Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ea Kar (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 01/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/01/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Phan Đình T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 01/2024/HSST
Ngày 08/01/2024
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Thu Ba.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Hằng.
2. Ông Nguyễn Đình Thanh.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Hồ Quốc Nam– Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: bà
Nguyễn Thị Minh Nguyệt– Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2023/HSST ngày 24/11/2023 theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HS ngày 25/12/2023 đối với:
- Bị cáo: Phan Đình T sinh năm 1990 tại: huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Nơi
cư trú: Thôn 4, xã ER, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học
vấn: lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phan
Văn P, sinh năm 1963 và con bà Trần Thị K, sinh năm 1968; vợ là Nguyễn Tường
V, sinh năm 1996 và 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020); Tiền
án, tiền sự: không.
Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo
đang tại ngoại- có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Công H, sinh năm 1985 (đã chết).
2
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: ông Nguyễn Công N, sinh năm 1963 và bà
Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968 (bố mẹ đẻ của ông Nguyễn Công H). Nơi cư trú: Tổ
dân phố 3A, thị trấn EK, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk: ông N có mặt, bà H1 vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Lệ T1, sinh năm 1972. Nơi
cư trú: Tổ dân phố 1, xã N, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa: vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Công H2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ dân
phố 3A, thị trấn EK, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk: vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Phan Đình T là người đã có giấy phép lái xe hạng D; ngày 20/8/2023, T
được bà Lê Thị Lệ T1 (Sinh năm: 1972, trú tại tổ dân phố 1, xã N, thị xã H, tỉnh
Khánh Hòa) giao xe ô tô tải biển kiểm soát số 79C-129.92 (xe ô tô do bà T1 đứng
tên) để thuê T chở hàng đi từ tỉnh Khánh Hòa đến thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh
Đắk Lắk. Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm
soát số 79C-129.92 đi đến Km101 + 900m Quốc lộ 26 thuộc Thôn Chư Cúc, xã Ea
Kmút, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk theo hướng Khánh Hòa đi Buôn Ma Thuột thì
phát hiện có 01 xe ô tô cũng đang lưu thông phía trước cùng chiều; lúc này, trời đã
tối và ngoài trời có mưa nên tầm nhìn bị hạn chế. Nhưng khi quan sát thấy phía
trước không có phương tiện nào đi ngược chiều nên T đã bật đèn xi nhan bên trái,
đánh lái sang trái và tăng tốc độ để vượt xe ô tô phía trước cùng chiều, do thiếu chú
ý quan sát, vượt không đảm bảo an toàn nên T điều khiển xe ô tô tải đi sang hẳn làn
đường ngược chiều và vượt được một nửa xe ô tô ở bên phải cùng hướng đi thì T
nhìn thấy phía trước có xe mô tô biển kiểm soát số 30Z9-3172 do ông Nguyễn
Công H điều khiển theo hướng ngược lại chạy với tốc độ nhanh lao về phía đầu xe
ô tô của T. Bị bất ngờ nên T đạp thắng lại để giảm tốc độ nhưng do đang đi ở phần
đường của xe ngược chiều, không kịp đánh lái sang hướng khác để tránh nên xe mô
tô biển kiểm soát 30Z9-3172 đã đâm trực diện vào đầu bên trái của xe ô tô tải biển
kiểm soát 79C-129.92 của T; xe ô tô tải đẩy xe mô tô trượt về phía trước thêm một
đoạn rồi dừng hẳn ở làn đường bên trái theo hướng đi của mình. Hậu quả, ông
Nguyễn Công H chết trên đường đi cấp cứu, xe mô tô và ô tô bị hư hỏng.
Kết quả đo nồng độ cồn đối với Phan Đình T vào lúc 19 giờ 30 phút ngày
20/8/2023, xác định: Nồng độ cồn là 0.00 mg/L. (BL số: 60)
Kết quả xét nghiệm sinh hóa đối với Nguyễn Công H vào lúc 22 giờ 42 phút
ngày 20/8/2023 của Trung tâm y tế huyện Ea Kar, xác định định lượng Ethanol (cồn)
[máu] là 2,77 H. (BL số: 62)
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/8/2023, xác định:
3
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là tại km 101+ 900m Quốc lộ 26
thuộc Thôn Chư Cúc, xã Ea Kmut, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk là đoạn đường
thẳng, được trải bê tông mặt đường rộng 12m90; Ở giữa mặt đường kẻ một vạch
sơn màu vàng đứt quãng chia mặt đường thành hai chiều đường. Ở giữa chiều
đường bên phải Quốc lộ 26 theo hướng Đắk Lắk đi Khánh Hòa kẻ một vạch sơn
liền màu trắng chia chiều đường thành hai làn đường. Cách trung tâm hiện trường
khoảng 100m về hai hướng Đắk Lắk, Khánh Hòa không có biển báo giao thông
đường bộ.
Tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 18 giờ 20 phút ngày 20/8/2023. Trời tối,
mặt đường ẩm, ướt, hai bên đường Quốc lộ 26 có đèn chiếu sáng công cộng, việc
khám nghiệm hiện trường sử dụng đèn chiếu sáng ô tô và đèn pin. Các phương tiện
và dấu vết có liên quan được lực lượng Công an xã, nhân dân bảo vệ, riêng người
bị tai nạn đã được đưa đi cấp cứu.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, thống nhất chọn mép đường bên phải
Quốc lộ 26 theo hướng Đắk Lắk – Khánh Hòa làm mép đường chuẩn đo đến các
phương tiện, dấu vết liên quan đến vụ tai nạn, chọn trụ điện VNC84B làm điểm
mốc và đo đến tâm đầu trục sau bên trái xe ô tô tải biển kiểm soát số 79C-129.92 là
25m05.
Căn cứ dấu vết để lại hiện trường, dấu vết để lại trên phương tiện có liên
quan xác định: Điểm đụng (điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện) trong vụ
tai nạn giao thông có hình chiếu vuông góc với mặt đường nhựa nằm trên chiều
đường bên phải đường Quốc lộ 26 theo hướng Đắk Lắk – Khánh Hòa. Hình chiếu
điểm đụng đo vào mép đường chuẩn là 04m47; đo đến tâm đầu vết cày là 01m20;
đo đến tâm đầu trục sau bên trái xe ô tô tải biển kiểm soát số 79C-129.92 là
09m70; đo đến tâm trục trước xe mô tô biển kiểm soát số 30Z9-3172 là 15m50 và
đo đến trụ điện VNC84B là 17m10.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu HINO, màu sơn
trắng, biển kiểm soát 79C-129.92; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030147
mang tên Lê Thị Lệ T1; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thật và bảo vệ
môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA4495757; 01 giấy chứng
nhận bảo hiểm xe ô tô: Quá trình điều tra, Công an huyện Ea Kar đã giao trả cho bà
Lê Thị Lệ T1 là chủ sở hữu hợp pháp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe
Jupiter màu đen bạc biển kiểm soát 30Z9-3172: quá trình điều tra, Công an huyện
Ea Kar đã giao trả cho ông Nguyễn Công N là người đại diện hợp pháp của bị hại;
01(một) giấy phép lái xe hạng D số 790105262882 mang tên Phan Đình T được Sở
giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 04/4/2022 có giá trị đến 04/4/2027 chưa
xử lý.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 180/KLGĐTT-PY ngày 18/9/2023 của
Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, xác định: Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Công
4
H là Chấn thương sọ não nặng; Gãy xương hàm dưới hai bên; Gãy 1/3 giữa xương
đùi trái; Gãy 1/3 trên hai xương cẳng chân trái; Các chấn thương, vết thương khác
do tai nạn giao thông.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 42/BB-HĐ 334 ngày 16/10/2023 của Hội
đồng định giá tài sản trong tụng hình sự kết luận: Giá trị tài sản bị thiệt hại sau tai
nạn đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter; màu sơn đen bạc, biển kiểm
soát 30Z9- 3172 (đã qua sử dụng) có giá trị thiệt hại là 8.000.000
đ
; xe ô tô nhãn hiệu
HINO, loại xe có mui, màu sơn trắng, biển kiểm soát 79C – 129.92 (đã qua sử dụng)
có giá trị thiệt hại là 9.750.000
đ
. Tổng tài sản bị thiệt hại là 17.750.000
đ
(Mười bảy
triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
-Tại phiên tòa, bị cáo Phan Đình T khai nhận: Toàn bộ diễn biến hành vi
phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận lỗi do
tham gia giao thông vượt xe phía trước nhưng thiếu chú ý quan sát xe chạy ngược
chiều trong đoạn đường định vượt, vượt xe không đảm bảo an toàn, vượt trong điều
kiện thời tiết xấu và đường trơn nên gây tai nạn cho ông Nguyễn Công H.
- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại
trình bày: sau khi bị tai nạn, bị cáo và bà Lê Thị Lệ T1 thường xuyên thăm hỏi, động
viên và bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình tôi với tổng số tiền là
250.000.000
đ
(hai trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình tôi đã tự nguyện làm đơn bãi
nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm
soát 30Z9- 3172 là do Nguyễn Công H mua khoảng năm 2007-2008 và quản lý, sử
dụng cho đến nay. Khi mua thì không viết giấy tờ gì và chưa làm thủ tục sang tên.
Sau tai nạn xe bị hư hỏng, gia đình đã được nhận lại. Nay yêu cầu Hội đồng xét xử
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi
thường gì thêm.
- Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị
Lệ T1 trình bày: Xe ô tô tải biển kiểm soát 79C – 129.92 là của tôi giao cho bị cáo
để chở hàng từ Khánh Hòa đi Đắk Lắk. Ngày 20/8/2023, bị cáo điều khiển xe ô tô
tải biển kiểm soát 79C – 129.92 đi gây tai nạn. Sau tai nạn xe có bị hư hỏng nhưng
tôi đã được cơ quan điều tra giao trả lại xe và đã tự sửa chữa hư hỏng. Do đó, tôi
không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Ea Kar đã truy tố bị cáo Phan Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar thực hành quyền
công tố luận tội: Hành vi của bị cáo Phan Đình T đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ nên giữ nguyên quyết định truy tố và đề
5
nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Đình T, phạm tội “Vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
khoản 1, khoản 2, Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Phan Đình T: từ 01
(một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; khoản
3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận việc Công
an huyện Ea Kar đã giao trả cho bà Lê Thị Lệ T1: 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu
HINO, màu sơn trắng, biển kiểm soát 79C-129.92; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô
tô số 030147 mang tên Lê Thị Lệ T1; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thật
và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA4495757; 01
giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô là chủ sở hữu hợp pháp và giao trả cho ông
Nguyễn Công N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter màu đen bạc biển
kiểm soát 30Z9-3172 là người đại diện hợp pháp của bị hại.
Tuyên trả cho bị cáo 01(một) giấy phép lái xe hạng D số 790105262882 mang
tên Phan Đình T được Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 04/4/2022 có giá
trị đến 04/4/2027.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585,
586 và Điều 591 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc bị cáo
Phan Đình T đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại với tổng
số tiền 250.000.000
đ
(hai trăm năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, người đại diện
hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải
quyết.
Bị cáo Phan Đình T và người đại diện hợp pháp của bị hại đều đồng ý với
luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar và không tranh luận gì
thêm. Tại phần lời nói sau cùng bị cáo Phan Đình T tỏ thái độ ăn năn và đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng và Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an
huyện Ea Kar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những
người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng
của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

6
[2] Xét lời khai của bị cáo phù hợp với sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện
trường tai nạn, phù hợp với biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn
giao thông, phù hợp với bản kết luận pháp y tử thi, phù hợp với lời khai người đại
diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và
các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận:
khoảng 18 giờ 20 phút ngày 20/8/2023, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát
số 79C-129.92 do thiếu sự quan sát, vượt sai quy định không đảm bảo an toàn, vượt
trong điều kiện thời tiết xấu, đường trơn nên đã va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát
số 30Z9-3172 do ông Nguyễn Công H điều khiển ngược chiều, hậu quả ông H bị
chết trên đường đưa đi cấp cứu. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 14 Luật giao
thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn
công cộng, xâm hại đến tính mạng của người khác. Do đó, quyết định truy tố của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đối với bị cáo Phan Đình T, về tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật
Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn
giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết người.
…”.
Bị cáo đã học và được cấp giấy phép lái xe hạng D vào ngày 04/4/2022 nên có
đầy đủ nhận thức, biết rõ khi điều khiển xe ô tô tải tham gia giao thông phải chấp
hành nghiêm túc Luật giao thông đường bộ. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng
mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự,
sau khi gây tai nạn bị cáo đã thăm hỏi, động viên và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho
gia đình bị hại, được họ tự nguyện viết đơn bãi nại không yêu cầu xử lý về hình sự.
Bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai
báo, thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác, tại phiên tòa
người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra,
trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi là khi tham gia giao thông điều khiển
xe mô tô biển kiểm soát số 30Z9-3172 trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu.
Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng
hình nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Xét thấy bị cáo Phan Đình T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi
7
cư trú rõ ràng, có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy
định khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, không cần thiết phải cách ly
bị cáo ra ngoài xã hội mà chỉ cần áp dụng bằng biện pháp miễn chấp hành hình phạt
tù có điều kiện cũng đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa
chung cho xã hội.
Vì vậy, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt và biện pháp
chấp hành hình phạt tù có điều kiện là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Công an huyện Ea Kar đã giao trả
cho bà Lê Thị Lệ T1 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu HINO, màu sơn trắng, biển
kiểm soát 79C-129.92; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030147 mang tên Lê
Thị Lệ T1; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thật và bảo vệ môi trường
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA4495757; 01 giấy chứng nhận bảo
hiểm xe ô tô là chủ sở hữu hợp pháp và giao trả cho ông Nguyễn Công N 01 xe mô
tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter màu đen bạc biển kiểm soát 30Z9-3172 là
người đại diện hợp pháp bị hại. Xét việc xử lý vật chứng của Công an huyện Ea Kar
là có căn cứ, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, phù hợp
với điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố
tụng Hình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 01(một) giấy phép lái xe hạng D số 790105262882 mang tên Phan
Đình T được Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 04/4/2022 có giá trị đến
04/4/2027 do không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả cho bị cáo Phan
Đình T.
[5] Về trách nhiệm dân sự: sau khi tai nạn, bị cáo Phan Đình T đã tự nguyện
bồi thường toàn bộ thiệt hại gồm chi phí mai táng, tiền tổn thất về tinh thần và các
chi phí hợp pháp khác cho gia đình bị hại với tổng số tiền 250.000.000
đ
(hai trăm
năm mươi triệu đồng). Xét việc bồi thường này là tự nguyện, phù hợp với Điều 48
Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 591 Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng
xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi
thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: bị cáo Phan Đình T, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
8
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản
1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
[1] Xử phạt: Phan Đình T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng
án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Đình T cho Uỷ ban nhân dân xã ER, huyện EH, tỉnh Đắk
Lắk giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối
hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Phan Đình T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định
tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Chấp nhận việc Công an huyện Ea Kar đã giao trả cho bà Lê Thị Lệ Thủy:
01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu HINO, màu sơn trắng, biển kiểm soát 79C-129.92;
01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030147 mang tên Lê Thị Lệ T1; 01 Giấy
chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông
cơ giới đường bộ số DA4495757; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô là chủ sở
hữu hợp pháp.
- Chấp nhận việc Công an huyện Ea Kar đã giao trả cho ông Nguyễn Công N:
01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter màu đen bạc biển kiểm soát 30Z9-
3172 là người đại diện hợp pháp của bị hại.
- Tuyên trả cho bị cáo Phan Đình T 01(một) giấy phép lái xe hạng D số
790105262882 mang tên Phan Đình T được Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp
ngày 04/4/2022 có giá trị đến 04/4/2027 có đặc điểm như biên bản giao nhận vật
chứng, tài sản ngày 27/11/2023 giữa Công an huyện Ea Kar và Chi cục thi hành án
dân sự huyện Ea Kar.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584,
585, 586 và Điều 591 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Phan Đình T đã tự
nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại với tổng số tiền
250.000.000
đ
(hai trăm năm mươi triệu đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội
đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng
Hình sự: Bị cáo Phan Đình T phải chịu 200.000
đ
(hai trăm nghìn đồng) án phí hình

9
sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại coa mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án. Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
vắng mặt có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Nơi nhận T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TAND tỉnh Đắk Lắk. THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
-Vụ giám đốc kiểm tra 1-
TAND Tối cao.
-Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk.
-VKSND huyện Ea Kar.
-Chi cục THADS huyện Ea Kar.
-Công an huyện Ea Kar.
-Cơ quan THAHS huyện Ea Kar.
-Các bị cáo-đương sự; Hồ Thị Thu Ba
- Lưu hồ sơ, VP.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm