Bản án số 02/2017/HSST ngày 01/11/2017 của TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2017/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2017/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2017/HSST ngày 01/11/2017 của TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ba Bể (TAND tỉnh Bắc Kạn) |
| Số hiệu: | 02/2017/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/11/2017 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN
Bản án số: 02/2017/HSST.
Ngày 01 tháng 11 năm 2017.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lâp - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lục Minh Đường;
2. Ông Dương Xuân Trường.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ma Văn Chung - Cán bộ Tòa án
nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên
tòa: Bà Hứa Thị Hồng Tươi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 11 năm 2017. Tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Ba Bể xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự thụ lý số: 05/2017/HSST, ngày 13 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Dương Văn H sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT: thôn N, xã T, huyện B, tỉnh
Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 8/12; Con ông:
Dương Văn H1 (đã chết) và bà Nông Thị H; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt
tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2017 đến nay và có mặt.
*Người làm chứng: Ông Ma Văn T sinh năm 1984; (có mặt)
Trú tại: T 3, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Dương Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 12/7/2017, tổ công tác Công an huyện Ba Bể làm nhiệm vụ tại tuyến
đường 279 thuộc xã B, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã phát hiện, bắt quả tang và
lập biên bản đối với các đối tượng Dương Văn H và Ma Văn T có hành vi sử dụng
trái phép chất ma túy tại ven đường thuộc thôn L, xã B, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc
Kạn. Tạm giữ được 01 mảnh giấy bạc đã cháy xém là công cụ sử dụng ma túy; 01
2
chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu UMY cùng số tiền 2.000.000 đồng
của Dương Văn H; 01 gói nhỏ chứa chất màu trắng dạng cục bột được gói bằng
giấy nilon màu trắng, bên trong bọc lớp nilon màu xanh cạnh chỗ H và T sử dụng
ma túy, tổ công tác đã niêm phong gói nhỏ chứa chất màu trắng dạng cục bột vào
trong phong bì ký hiệu A1 và đã đưa Dương Văn H, Ma Văn T về trụ sở Công an
huyện Ba Bể để làm rõ hành vi vi phạm.
Sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu về hành vi của Dương Văn H, Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể đã ra lệnh, tiến hành khám xét khẩn cấp đối
với nơi ở và các công trình phụ cận có liên quan của Dương Văn H ở thôn N, xã T,
huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ thêm đồ vật, tài
liệu gì.
Tại Cơ quan điều tra, đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để
cân xác định trọng lương (khối lượng) gói chất dạng cục bột màu trắng thu giữ của
Dương Văn H được 1,17 gam. Đã niêm phong 1,17 gam chất dạng cục bột màu
trắng vào phong bì dán kín ký hiệu B1 và bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự
Công an tỉnh Bắc Kạn để trưng cầu giám định.
Tại Thông báo kết quả giám định số 115/KTHS-MT ngày 14/7/2017 và Kết
luận giám định số 106/KTHS-MT ngày 08/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự
Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất dạng cục bột màu trắng trong phong bì
ký hiệu B1 thu giữ của Dương Văn H gửi giám định là chất ma túy, loại Hêrôin.
Sau giám định, mẫu chất còn lại là 1,142 gam cùng phong bì, giấy gói cũ được
niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T106 và hoàn trả lại cho Cơ quan cảnh sát
điều tra Công an huyện Ba Bể quản lý theo quy định.
Đối tượng Ma Văn T khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy, nên ngày
12/7/2017, Thoan được Dương Văn H rủ lên đỉnh đèo L đường 279 thuộc thôn L,
xã B, huyện Ba Bể để cùng sử dụng ma túy. Khi H và T đang cùng nhau sử dụng
ma tuý bằng hình thức hít thì bị tổ công tác Công an huyện Ba Bể phát hiện, bắt
quả tang. Số ma túy sử dụng là của Dương Văn H chia cho, còn gói ma túy thu giữ
tại hiện trường là của Dương Văn H.
Quá trình điều tra, Dương Văn H khai nhận: Bản thân là người nghiện ma
tuý (Hêrôin) nên ngày 08/7/2017, H xuống bến xe khách cũ Thái Nguyên, tỉnh
Thái Nguyên mua 01 gói ma túy (Hêrôin) với một người đàn ông (không rõ họ tên,
tuổi, địa chỉ) với số tiền 1.000.000 đồng về với mục đích để bản thân sử dụng.
Ngày 12/7/2017, H mang theo ma túy rồi cùng Ma Văn T đến xã B, huyện Ba Bể
chơi, sau đó H rủ Ma Văn T lên đỉnh đèo L đường 279 thuộc thôn L, xã B, huyện
Ba Bể để vào ven đường sử dụng ma túy. Khi đang cùng nhau sử dụng thì bị tổ
công tác Công an huyện Ba Bể phát hiện nên H vứt 01 gói ma túy để ở túi quần ra
khỏi người nhưng bị tổ công tác phát hiện và tạm giữ. Ngoài gói ma túy có trọng
3
lượng (khối lượng) 1,17 gam, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém, H còn bị tạm
giữ 01 chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu UMY và số tiền 2.000.000
đồng là tiền của H do làm thuê mà có.
Tại bản cáo trạng số: 40/KSĐT, ngày 11 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Dương Văn H về tội:
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ ...trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến
bảy năm”.
Tuy nhiên, tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
... c) Hêrôin …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”…
Như vậy, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt nhẹ
hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 đã được sửa đổi bổ sung
năm 2009; vận dụng các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, Nghị
quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, cần xem xét áp dụng điều luật có lợi cho
bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án.
*Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy
tố đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn
diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng.
XÉT THẤY:
Ngày 12/7/2017, Dương Văn H và Ma Văn T đang sử dụng ma túy (Hêrôin)
tại ven đường 279 thuộc thôn L, xã B, huyện Ba Bể thì bị tổ công tác Công an
huyện Ba Bể phát hiện và bắt quả tang. Tại hiện trường tổ công tác đã thu giữ được
của Dương Văn H 01 gói chất dạng cục bột màu trắng, H khai là ma tuý (Hêrôin),
01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém, 01 chiếc điện thoại di động và số tiền
2.000.000 đồng. Cơ quan chức năng kết luận: 01 gói chất dạng cục bột màu trắng
thu được của Dương Văn H có trọng lượng (khối lượng) 1,17 gam là chất ma túy,
loại Hêrôin.
Hành vi nêu trên của Dương Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ
4
sung năm 2009. Theo Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội này được quy định tại Điều
249. Mặc dù, BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật, song một số quy định có
lợi cho người phạm tội vẫn được xem xét áp dụng cho bị cáo trong quá trình xét xử
để thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước. Căn cứ vào điểm b khoản 1, điểm h
Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi
hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 thì:
“Điều luật ... quy định một hình phạt nhẹ hơn ... có lợi hơn thì được áp dụng đối
với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.
So sánh quy định về hình phạt thấy rằng: Khoản 1 Điều 194/BLHS năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Trong khi khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt tù từ 01
năm đến 05 năm. Như vậy, Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 quy định mức hình
phạt nhẹ hơn so với điều luật cũ, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 249/BLHS năm
2015 để tuyên xử đối với bị cáo. Do đó, cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249;
khoản 3 Điều 7/BLHS 2015; điểm b khoản 1, điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết
số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 đối với Dương Văn H.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố
đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý gây nguy hiểm cho
xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật
tự trị an, an ninh xã hội. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo
dục bị cáo và phòng ngừa chung.
*Xét về nhân thân bị cáo:
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo.
XÐt bÞ c¸o có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm gương cho
người khác, mµ l¹i lao vµo con ®-êng nghiÖn chÊt ma tuý, nªn khi xem xÐt l-îng
h×nh cÇn ph¶i cã mét h×nh ph¹t tho¶ ®¸ng t-¬ng xøng víi hµnh vi ph¹m téi của bÞ
c¸o. BÞ c¸o ®· cã thêi gian t¹m giữ, tạm giam tõ ngµy 12/7/2017 nªn ®-îc tÝnh vµo
thêi gian thô h×nh cho bÞ c¸o.
Trong vụ án này, Dương Văn H khai được mua ma túy với một người đàn ông
không rõ họ tên, địa chỉ ở bến xe khách tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, quá trình
điều tra không xác định được danh tính, con người, địa chỉ cụ thể nên không có căn
cứ xử lý. Đối với Ma Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng
hành vi này không cấu thành tội phạm hình sự.
*Về vật chứng của vụ án:
5
+ 01 (một) phong bì chứa mẫu ma túy hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T106,
bên trong chứa mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 1,142 gam cùng
phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước
phong bì có ghi mẫu hoàn trả vụ Dương Văn H, tàng trữ trái phép chất ma túy, mặt
sau có 03 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự
Công an tỉnh Bắc Kạn; 01(một) mảnh giấy bạc đã bị cháy xém. Tất cả đều không
có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu UMY màu đen, đã qua sử dụng và số
tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo,
nhưng tạm giữ để trừ vào số tiền phải thi hành án cho bị cáo.
*Hình phạt bổ sung và án phí:
Bị cáo phải chịu thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Dương Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*Áp dụng: khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình
sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b Khoản 1, điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị
quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249
của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt: bị cáo Dương Văn H 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/7/2017.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Dương Văn H 5.000.000 đồng (năm triệu
đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Việc thi hành án khoản tiền phạt được thực hiện theo Điều 357 Bộ luật dân
sự.
2. Về vật chứng:
Áp dụng: Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong ký hiệu T106, bên
trong chứa 1,142 gam chất ma túy và 01(một) mảnh giấy bạc đã bị cháy xém.

6
- Trả lại cho Dương Văn H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu UMY màu
đen, đã qua sử dụng và số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), nhưng tạm giữ để trừ
vào số tiền phải thi hành án cho bị cáo.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/10/2017
giữa Công an huyện Ba Bể và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể).
3. Về án phí:
Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
quy định về án phí. Buộc bị cáo Dương Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự” - Theo Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Kạn (01b);
- VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b);
- VKSND huyện Ba Bể (01b);
- Công an huyện Ba Bể (02b);
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể (Khi án
có hiệu lực - 01b);
- Sở Tư pháp (01b);
- Người tham gia tố tụng (01b);
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tạ Văn Tư
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng