Bản án số 01/2024/LĐ-PT ngày 25/03/2024 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2024/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 01/2024/LĐ-PT ngày 25/03/2024 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Yên
Số hiệu: 01/2024/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/03/2024
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Thanh N, Công ty TNHH một thành viên T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
Bản án số: 01/2024/LĐ-PT
Ngày: 25-3-2024
V/v “Tranh chấp tiền lương, bồi
thường thiệt hại khi chấm dứt
hợp đồng lao động”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Lâm;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Cao Gia và bà Vũ Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy An Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông
Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 25 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 01/2024/TLPT-DS ngày 24
tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp tiền lương, bồi thường thiệt hại khi chấm
dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 01/12/2023 của Toà án
nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2024/QĐPT-ngày
01 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1992, Địa chỉ: thôn B, C,
huyện P, tỉnh Bình Định; có mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH một thành viên T; Địa chỉ: đường s3, khu phố B,
phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Ông Đào
Đức H Chức vụ: Chủ tịch Công ty; Ủy quyền cho ông Ngọc N Chức vụ: Phó
tổng Giám đốc; vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: nghiệp trắc địa bản đồ H - Chi
nhánh Công ty TNHH một thành viên T; Địa chỉ: phường T, thành phố T, tỉnh Phú
Yên; vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện quá trình thu thập chứng cứ nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh N trình bày:
Ngày 21/12/2021, ông N đơn xin thực tập công việc tại Xí nghiệp trắc địa
bản đồ H. Đến ngày 02/01/2022, giữa ông N Công ty TNHH một thành viên T
(viết tắt là Công ty) kết Hợp đồng lao động, công việc nhân viên đo đạc, nơi làm
việc: Xí nghiệp trắc địa bản đồ H, địa chỉ: đường N, phường T, thành phố T, thời hạn
hợp đồng lao động từ ngày 02/01/2022 đến ngày 02/01/2025. Công ty trả lương theo
hình thức cứ mỗi đợt cuối năm thì Công ty sẽ tổng kết kết quả sản phẩm công việc,
mức đhoàn thành công việc như thế nào rồi stính lương hàng tháng Công ty
cho ứng lương 5.000.000đ. Trong quá trình làm việc, ông N bị Công ty chuyển đổi
nhiều nơi làm việc khác nhau không phù hợp với Hợp đồng lao động, trả lương
không đủ. Quá trình làm việc thì bị Công ty ngược đãi, cưỡng bức người lao động.
Nên ngày 22/5/2023 ông N đơn xin thôi việc. Đến ngày 25/5/2023, Công ty
Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động đối với ông N. Sau khi chấm dứt Hợp đồng
lao động thì Công ty chưa thanh toán cho ông N bao gồm các khoản sau:
- Tiền nghỉ tết từ ngày 19/01/2022 đến ngày 17/2/2022 với số tiền 5.569.200đ.
- Khoản tiền lương từ ngày 02/01/2022 đến ngày 16/4/2022: tổng cộng 60 ngày
công nhưng Công ty chi trả 46 ngày công. Còn lại 14 ngày công x 608.533đ x1.1 =
12.170.660đ.
- Khoản tiền lương: Từ ngày 22/7/2022 đến 13/9/2022: Theo Bản phân phối
thu nhập năm 2022 t hệ số của ông N 1,0 x 38,5 ngày công x 401.427đ =
15.454.954đ. Ông N đã nhận đủ số tiền trên nhưng ông yêu cầu phải thanh toán hệ số
1,1 mức hoàn thành tốt nhiệm v15.454.954 x 1,1 = 17.000.449đ. Vậy ng ty còn
thiếu 1.545.495đ.
- Tiền xăng từ tháng 02/2022 đến tháng 9/2022: 7 tháng x 600.000đ/tháng =
4.200.000đ.
- Tiền bồi thường về chấm dứt hợp đồng lao động do Công ty chấm dứt hợp
đồng trái pháp luật. Số tiền yêu cầu: Số ngày ông N không được làm việc. Cụ thể từ
ngày 01/6/2023 đến ngày 02/01/2025: 19 tháng x 5.896.800đ = 112.039.200đ; Công ty
phải chi trả tiền Bảo hiểm hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai
nạn lao động trong thời gian 19 tháng ông N không được làm việc: 19 tháng x
1.267.812đ = 24.088.428đ; Công ty phải trả khoản tiền 30 ngày không báo trước theo
mức lương trong Hợp đồng lao động là 5.896.800đ, trả thêm một khoản tiền ít nhất 02
tháng tiền lương trong Hợp đồng lao động 5.896.80x 2 = 11.793.600đ. Tổng cộng
153.818.028đ.
Quá trình thu thập chứng cứ đại diện bị đơn Công ty TNHH một thành viên T
trình bày:
3
Công ty TNHH một thành viên T là doanh nghiệp nhà nước. Công ty làm việc
theo mức hoàn thành sản phẩm và cuối năm có đánh giá sản phẩm. Hàng tháng có cho
nhân viên ứng lương. Việc chi trả lương dựa vào năng suất lao động, sản phẩm làm ra.
Tổ trưởng sản xuất là người chịu trách nhiệm hoạt động tổ tính theo mức hệ số K. Vào
cuối năm có bản phân phối thu nhập chi theo định mức dựa vào năng suất lao động để
có cơ sở tính lương. Về yêu cầu của ông N, Công ty có ý kiến như sau:
- Khoản tiền nghỉ tết từ ngày 19/01/2022 đến ngày 17/02/2022: Đã chi trả số
tiền 5.445.000đ (có bảng chi tiền lễ phép).
- Đối với khoản tiền lương từ ngày 02/01/2022 đến ngày 16/4/2022: Công ty đã
thanh toán đủ 46 ngày công. Còn lại 14 ngày công vào tháng 01/2022 Công ty đã
quyết toán trong bản phân phối thu nhập năm 2021 với số tiền 3.108.000đ (có bản
đính kèm).
- Khoản tiền lương: Từ ngày 22/7/2022 đến 13/9/2022: Theo Bản phân phối thu
nhập năm 2022 thì hệ số của ông N 1,0 x 38,5 ngày công x 401.427đ =
15.454.954đ. Ông N đã nhận đủ số tiền trên. Tự ý ông N cho nâng hệ số từ 1,0 đến 1,2
để hưởng chênh lệch tăng lên cho rằng Công ty thanh toán không đủ lương
không sở. hàng năm các tổ cũng đã họp xét hệ sK cho từng người
bảng lương phân phối thu nhập hàng năm trừ đi phần lương đã ứng nên phần lương
năm 2022 ông N đã được công ty thanh toán đủ với mức độ hoàn thành nhiệm vụ.
- Tiền xăng từ tháng 02/2022 đến tháng 9/2022: 7 tháng x 600.000đ/tháng =
4.200.000đ: ông N đã ký nhận tiền xăng.
- Tiền bồi thường về chấm dứt hợp đồng lao động do Công ty chấm dứt hợp
đồng trái pháp luật. Số tiền yêu cầu: 153.818.028đ. Công ty chấm dứt hợp đồng lao
động đúng pháp luật theo nguyện vọng của ông N và Công ty không ngược đãi, cưỡng
bức người lao động. Còn việc luân chuyển do đặc thù công việc để hoàn thành công
trình.
Tại Bản án lao động sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 01/12/2023 của Toà án
nhân dân thành phố Tuy Hòa đã căn cứ vào: Điều 13, Điều 14, Điều 34, Điều 35,
Điều 94, Điều 95, Điều 96, Điều 97, Điều 101 Bộ luật lao động.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Nguyễn Thanh N.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 14/12/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N kháng o toàn bộ Bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu: Về
thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật
4
tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo quy định pháp
luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng
dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến trình
bày của các đương sự, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn còn trong thời hạn
luật định đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý, giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Đương sự vắng mặt tại phiên toà đã được triệu tập hợp lệ, đơn xin xét
xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét lại toàn bộ quyết định của Bản án thẩm đối với u cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
[2.1] Về nội dung thỏa thuận lao động của 2 bên: Hợp đồng lao động số
770/HĐLĐ-1 ngày 27/12/2021 kết giữa ông Nguyễn Thanh N và Công ty TNHH
T, loại hợp đồng xác định thời hạn, thời hạn hợp đồng từ ngày 02/01/2022 đến ngày
02/01/2025, địa điểm làm việc tại các điểm thực hiện công trình, dự án của Công ty
và chịu sự điều động phân công của người sử dụng lao động khi chuyển địa điểm làm
việc. Chức danh công việc Chuyên viên đo đạc địa chính, công việc phải làm đo đạc
địa chính thực hiện công việc theo quy định về chức năng nhiệm vụ của đơn vị,
theo sự phân công của Thủ trưởng đơn vị. Mức lương chính bậc 1/5, hệ số 1,21 của
thang Cử nhân/Kỹ sư, tiền lương 5.348.200đ/tháng, phụ cấp nặng nhọc độc hại
221.000đồng/tháng. Hình thức trả lương tiền mặt/chuyển khoản, kỳ hạn trả lương ứng
lương hàng tháng và quyết toán theo kết quả thực hiện vào cuối năm.
[2.2] Đến ngày 22/5/2023, ông Nguyn Thanh N đơn xin thôi vic cho
rng b đồng nghiệp làm hng tài sn, xúc phm danh d nhân phẩm, không được
tr đủ lương, chuyển nhiu t sn xuất không đúng với ni quy quy chế làm vic n
ông N đơn xin thôi việc và yêu cu công ty thanh toán các khoản lương còn li, bo
him xã hi, bo him tht nghip mong Công ty xem xét và chp thun cho ông N
đưc phép thôi việc. Đến ngày 25/5/2023, Công ty quyết định v vic chm dt hp
đồng lao đng s 346/QĐ-TMN. Sau khi nhn Quyết định chm dt hợp đồng, ông N
khi kin Công ty thanh toán các khon bao gm:
5
[2.2.1] Yêu cầu trả tiền nghỉ tết từ ngày 19/01/2022 đến ngày 17/2/2022 với số
tiền 5.569.200đ. Xét thấy: Tại Bản danh sách chi tiền lương phép và lương các ngày
nghĩ lễ, tết năm 2022 do bị đơn cung cấp có thể hiện ông N đã ký tiền lương, phép với
số tiền 3.049.000đ tiền lương ngày lễ, tết với số tiền 2.396.000đ. Tổng cộng ông N
đã nhận vào bảng lương của công ty với số tiền 5.445.000đ. Nên cấp thẩm
không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ.
[2.2.2] Khoản tiền ơng từ ngày 02/01/2022 đến ngày 16/4/2022: tổng cộng 60
ngày công nhưng công ty chi trả 46 ngày công. Còn lại 14 ngày công trong tháng
01/2022 thì công ty chưa chi trả. Nguyên đơn ông N cho rằng trong năm 2021 có nhận
tiền thử việc 3.108.000đ, n bị đơn Công ty trình bày trong tháng 01/2022 ông N
làm được 14 ngày công với số tiền 4.608.000 đồng; ông N đã tạm ứng 1.500.000đ
nhận trực tiếp tại Bản phân phối sản phẩm năm 2021 với số tiền 3.108.000đ. Xét
thấy, ngày 08/01/2022 Công ty tiến hành quyết toán lương theo sản phẩm năm 2021.
Do ông N làm được trong tháng 01/2022 với 14 ngày công x 0,9 x 365.694 ngày công
= 4.608.000đ, đã ứng 1.500.000đ, còn lại 3.108.000đ nên Công ty quyết toán luôn
ngày công cho sản phẩm công trình vào cuối m 2021. Theo quy định tại khoản 1
Điều 24 Bộ luật lao động quy định “Người sử dụng lao động và người lao động có thể
thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong Hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử
việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc”. Tuy nhiên, giữa hai bên không có giao kết
hợp đồng thử việc chỉ nguyên đơn ông N đơn xin thực tập công việc
(BL206) với nội dung trong quá trình hoàn thiện hồ chờ nghiệp chấp thuận, tôi
xin nghiệp chấp thuận cho tôi thực tập các công việc tại công trình nghiệp đang
thi công”. Do đó, ông N cho rằng nhận số tiền thử việc 3.108.000đ không có
sở; thực chất đây số tiền Công ty thanh toán 14 ngày công cho ông N tại Bản phân
phối thu nhập năm 2021 kèm theo Biên bản họp ngày 18 tháng 01 năm 2022 (BL179).
Như vậy, cấp thẩm đã nhận định không chấp nhận yêu cầu này của ông N
căn cứ.
[2.2.3] Đối với khoản tiền lương từ ngày 22/7/2022 đến 13/9/2022: Theo Bản
phân phối thu nhập năm 2022 thì hệ số của ông N là 1,0 x 38,5 ngày công x 401.427đ
= 15.454.954 đồng. Ông N đã nhận đủ số tiền trên nhưng ông N yêu cầu phải thanh
toán hệ số 1,1 mức hoàn thành tốt nhiệm vụ 15.454.954 x 1,1 = 17.000.449đ. Nên
Công ty còn thiếu 1.545.495đ chưa chi trả. Xét thấy: Tại Bảng tổng hợp kết quả đánh
giá cán bộ và người lao động đơn vtrực thuộc Công ty năm 2022 (BL 202) kết quả
đánh giá Nguyễn Thanh N hoàn thành nhiệm vụ được trưởng ban tổng hợp ông H
Đình Dũng và thủ trưởng đơn vị ông Lê Ngọc Hưng xác nhận dựa trên Phiếu đánh giá
mức độ hoàn thành nhiệm vụ bộ phận trực thuộc đơn vị người lao động năm 2022, ông
N tự đánh giá Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Đánh giá của lãnh đạo đơn vị phụ
6
trách nhận xét ông Nguyễn Thanh N: chưa nhiệt tình trong công việc, không tuân thủ
tổ chức, lối sống thiếu hòa đồng, gây mâu thuẫn trong tập thể, hay làm việc riêng
trong gilàm việc, việc chung hoàn thành mức thấp nhất, xếp loại mức hoàn thành
nhiệm vụ do trưởng bộ phận ông Phạm Quang V ký tên xác nhận. Tại Bảng phân phối
thu nhập năm 2022, ông Nguyễn Thanh N đã được thanh toán 38,5 ngày công thành
tiền 15.455.000đồng, đã ứng 10.000.000đ, nhận 5.455.000đ. Tại Biên bản họp tổ
sản xuất về việc họp phân chia lương năm 2022 (BL166) thể hiện tính ngày công hệ số
K lương sản phẩm cho từng người các thành viên trong tổ đều thống nhất 18/18
người (100%). Đến ngày 20/4/2023, ông N có đơn kiến nghị giải quyết tiền lương năm
2022 với nội dung “ông luôn làm việc theo sự chỉ đạo hướng dẫn của các ông tổ
trưởng thuộc nghiệp H, không vi phạm trong quá trình công tác. Ngày
25/5/2023, Tổng giám đốc ng ty Công văn số 387/TMN-VP về việc phân phối
tiền lương đã được công khai đồng thuận của người lao động ở các tổ sản xuất, tại các
tổ đại diện Ban chấp hành công đoàn, ông Nguyễn Thanh N cũng đã đồng ý việc
phân phối tiền lương. Việc phân phối tiền lương theo sản phẩm năm 2022, ông N cũng
đã nhất trí chi lương ông N nhận vào bảng lương. Theo Hợp đồng lao động
hai bên kết thể hiện việc trả lương theo hình thức ứng ơng hàng tháng quyết
toán theo kết quả thực hiện vào cuối năm; điều này phù hợp với quy định tại khoản 3
Điều 97 Bộ luật lao động H9:“người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo
khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên, nếu công việc phải làm trong
nhiều tháng tng tháng được tạm ng tiền lương”. Như vậy Công ty đã thực hiện
đúng về tiền lương theo Hợp đồng lao động hàng tháng cho tạm ứng lương cuối
năm quyết toán dựa trên đánh giá hsố phân phối tiền lương sản phẩm đã được
công khai các tổ sản xuất. Do đó, việc ông N tự nâng hệ số K 1,1 hoặc K 1,2 và yêu
cầu Công ty trả số tiền còn thiếu lương sản phẩm năm 20221.545.495đ là không có
cơ sở, cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ.
[2.2.4] Nguyên đơn ông N yêu cầu Công ty thanh toán tiền xăng, điện thoại từ
tháng 02, tháng 3, tháng 4, tháng 8, tháng 9/2022 số tiền 4.200.000đ. Tại phiên tòa
thẩm, ông N thừa nhận chữ trong bảng danh sách chi tiền phụ cấp xăng xe thì trực
tiếp ông N nhận nhưng không nhận stiền trên. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh
N không tài liệu chứng cứ chứng minh về việc ông không nhận số tiền trên. Nên
không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
[2.2.5] Đối với yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do Công ty chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật, tổng cộng là: 153.998.028đ. Xét: Trước ngày 22/5/2023, ông
N nghỉ việc nhưng không thông báo với nghiệp trắc địa bản đồ H. Đến ngày
22/5/2023, Công ty thông báo cho ông N phải mặt tại công trình Ngọc Réo,
huyện Đắk Hà, tỉnh Kom Tum để giải quyết các vấn đề liên quan đến nghỉ việc nêu
7
trên. Nếu sau thời gian trên ông N không mặt tCông ty sgiải quyết theo luật
định. Tuy nhiên ông N không quay trở lại làm việc Đơn xin thôi việc ký ngày
22/5/2023. Sau khi nhận Đơn xin nghỉ việc của ông N nên Công ty đã Quyết định
chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Bộ luật lao động “Hai
bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động” và Công ty không đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật nên không nghĩa vụ bồi thường. Ngoài ra ông N
trình bày bị ngược đãi, xúc phạm trong quá trình làm việc nhưng ông N không tài
liệu chứng cứ chứng minh nên cấp thẩm đã không chấp nhận yêu cầu đòi bồi
thường thiệt hại là có căn cứ.
Từ những phân tích, đánh giá Mục [2] t đnghị của Kiểm sát viên tại
phiên tòa phúc thẩm phợp, căn nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí lao động thẩm phúc thẩm,
theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N;
Giữ nguyên Bản án Lao động thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 01/12/2023 của Toà
án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Áp dụng các Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 13, Điều 14,
Điều 34, Điều 35, Điều 94, Điều 95, Điều 96, Điều 97, Điều 101 Bộ luật Lao động;
Điều 12 Nghị quyết s326/H6/UBTVQH 14, ngày 30/12/H6 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sdụng án phí lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh N.
[2] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N được miễn án phí thẩm
dân sự và phúc thẩm dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
8
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Yên;
- TAND Tp. Tuy Hòa;
- VKSND Tp. Tuy Hòa;
- Chi cục THADS Tp. Tuy Hòa;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn, KTNV, TT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lê Trúc Lâm
Tải về
Bản án số 01/2024/LĐ-PT Bản án số 01/2024/LĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất