Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tủa Chùa (TAND tỉnh Điện Biên)
Số hiệu: 01/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/04/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/4/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Lò Thị Dậu, bà Sùng Thị Sua
- Thư phiên tòa: Thị Thu - Thư Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa,
tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia
phiên tòa: Ông Lò Văn Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ s Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa
xét xthẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 01/2023/TLST - HNngày
02 tháng 11 năm 2023, vviệc: Ly n, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXX- ST ngày 18 tháng 3 năm
2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 4
năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị H - Sinh năm 1987
Nơi đăng thường trú nơi trú hiện nay: Bản V1, Đ, huyện G, tỉnh
Điện Biên. Có mt.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn D - Sinhm 1985
Nơi đăng thường t i trú hiện nay: Bản K, Đ, huyện C, tỉnh Đin
Biên. Vng mt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện tại phiên tòa nguyên đơn chị Thị H trình bày:
Chị H anh D chung sống với nhau từ năm 2006 do sự tự nguyện của cả hai
bên, hai người không đăng kết hôn. Quá trình chung sống hai người sống
hạnh phúc từ năm 2006 đến năm 2017.
Từ m 2018 hai người bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chính là do
bị đơn nghiện ma túy không cùng nguyên đơn vun đắp cuộc sống chung của gia
đình dẫn đến tình trạng hôn nhân ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ
chồng không còn, năm 2022 nguyên đơn đã chuyển v sinh sống tại Bản V1,
2
Đ, huyện G và hai người sống ly thân từ đó đến nay. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án
giải quyết:
Về hôn nhân: Được ly hôn với anh Lò Văn D.
Về con chung: Hai người 02 con chung là Thị H1 - Sinh ny
08/11/2007, Lò Văn H - Sinh ngày 07/8/2010, chị yêu cầu được ni ỡng, chăm
c con Lò ThH1, giao cho anh Lò Văn D nuôi ỡng, cmc con Lò Văn H
không yêu cầu Tòa án giải quyết v cp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về phía bị đơn: Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành thụ lý vụ
án gửi thông báo cho bị đơn biết, nhưng bị đơn không văn bản ý kiến gửi
Tòa án không đến Tòa án giải quyết. Hết thời hạn Tòa án đã đến nơi trú
của bị đơn Văn D xác minh được biết: Anh Văn D đăng thường trú
nơi trú tại Bản K, Đ, huyện C, tỉnh Điện Biên, nhưng hiện nay đang đi
làm thuê xa nên đi về thất thường. Do vậy Tòa án đã tiến hành lập các biên bản
xác minh tiến hành lập các thủ tục niêm yết thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải tại nơi trú của anh D,
tại UBND xã Đ, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa theo quy định của pháp
luật để đảm bảo quyền lợi cho anh D, nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do
nguyên đơn đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, vậy Tòa án không
tiến hành hòa giải.
- Tại biên bản c minh tại Bản K, Đ, huyện C: Ông n V (tng
thôn) bà ThS (mđẻ của bị đơn) cùng cho biết: Nguyên nhân u thuẫn
giữa chị Lò Thị H và anh Lò Văn D chính quyền thôn và gia đình cũng không nắm
được, hai người đã ly thân với nhau. Hiện tại anh D nơi đăng thưng trú và
i trú tại Bản K, Đ, nhưng do anh D đi làm thuê xa đi về tht thường
không cung cấp được địa chỉ không rõ thời điểm trở về, trong thời gian bị đơn đi
m thuê có nhờ bà Lò ThS trông nom con hộ và thường xuyên gi tiền cho
Thị S để ni các con hộ.
Ngày 22/4/2024 bị đơn gửi văn bn ý kiến với nội dung: Về hôn nhân đồng
ý ly hôn, về con đồng ý giao Thị H1 cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc nuôi
dưỡng, đối với cháu Văn H bị đơn sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bị đơn
vẫn gửi tiền về cho mẹ bà Lò Thị S để nuôi các con.Về cấp dưỡng, không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Ti c văn bản ý kiến của c con cháu ThH1 nguyện vọng muốn
được với mẹ, cháu n H có nguyện vọng muốn được với bố.
Ti phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên u cầu xin ly hôn, u cầu được nuôi
cháu H1, giao cháu Lò Văn H cho bị đơn nuôi dưỡng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án nhân dân huyện Tủa Chùa. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nga vụ, Bị
đơn chưa thực hiện đúng quy định về việc được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt
tại phiên họp, phiên tòa không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu
xin ly hôn của nguyên đơn; Về con chung đnghị giao cháu Lò Thị H cho nguyên
đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; giao cháu Lò Văn H cho bị đơn trực tiếp nuôi
3
dưỡng, chăm c; Về cấp dưỡng, về tài sản chung, nợ do các các bên không yêu
cầu giải quyết nên không đề nghxem xét; Về án phí: đnghị miễn án phí
thẩm cho nguyên đơn, đề nghị trả lại án phí 300.000đồng nguyên đơn đã nộp tại
Chi cục Thi hành án n sự huyện Tủa Chùa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, trên sở xem xét ý kiến của những người tham gia tố
tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Do vụ án tính chất phức tạp nên Tòa án đã ra quyết định gia hạn thời
hạn chuẩn bị xét xử theo khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con tranh chấp về hôn nhân gia
đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 B
luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải chỉ mặt nguyên đơn
chThị H, bđơn anh Văn D vắng mặt không nguyên đơn đã
đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, nên đây vụ án không tiến hành hòa giải
được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa mngày 05/4/2024 Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên
tòa theo khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, đã niêm yết Quyết định
đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập hợp lệ đương sự, nhưng bị đơn anh Lò Văn
D vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn
phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2024 được HĐXX Niêm yết theo
thời hạn đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa mở ngày 24/4/2024 Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng
vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều
228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
ChLò Thị H anh Văn D chung sống với nhau từ năm 2006 trên
sở tự nguyện của hai bên, hai người không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước
thẩm quyền. Về nguyên nhân xin ly hôn do anh D không quan tâm đến gia
đình, vợ con, hai người đã sống ly thân từ năm 2022, cuộc sống chung không th
kéo dài, đến nay tình cm giữa hai ngưi kng còn, nguyên đơn không muốn chung
sống với bị đơn nữa. UBND xã Đ, huyn C và UBND Đ, huyện G văn bản
xác nhận hai người không đăng ký kết hôn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần căn
cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình tuyên bố
không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị H và anh Lò Văn D.
[3] Về nuôi con chung:
Hội đồng xét xử thấy hai người 02 con chung cháu Thị H1, cháu
Văn H, nguyên đơn nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H1, bị đơn
4
nguyện vọng trực tiếp chăm c, nuôi dưỡng con Văn H cháu Lò Văn
H cũng nguyện vọng sống với bị đơn. Nguyên đơn thu nhập ổn định từ
việc làm ruộng, bị đơn tuy thường xuyên đi làm thuê xa, nhưng qua xác minh,
văn bản ý kiến cho thấy bị đơn vẫn nhờ mẹ đẻ Thị S chăm sóc các con
hộ trong thời gian đi làm thuê xa nhà, nhưng vẫn gửi tiền về nuôi các con; Xét
các bên đều thu nhập ổn định, khả năng kinh tế điều kiện nuôi con như
nhau, nên Hội đồng xét xử thấy cần giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc cháu Thị H1; giao cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu
Lò Văn Hphù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[4] Về tài sản chung nợ: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng
xét xử không xem xét, gii quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí: Do nguyên đơn người dân tộc thiểu số sinh sống vùng
điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần miễn toàn bộ án phí dân sự sơ
thẩm cho nguyên đơn, trả lại số tiền 300.000 đồng cho nguyên đơn đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ngày 02/11/2023 tại Chi cục Thi hành
án dân sự huyện C.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
4 Điều 147, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271,
khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 51, khoản 2 Điều 53, các Điều 58, 81, 82, 83,
84 của Luật Hôn nn và gia đình năm 2014;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. V quan h hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị
Thị H và anh Lò Văn D.
2. V chăm sóc, nuôi dưỡng con chung:
- Giao cho chị Thị H trực tiếp nuôi ng, cm sóc con Lò Th H1 - sinh
ngày 08/11/2007 đến khi đủ 18 tuổi có khả ng lao động.
- Giao cho anh Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, chămc con Lò n H - sinh
ngày 07/8/2010 đến khi đủ 18 tui có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng: Các bên không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét,
giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyn đi li thăm nom con chung, không ai
được cản tr. Vì lợi ích của con chung, khi cn thiết hai bên có quyn xin thay đổi
người trực tiếp ni con và yêu cu mức cấp ỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, giải quyết nợ: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên
Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5
4. Ván phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn, nguyên
đơn được trả lại số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án s 0002401 ngày 02/11/2023 ca Chi cc Thi hành án n s huyn C.
5. Về kng cáo: Nguyên đơn quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/04/2024). Bị đơn vắng mặt quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bn án hoặc từ
ngày bn án niêm yết.
Nơi nhận: T/M. HỘI ĐỒNG XÉT X THẨM
- VKSND huyện Ta Chùa; THM PN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Điện Biên;
- THADS huyn C;
- UBND xã Đ, huyện C;
- UBND xã Đ, huyện G; ( Đã ký)
- Các đương s;
- Lưu: HSVA.
Tòng Thị Lan
Tải về
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất