Bản án số 01/2023/LĐ-ST ngày 03/03/2023 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2023/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2023/LĐ-ST ngày 03/03/2023 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Dĩ An (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 01/2023/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/03/2023
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ DĨ AN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 01/2023/-ST
Ngày: 03 - 3- 2023
V/v: Tranh chấp về đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung Giáo viên hưu trí
2. Ông Trần Đình Thừa Cử nhân Luật, Công tác tại Ủy ban MTTQVN
thành phố Dĩ An;
- Thư ký phiên tòa: Thị Hoài Phương - Thư Toà án nhân dân
thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 tháng 02 năm 2023 và 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ s
Toà án nhân dân thành phố An tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ
án lao động thụ lý s14/2022/TLST - LĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 về “Tranh
chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xsố 04/2012/QĐXXST- ngày 26 tháng 12 năm 2022; thông báo mở lại
phiên tòa ngày 01/3/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1976; địa chỉ thường trú:
khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: khu phố
N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1998; địa chỉ:
xóm B, thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi và bà Đỗ Lệ H, sinh năm 1998;
nơi cư trú: xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; là người đại diện theo ủy quyền
(văn bản ủy quyền ngày 14/10/2022), có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH MTV Xe nâng LH; Trụ sở: khu phố Q, phường
B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Văn L, sinh năm 1955; địa chỉ:
khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện thụ lý đơn số:1970 ngày 17/10/2022, lời khai trong quá
trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền nguyên đơn
Phạm Thị Thu T và Đỗ Lệ H trình bày:
Ông Nguyễn Đức T vào làm việc tại Cơ sở xe nâng, xe thang Lý Hùng, từ
năm 2012. Từ ngày 01/7/2022 thì ThCơ sở xe nâng, xe thang LH chuyển đổi
thành Công ty TNHH MTV Xe nâng LH. Sau khi chuyển đổi hình thức doanh
nghiệp thì vào ngày 01/7/2022 ông Th và Công ty TNHH MTV Xe nâng LH
(sau đây viết tắt là Công ty) ký kết hợp đồng lao động. Ông Th được tuyển dụng
vào làm việc với vị trí là thợ sửa xe với loại hợp đồng lao động không xác định
thời hạn theo Hợp đồng lao động số 01- 22/HĐ, mức lương chính của ông
Nguyễn Đức T được nhận trước khi nghỉ việc là 8.400.000 đồng/tháng.
Trong quá trình làm việc ông Nguyễn Đức T luôn hoàn thành tốt công
việc được giao không vi phạm nội quy, quy định của Công ty. Ngày
27/9/2022 giám đốc công ty là ông Đào Văn L đã gọi ông Th lên thông báo cho
ông Th nghviệc kể từ ngày 27/9/2022 mà không thông báo cho ông Th biết về
nguyên nhân công ty buộc ông thôi việc và cũng không có Quyết định cho thôi
việc. Sau khi cho ông Nguyễn Đức T nghỉ việc, Công ty đã thanh toán đủ tiền
lươngtiền bảo hiểm cho ông Nguyễn Đức T.
Nhận thấy, việc Công ty TNHH MTV Xe nâng LH cho ông Th nghỉ việc
mà không có lý do, không báo trước là trực tiếp ảnh hưởng tới quyền và lợi ích
của ông Th. Vì vậy, yêu cầu Toà án giải quyết những nội dung sau:
- Yêu cầu Công ty bồi thường cho ông Th 02 tháng tiền lương do chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là: 8.400.000 đồng/tháng x 2 tháng =
16.800.000 đồng (Mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng).
- Bồi thường khoản tiền lương tương ứng với tiền lương trong 45 ngày
công ty không thông báo trước: 14.600.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm
nghìn đồng).
- Thanh toán cho ông Th 02 tháng tiền lương để chấm dứt Hợp đồng lao
động, cụ thể 8.400.000 đồng/tháng x 2 tháng = 16.800.000 đồng (Mười sáu triệu
tám trăm nghìn đồng).
Tổng các khoản tiền do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái
pháp luật là 48.200.000 đồng.
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bà Phạm Thị Thu T và bà Đỗ Lệ
H trình bày ngoài những khoản mà ông Th đã yêu cầu Công ty TNHH MTV Xe
nâng LH phải bồi thường tại đơn khởi kiện thì bà T và bà H thống nhất yêu cầu
bổ sung: Buộc Công ty TNHH MTV Xe nâng LH thanh toán tiền lương những
3
ngày ông Th không được làm việc kể từ ngày 27/9/2022 đến khi nộp đơn khởi
kiện ngày 17/10/2022 là: 5.820.000 đồng (Năm triệu tám trăm hai mươi nghìn
đồng).
- Tổng cộng yêu cầu Công ty TNHH MTV Xe nâng LH phải bồi thường
cho ông Th số tiền là 54.020.000 đồng (năm mươi bốn triệu không trăm hai
mươi nghìn đồng). Ngoài ra, Công ty còn phải trả thêm tiền lương cho ông Th
kể từ ngày 18/10/2022 cho đến khi có Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật.
- Đại diện bị đơn ông Đào Văn L có yêu cầu giải quyết vắng mặt, tại bản
tự khai ngày 29/11/2022 ông Lý trình bày: Ông Nguyễn Đức T là công nhân của
Công ty TNHH MTV Xe nâng LH, giữa công ty và ông Th có ký hợp đồng lao
động số:01- 22/HĐLĐ ngày 01/7/2022, với mức lương là: 5.007.600
đồng/tháng, loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Mặc dù hợp đồng
ghi không xác định thời hạn nhưng thực tế ông Th mới ký hợp đồng với công ty
lần đầu, mới vào làm việc ngày 01/7/2022. Do ông đã già nên mọi hoạt động của
công ty là do con rễ ông là Trần Văn Vũ E trực tiếp điều hành. Ông chỉ ký hợp
đồng trên cương vị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Lúc ký hợp
đồng ông cũng không để ý nên không biết trên hợp đồng ghi là: “Loại hợp đồng
lao động: Không xác định thời hạn”. Do công ty làm ăn thua lỗ, không hiệu quả
nên không thể tiếp tục kinh doanh, đến cuối tháng 9/2022 thì công ty dừng hoạt
động, ông đã thanh toán hết tiền lương, đóng tiền bảo hiểm xã hội cho công
nhân và thông báo giải thể doanh nghiệp. Hồ sơ giải thể đã nộp lên sở kế hoạch
đầu tư tỉnh Bình Dương và đang chờ giải quyết.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không đồng ý, vì
công ty không còn nợ lương của người lao động, công ty không đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Đức T mà do công ty chấm dứt
hoạt động nên buộc phải cho công nhân nghviệc.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa,
Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn vắng
mặt đã yêu cầu giải quyết vắng mặt. vậy, Tòa án căn cứ Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
- Về nội dung: Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với ông Th thuộc
trường hợp “Người sử dụng lao động không phải nhân chấm dứt hoạt
động” theo quy định tại khoản 7 Điều 34 Bộ luật lao động và không thuộc
trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Đồng
thời, trường hợp này người sử dụng lao động không phải tng báo trước cho
người lao động về việc chấm dứt hợp đồng. Tại phn a người đại diện của
ông Th xác định Công ty đã thanh toán đầy đủ lương và đóng BHXH cho ông
Th các tháng 7, 8, 9 năm 2022.n cứ Điều 34, Điều 45, Điều 48 Bộ luật lao
động t thấy, không có sở chấp nhậnu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
[1] Về tố tụng:
[1.2 ] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn có đơn đề nghị Tòa án giải quyết
vắng. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về xác định quan hệ lao động: Đại diện nguyên đơn trình bày ông
Th vào làm việc tại Cơ sở xe nâng, xe thang LH từ năm 2012 đến ngày
01/7/2022 Cơ sở xe nâng, xe thang LH chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV
Xe nâng LH thì hai bên tiếp tục ký loại hợp đồng lao động không xác định thời
hạn theo Hợp đồng lao động số 01- 22/HĐLĐ ngày 01/7/2022, với vị trí là thợ
sửa xe, mức lượng được hưởng trước khi nghỉ việc là 8.400.000 đồng/tháng.
Tuy nhiên, đại diện nguyên đơn không xuất trình được chứng cứ thể hiện ông
Nguyễn Đức T vào làm việc tại Cơ sở xe nâng, xe thang LH từ năm 2012 cũng
như không có chứng cứ gì thể hiện tại thời điểm trước khi nghĩ việc mức lương
mà ông Th được nhận là: 8.400.000 đồng/tháng. Hợp đồng lao động s01-
22/HĐLĐ ngày 01/7/2022 giữa công ty TNHH MTV Xe nâng LH và ông
Nguyễn Đức T do nguyên đơn cung cấp không có chký của người lao động
cũng như chữ ký và đóng dấu của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, tại bản tự
khai ngày 29/11/2022 ông Đào Văn L là người đại diện theo pháp luật của Công
ty TNHH MTV Xe nâng LH thừa nhận giữa Công ty TNHH MTV Xe nâng LH
và ông Nguyễn Đức T có ký kết hợp đồng lao động 01- 22/HĐLĐ ngày
01/7/2022; với vị trí là thợ sửa xe; với mức lương 5.007.600 đồng/tháng; hợp
đồng lao động được ký kết vào ngày 01/7/2022 với hình thức hợp đồng là không
xác định thời hạn nhưng Công ty TNHH MTV Xe nâng LH ký hợp đồng lao
động lần đầu với ông Nguyễn Đức T. Nguyên đơn không có chứng cứ chứng
minh cho lời trình bày của mình, vì vậy, quan hệ lao động giữa nguyên đơn và b
đơn được xác định theo lời thừa nhận của người đại diện theo pháp luật của bị
đơn.
Do đó, có cơ sở để khẳng định giữa ông Nguyễn Đức T với Công ty
TNHH MTV Xe nâng LH có ký kết hợp đồng lao động số: 01- 22/HĐLĐ ngày
01/7/2022; với loại hợp đồng không xác định thời hạn; hợp đồng có hiệu lực từ
ngày 01/7/2022; mức lương ông Th được hưởng là 5.007.600 đồng/tháng.
[2.2] Về tính hợp pháp của việc chấm dứt hợp đồng lao động: Người đại
diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Xe nâng LH cho rằng công ty
chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Đức T do làm ăn kinh doanh
không hiệu quả nên doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, để làm thủ tục giải thể
doanh nghiệp, vào cuối tháng 9 năm 2022 phía công ty đã mời người lao động
lên làm việc, thanh toán hết tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội cho công nhân và
thông báo giải thể doanh nghiệp. Lời khai của bị đơn phù hợp với lời khai của
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn về việc, vào ngày 27/9/2022 người đại
diện theo pháp luật của công ty đã mời ông Th vào phòng làm việc thông báo
cho ông Th nghĩ việc và thanh toán tiền lương, bảo hiểm cho ông Th tuy nhiên,
5
không thông báo cho nguyên đơn biết lý do cho nghĩ việc. Căn cứ vào lời khai
và chứng cứ do bị đơn cung cấp, Hội đồng xét xử thấy rằng: cũng vào thời điểm
ngày 27/9/2022 Công ty TNHH MTV Xe nâng LH cũng đã liên hệ với Viện kế
toán là đơn vị dịch vụ để thuê làm thủ tục giải thể doanh nghiệp. Như vậy, có cơ
sở để xác định do công ty làm ăn không hiệu quả nên công ty có dự định tạm
dừng hoạt động để làm thủ tục giải thể doanh nghiệp nên thanh toán tiền lương,
tiền bảo hiểm cho công nhân và cho công nhân nghĩ việc. Căn cứ vào Công văn
số:107/ĐKKD ngày 23/02/2023 của Phòng đăng ký kinh doanh sở kế hoạch đầu
tư tỉnh Bình Dương thì tình trạng pháp lý của Công ty TNHH MTV Xe nâng LH
là đã giải thể.
Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật lao động quy định về các trường hợp
chấm dứt hợp đồng lao động: “ 7.… Người sử dụng lao động không phải là cá
nhân chấm dứt hoạt động…”. Trong trường hợp này Công ty TNHH MTV Xe
nâng LH là pháp nhân.
Điều 45 bộ luật lao động quy định:
“1. Người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao
động về việc chấm dứt hợp đồng lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt theo
quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 8
Điều 34 của Bộ luật này.
2. Trường hợp người sử dụng lao động không phải nhân chấm dứt
hoạt động thì thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động tính từ thời điểm thông
báo chấm dứt hoạt động”
quan hệ lao động giữa ông Nguyễn Đức T và Công ty TNHH MTV
Xe nâng LH chấm dứt theo khoản 7 Điều 34 Bộ luật lao động nên Công ty
TNHH MTV Xe nâng LH không bắt buộc phải thông báo bằng văn bản cho ông
Nguyễn Đức T về việc chấm dứt hợp đồng lao động, mà thời điểm chấm dứt hợp
đồng lao động giữa công ty và ông Th được tính từ ngày phía công ty thông báo
cho ông Th biết về việc công ty dừng hoạt động để làm thủ tục giải thể doanh
nghiệp.
Như vậy, hành vi cho ông Nguyễn Đức T ngh việc của Công ty TNHH
MTV Xe nâng LH không phải là hành vi pháp lý về đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động mà thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do người sử
dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.
[2.3] Về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng
lao động. Căn cứ theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động:
Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao
động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến
quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được
quá 30 ngày:
a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động
6
2. Tiền lương, bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ
cấp thôi việc các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động
tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh
nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:
a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
thất nghiệp trả lại cùng với bản chính giấy tkhác nếu người sử dụng lao
động đã giữ của người lao động”.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định sau khi
Công ty TNHH MTV Xe nâng LH cho ông Th nghĩ việc đã thanh toán đầy đủ
các khoản nêu trên cho ông Th. Hiện nay Công ty TNHH MTV Xe nâng LH
không nợ lương cũng như các khoản bảo hiểm theo quy định của ông Nguyễn
Đức T. Như vậy, bị đơn đã thực hiện xong trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng
lao động đối với nguyên đơn. Trong phần tranh luận người đại diện hợp pháp
của nguyên đơn cho rằng Công ty TNHH MTV Xe nâng LH giải thể chưa đúng
quy định, tuy nhiên không yêu cầu xem xét giải quyết về trình tự thủ tục giải thể
doanh nghiệp. Căn cứ khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
không xem xét.
[2.4] Đối với yêu cầu thanh toán tiền lương trong những ngày ông Th
không được làm việc kể từ ngày 27/9/2022 đến ngày nộp đơn khởi kiện ngày
17/10/2022 với số tiền là: 5.820.000 đồng và công ty còn phải trả thêm tiền
lương cho ông Th kể từ ngày 18/10/2022 cho đến khi bản án có hiệu lực pháp
luật của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận
thấy: Do nội dung yêu cầu bổ sung của bà T và bà H nằm ngoài yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn tại đơn khởi kiện không thể hiện ngày tháng do Tòa án
nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý đơn số:1970 ngày 17/10/2022, nguyên đơn
cũng không có đơn khởi kiện bổ sung, vì vậy, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn là bà Đỗ Lệ HPhạm Thị Thu T yêu cầu bổ sung là vượt quá
phạm vi yêu cầu khởi kiện và phạm vi ủy quyền nên không được chấp nhận.
[3] Từ những phân tích nêu trên xét thấy không sở chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận
[5] Về phần án phí lao động thẩm: Nguyên đơn được miễn theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 34, Điều 45, 48 Bộ luật Lao động;
Khoản 1 Điều 5, Điều 92, 147, 189 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự;
7
Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức
T đối với bị đơn Công ty TNHH MTV Xe nâng LH về việc bị đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động, cụ thể như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức T buộc Công ty
TNHH MTV Xe nâng LH bồi thường cho ông Nguyễn Đức T tổng các khoản
tiền do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là 48.200.000
đồng.
2. Án phí lao động sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu.
3. Đương sự mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống
đạt hợp lệ.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh BD;
- VKS thành phố Dĩ An;
- Thi hành án thành phố Dĩ An;
- Các đương sự;
- Lưu văn thư, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Hà
Tải về
Bản án số 01/2023/LĐ-ST Bản án số 01/2023/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất