Bản án số 02/2018/HS-ST ngày 05/01/2018 của TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2018/HS-ST ngày 05/01/2018 của TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Sóc Trăng (TAND tỉnh Sóc Trăng)
Số hiệu: 02/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/01/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG
_________________________
Bản án số: 02/2018/HS-ST
Ngày 05-01-2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Hữu Hiền
2. Ông Trần Vĩnh Ảnh
- Thư phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc Thư Tòa án nhân dân thành
phố Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên
tòa: Ông Trầm Minh Khang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc
Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số:
102/2017/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 99/2017/HSST-QĐ ngày 04-12-2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T (tên gọi khác B), sinh ngày 20-9-1984; Nơi thường
trú: đường H, Khóm X, Phường Y, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nơi tạm trú:
đường H, Khóm X, Phường Y, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp:
Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà
Nguyễn Thị Ánh N; vợ 03 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần,
lần thứ nhất vào ngày 22-5-2016 bị Trưởng Công an Phường Y, thành phố S,
tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 001816/QĐ-XPHC
với số tiền 1.250.000đ về hành vi chửi bới gia đình lần thứ hai, ngày 03-3-
2017 bị Trưởng Công an Phường Y, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 00904/QĐ-XPHC với số tiền 750.000đ về
hành vi gây mất trật tự công cộng đến nay bị cáo đều chưa chấp hành việc đóng
2
phạt; Về nhân thân: bị cáo 01 lần tiền án, vào ngày 20-12-2005 bị Tòa án
nhân dân thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Sóc Trăng xử phạt 24 tháng tù về tội
“Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự thẩm s112/2005/HSST, đến ngày
27-7-2007 bị cáo chấp hành xong hình phạt đến lần phạm tội này bcáo đã
được xóa án tích; Bị bắt, tạm giam từ ngày 19-10-2017. (có mặt)
- Người bị hại: Ông Trương Thanh T1, sinh ngày 10-7-1999; Nơi trú:
Số X1/Y đường M, Khóm K, Phường Z, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng
mặt)
- Người làm chứng: Thị L, sinh m 1953; Nơi trú: Số X3/Y8A
đường N, Khóm X, Phường J, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 10-10-2017, T một mình điều khiển xe
nhãn hiệu Yamaha Hayate biển số 83P1-xxx.xx chạy lòng vòng trên các
tuyến đường trong thành phố S với mục đích tìm tài sản của người khác để
trộm cắp. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 11-10-2017, khi T đi ngang cửa hàng
điện thoại T2 tại sxxxD đường N, Phường J, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do
anh Trương Thanh T1 làm chthì T thấy trên cửa bóp khóa ngoài, biết
không có người bên trong nên T nảy sinh ý định vào đây trộm cắp tài sản. T đậu
xe trước tiệm điện thoại rồi dùng công cụ 02 cây tua vít và 01 cây mỏ lết
bằng kim loại mang theo sẵn để cạy khóa cửa ngoài khóa lớp cửa kính
bên trong để đột nhập vào cửa tiệm. Sau khi vào bên trong thì T quan sát thấy
trong tủ kính trưng bày để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy
J7 nên T đã lấy điện thoại này bỏ vào trong túi quần cất giấu, tiếp theo T mở
ngăn kéo bàn làm việc kế bên tkính tìm tài sản thì thấy bên trong số tiền lẻ
mệnh giá từ 1.000đ đến 5.000đ, tổng cộng khoảng 20.000đ nên T lấy số tiền này
bỏ vào túi quần cất giấu. Lúc này T nhìn thấy trên bàn làm việc để 01 Laptop
màu đen hiệu Dell, còn ở dưới bàn thì có để 01 cái két sắt hiệu K-One bên trong
số tiền Việt Nam 13.700.000đ nên T lấy số tài sản này. T ôm két sắt mang
ra ngoài để lên xe mô tô rồi chạy đến trước nhà sxxx trên đường N thì đem két
sắt giấu vào trong một bụi cây rồi điều khiển xe quay trở lại tiệm điện thoại để
lấy Laptop. Sau khi lấy Laptop thì T nhặt một áo a bằng nylon màu đỏ để
quấn Laptop lại để trên baga xe rồi điều khiển xe đến chỗ bụi cây đem két sắt để
lên trên xe rồi chở tất cả số tài sản trộm được này về nhà mình ở sxx/yy đường
H, Khóm O, Phường Y, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đcất giấu. Sau khi phát
3
hiện bị mất trộm tài sản tanh T1 đã đến công an Phường J, thành phố S trình
báo đồng thời giao nộp đoạn camera an ninh của cửa tiệm ghi lại quá trình thực
hiện hành vi phạm tội của T, trên cơ sở đó quan Điều tra đã triệu tập T làm
việc và T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận Định giá Tài sản số 153/KL.ĐGTS, ngày 17-10-2017 của Hội
đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố S kết luận: 01 máy tính xách
tay hiệu DELL, đời máy Inspiron 15R N5110, core I5 2450, Ram 4GB, màn
hình 15,6 inch, màu đen, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 50%, với số tiền
01x 13.090.000đ x 50% = 6.545.000đ; 01 điện thoại di động Sam sung J7
Prinme SM-G610F, màu vàng đồng, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại
70%, với số tiền: 01 x 5.290.000đ x 70% = 3.703.000đ; 01 két sắt điện tử hiệu
SAFE K-ONE, màu đen, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 90%, với số tiền
là 01 x 3.800.000đ x 90% = 3.420.000đ. Tổng cộng: 13.668.000đ.
Tại Cáo trạng số 104/QĐ.KSĐT ngày 29-11-2017 của Viện Kiểm sát nhân
dân thành phố S đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T vtội Trộm cắp tài sản” theo
Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa, Kiểm t viên vẫn gi nguyên quyết định truy tố bị cáo
Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sảntheo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình
sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử
tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm g, p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ
luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Đề nghị xphạt bị cáo từ
01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng .
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu
bồi thường nên không đề cập xử lý.
Về xử vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa
đổi, bổ sung năm 2009) Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây mỏ lết bằng kim loại, nhãn hiệu FORGED
STEEL 200mm; 01 cây tuốc vít bằng kim loại màu đen dài 10cm, mũi dẹp
cán bằng nhựa đỏ, chiều dài 8cm; 01 cây tuốc nơ vít bằng kim loại màu trắng dài
17cm, cán bằng nhựa màu đỏ; 01 áo mưa màu đỏ; 01 áo mi tay dài màu
xanh trắng, cổ áo bâu 01 quần jean của nam, ống quần ngắn ngang gối,
màu xanh.
4
Tại phiên tòa, ông Trương Thanh T1 người bị hại vắng mặt nên Hội
đồng xét xem xét lời khai của người bị hại tại các biên bản ghi lời khai thì người
bị hại thừa nhận đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường. Về hình phạt
yêu cầu xử phạt các bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận
Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tn sở nội dung ván, n cứ o các tài liệu trong h vụ án đã được
tranh tụng ti phiên tòa, Hội đồng xét x nhn đnh như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra, Viện kiểm sát,
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng
thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài
ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không người nào có ý kiến
hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, ông Trương Thanh T1 người bị hại Thị L là
người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì những người
nêu trên đã lời khai ràng về các tình tiết của vụ án việc vắng mặt của
những người trên cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội
đồng xét xcăn cứ vào các Điều 292 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận:
Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 11-10-2017, bị cáo điều khiển xe mô biển
số 83P1-357.24 đi ngang cửa hàng điện thoại T2 tại sxxxD đường N, Phường
J, thành phố S thì nhìn thấy cửa bóp khóa bên ngoài nên biết bên trong
không có người trông coi. Bị cáo mới dùng 02 cây tua vít và 01 cây mỏ lết mang
theo sẵn để cạy khóa cửa ngoài cùng khóa lớp cửa kính bên trong rồi đột
nhập vào cửa tiệm lấy trộm được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung
Galaxy J7, 01 Laptop màu đen và 01 cái két sắt bên trong có số tiền
13.700.000đ đem đi cất giấu đtìm nơi tiêu thụ. Khi công an Phường J, thành
phố S mời làm việc thì bị cáo thừa nhân toàn bộ hành vi phạm tội.
[4] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đã lợi dụng đêm khuya s
hở trong quản lý tài sản của người bị hại, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt được 01
máy tính xách tay hiệu DELL, 01 điện thoại di động Samsung J7, 01 két sắt điện
5
tử hiệu SAFE K-ONE, qua định giá giá trị là 13.668.000đ số tiền Việt
Nam 13.700.000đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt được
27.368.000đ. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài
sản của người khác một cách trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị
cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy
định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm
2009).
B o không có tình tiết ng nng. Sau khi phm tội bcáo đã thành khẩn
khai báo; tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại nên bị cáo phạm tội nhưng
gây thiệt hại không lớn. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm g, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trương Thanh T1 người bị hại đã nhận
lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[6] Về vật chứng của vụ án thu được: 01 cây mỏ lết bằng kim loại, nhãn
hiệu FORGED STEEL 200mm; 01 cây tuốc vít bằng kim loại màu đen dài
10cm, mũi dẹp cán bằng nhựa đỏ, chiều dài 8cm; 01 cây tuốc nơ vít bằng kim
loại màu trắng dài 17cm, có cán bằng nhựa màu đỏ; 01 áo mưa màu đỏ; 01 áo sơ
mi tay dài màu xanh trắng, cổ áo bâu 01 quần jean của nam, ống quần
ngắn ngang gối, màu xanh.
Xét thấy, cần xử lý vật chứng của vụ án như sau:
- Đối với 01 cái áo mưa, 02 cây tua vít 01 cây mỏ lết của bị cáo dùng
làm công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 áo mi dài tay 01 quần jean của nhân bị cáo. Tại
phiên tòa, bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần
tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bcáo phải chịu án phí hình sthẩm theo quy định pháp
luật.
[8] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật
căn cứ. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo mức khởi điểm như Kiểm sát
viên đề nghị là phù hợp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 138; điểm g, p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ
luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T (B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”
1. Xử phạt bcáo Nguyễn Hữu T (B) 01 (một) năm . Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 19-10-2017;
2. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về xử vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây mỏ lết bằng kim loại, nhãn hiệu FORGED
STEEL 200mm; 01 (một) cây tuốc vít bằng kim loại màu đen dài 10cm, mũi
dẹp cán bằng nhựa đỏ, chiều dài 8cm; 01 (một) cây tuốc vít bằng kim loại
màu trắng dài 17cm, cán bằng nhựa màu đỏ; 01 (một) áo mưa màu đỏ; 01
(một) áo mi tay dài màu xanh trắng, cổ áo bâu 01 (một) quần jean của
nam, ống quần ngắn ngang gối, màu xanh.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2015 và Nghị quyết số 326 ngày 30-12-2016 của U ban tng vQuốc Hội.
Buộc bị cáo phải nộp là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự
sơ thẩm.
Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án thẩm trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống
đạt hợp lệ theo quy định pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố Sóc Trăng;
- Công an thành phố Sóc Trăng;
- CQTHAHS Công an thành phố Sóc Trăng;
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc
Trăng;
- Bị cáo;
- Người bị hại;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Tải về
Bản án số 02/2018/HS-ST Bản án số 02/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất