị H có căn cứ và được Tòa án chấp nhận nên ông Hoàng
Văn Q, Hoàng Thị D phi chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy
định của pháp luật. Bà Dương Thị H đã nộp 3.560.000đ (Ba triệu năm trăm sau
mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do đó buộc ông Hoàng
Văn Q Hoàng Thị D phải liên đới hoàn trả lại cho bà Hoàng Thị D số tiền
tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp là đúng với quy định tại Điều
157 Bộ luật tố tụng dân sự.
[6]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1
Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 468 Bộ luật
dân sự; Các Điều 15; Điều 100; khoản 1 Điều 125; Điều 131; Điều 203; Điều
210 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Thị H về việc
tranh chấp quyền sử dụng đất đối với các bị đơn ông Hoàng Văn Q, Hoàng
Thị D.
2. Tạm giao đất diện tích đt tranh chấp tích 170,7m
2
(trong đó phần
phía đông có các bụi dứa to diện tích là 126m
2
, phần phía bắc những bụi dứa
nhỏ những cây keo giống mới trồng diện tích 44,7m
2
) thuộc xóm N,
B, Hòa An, Cao Bằng cho bà ơng Thị H quản lý, sử dụng. Thửa đất có tứ cận
như sau:
- Phía tây giáp đt rừng ông Hoàng Văn Q, có ranh giới giữa đất rừng ông
Q và đất tranh chấp được xác định bởi bậc ngăn cách;
- Phía nam giáp đất rừng của ông Hoàng Văn Q, ranh giới giữa đất rừng
của ông Q và đất tranh chấp được xác định bởi mương nước;
8
- Phía đông và phía bắc giáp đường dân sinh lên nhà ông Dương Văn Q2.
(Có sơ đồ kèm theo).
Khi được giao đất bà H phải có trách nhiệm kê khai với cơ quan nhà nước
thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dng đất theo quy
định của luật đất đai.
3. Về án phí:
Buộc các bị đơn ông Hoàng n Q Hoàng Thị D phải liên đới chịu
án phí dân sự thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ
nhà nước.
- Về chi phí tố tụng: Buộc các bị đơn ông Hoàng Văn Q bà Hoàng Thị
D phải liên đới trả chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền
3.560.000đ (Ba triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) cho bà Dương Thị H.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
người phải thi hành án chưa thi hành khoản trên thì hàng tháng còn phải chịu
tiền lãi tương ứng với số tiền thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
4. Nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân s, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh;
- VKSND huyện, tỉnh;
- Chi cục THADS huyện;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn. (đã ký)
Lục Thanh Hải
Tải về
Bản án số 02/2019/DS-ST Bản án số 02/2019/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất