Bản án số 01/2023/DS-ST ngày 24/02/2023 của TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ về tranh chấp hụi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2023/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2023/DS-ST ngày 24/02/2023 của TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ về tranh chấp hụi
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Ô Môn (TAND TP. Cần Thơ)
Số hiệu: 01/2023/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/02/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUẬN Ô Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÀNH PHỐ CẦN T
Bản án số: 01/2023/DS-ST
Ngày: 24-02-2023
V/v tranh chấp hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô, TP CẦN THƠ
- Thành phn Hi đồng xét x sơ thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Quang
2. Ông Lê Thanh Phong
- Thư phiên toà: Ông Phạm Anh Dũng-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
quận Ô, thành phố CT.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Ô tham gia phiên toà: Trần Cẩm
- Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ô tiến
hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụsố 236/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 12
năm 2022, về việc tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
06/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kiều K, sinh năm 1979
Địa chỉ: Khu vực TH, phường TL, quận Ô, thành phố CT. Có mt
2. Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1966. Có mặt
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966. Có mặt
Cùng địa chỉ: Khu vực TB, phường TL, quận Ô, thành phố CT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 10 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án,
Nguyễn Thị Ngọc Yến trình bày có nội dung như sau:
Thông qua quen biết với nhau, từ năm 2015 đến 2017, Nguyễn Thị Diệu H
mời bà K tham gia chơi 03(ba) dây hụi do bà H làm đầu thảo. Đến khoảng tháng
m 2017 thì H tuyên bố bề hụi xác nhận còn nợ K 156.000.000 đồng
(một trăm năm mươi sáu triệu đồng), cụ thể như sau:
2
- 01 dây hụi 2.000.000 đồng, tham gia 03 phần, mỗi tháng mở 01 lần, dây
này khui được 18 lần (18 lần x 2.000.000 đồng x 03 phần = 108.000.000 đồng);
- 01 dây hụi 1.000.000 đồng, bà tham gia 02 phần, mỗi tháng mở 01 lần, dây
này khui được 19 lần (19 lần x 1.000.000 đồng x 02 phần = 38.000.000 đồng;
- 01 dây hụi 1.000.000 đồng, tham gia 01 phần, mỗi tháng mở 01 lần, dây
này khui được 10 lần, tổng số tiền (10 lần x 1.000.000 đồng x 01phần =
10.000.000 đồng).
Sau năm 2017, K tố cáo với Công an về hành vi lừa đảo của vợ chồng
H, nhưng quan chức năng xác định không đủ sở để xử vợ chồng H.
Nay, bà K khởi kiện yêu cầu ông C, bà H phải trả toàn bộ số nợ trên, không yêu cầu
tính lãi suất chậm trả, kể cả trong giai đoạn thi hành án.
Ý kiến H: Trong qtrình giải quyết vụ án tại phiên tòa, bà H thừa
nhận làm chủ hụi, bà K tham gia chơi các dây hụi như K trình bày.
Đồng thời, bà H thừa nhận có xác nhận nợ với K số tiền 156.000.000 đồng. Bà H
cho rằng hiện tại do hoàn cảnh gia đình khó khăn không còn khả năng trả nợ, việc
hụi không tiếp tục mở do hụi viên kêu quá cao, tự rút ra không tiếp tục tham
gia nữa. Nay, H yêu cầu K tiếp tục tham gia chơi lại dây hụi mới 1.000.000
đồng/tháng để H ông C mới nguồn tiền thực hiện việc trả nợ cho K.
H thống nhất các tài liệu có trong hồ sơ liên quan đến hụi có chữ ký bà H do bà tự
H viết ra pho to gửi cho các hụi viên, nên không khiếu nại gì. Ngoài ra, H
còn trình bày thêm, việc chơi hụi này không dấu hiệu lừa đảo gian dối n
kết luận của cơ quan điều tra.
Ý kiến ông C: Thống nhất theo lời trình bày của H, nhưng ông C cho rằng
ông không liên quan đến trách nhiệm của H, mặc ông chồng nhưng bản
thân ông cũng có tham gia các dây hụi của bà H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký
những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
- Về nội dung: Sau khi phân tích đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát kết luận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn bà H ông C phải hoàn
trả cho nguyên đơn số tiền 156.000.000 đồng. Về lãi suất chậm trả, kể cả trong giai
đoạn thi hành án do nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ lưu trong hồ vụ án; sau khi nghe ý
kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, sau khi thảo luận Hội đồng xét xử xét
thấy:
[1] Về t tụng: Nguyễn Kiều K khởi kiện nội dung đòi tiền hụi đối với
Nguyễn Thị Diệu H ông Nguyễn Văn C, đây là quan hệ pháp luật “tranh chấp
3
hụi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 14 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: K yêu cầu H ông C trả số tiền hụi 156.000.000
đồng bà H đã xác nhận nK trong quá trình tham gia chơi hụi góp vốn từ
năm 2015 đến 2016. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, K cung cấp các tài
liệu thể hiện các dây hụi tên của các thành viên tham gia, tài liệu này H đã
thừa nhận. Trong quá trình hòa giải H cũng xác nhận chữ ký trong các tài liệu do
bà K cung cấp là chữ ký của H, và thừa nhận còn nợ như bà K đã trình bày.
[3] H ông C cho rằng, do các thành viên tham gia hụi tự nguyện rút ra
nên H không tiếp tục khui mở hụi được, bên cạnh đó nhiều thành viên hốt hụi
xong không đóng lại cho H, từ đó H không khả năng hoàn lại tiền cho
K. Nhận thấy qua lời trình bày của H với ông C, lẽ ra cần mời tất cả các thành
viên tham gia chơi hụi vào tham gia tố tụng để làm các vấn đề trên. Tuy nhiên,
xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa H khai nhận, trước thời
gian năm 2019, bà H làm chủ rất nhiều dây hụi, bà chỉ nhớ mỗi dây hụi bà có ghi tên
chung chung rồi sau đó photo cho mỗi người một tờ giấy, hiện tại không còn
nhớ từng dây hụi cụ thể như thế nào, những thành viên nào tham gia địa chỉ c
thể đâu, hụi bắt đầu khi nào, các thành viên nào không tiếp tục tham gia... vậy,
không thể làm sáng tỏ những lý do của bà H nêu trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho bà. Đồng thời xét thấy, quan hệ hụi góp vốn giữa các bên lập tờ giao
kèo trách nhiệm (BL 14), theo đó khi các thành viên vắng mặt thì vợ chồng H
phải chịu trách nhiệm. vậy, ý kiến của bị đơn đưa ra không đủ sở để xem
xét.
[4] Đối với trách nhiệm của ông C, xét thấy giữa H và ông C quan hệ là
vợ chồng với nhau từ trước năm 1987 đến nay, việc H làm chủ hụi trong thời
gian dài ông C đều biết, tiền đầu thảo bà H khai nhận sử dụng vào mục đích cho nhu
cầu thiết yếu gia đình, vậy, ông C phải nghĩa vcùng với H theo quy định
tại khoản 1 Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
[5] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy
yêu cầu khởi kiện của bà K là có căn cứ chấp nhận.
[6] Về quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát: Nhận thấy phù hợp với quan
điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ theo đề nghị.
[7] Về án phí sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của bà K được chấp
nhận nên bị đơn bà H ông C phải chịu án phí dân sự thẩm giá ngạch
7.800.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
228, Điều 5, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
4
- Điều 471 Bộ luật Dân sự 2015;
- Khoản 1 Điều 13, Điều 16 và Điều 30 của Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày
27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc Nguyễn Thị Diệu H ông Nguyễn Văn C nghĩa vthanh toán
cho Nguyễn Kiều K s tiền 156.000.000 đồng (một trăm năm mươi sáu triệu
đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn, không áp dụng lãi suất chậm trả trong
giai đoạn thi hành án đối với bị đơn.
2. Về án phí dân sự thẩm: Nguyễn Thị Diệu H ông Nguyễn Văn C
có nghĩa vụ nộp 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm nghìn đồng).
Nguyễn Kiều K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 3.900.000 đồng
(ba triệu chín trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0003726 ngày 12/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô, thành phố CT
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. CT; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. CT; Đã
- VKSND Q. Ô;
- Chi cục THA Q. Ô;
- Các đương sự;
- Lưu hs.
Trần Văn Mẫn
Tải về
Bản án số 01/2023/DS-ST Bản án số 01/2023/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất