Bản án số 01/2020/HS-ST ngày 05/02/2020 của TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2020/HS-ST ngày 05/02/2020 của TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng về tội đánh bạc
Tội danh: 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hòa An (TAND tỉnh Cao Bằng)
Số hiệu: 01/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/02/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀ AN
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày: 05-02-2020
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ AN - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Nguyễn Thị Dong
- Thư phiên tòa: Hng Hồng Nụ - Thư Toà án nhân n huyện H
An, Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng tham gia phiên
toà: Trần Thị Bích Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà An,
Cao Bng xét xử thm ng khai theo thủ tục rút gn vụ án hình sthẩm
thụ số: 04/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa v
án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2020 đối với b cáo:
Nguyễn Thị T; (tên gọi khác: không) sinh ngày 07 tháng 9 năm 1971 tại
huyện H, Cao Bằng;
Nơi ĐKHKTT N=nơi trú: Tổ 1, phố A, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao
Bằng.
Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nữ; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn n K sinh m
1941 Nguyễn Thị N sinh năm 1947; Cùng trú tại khu G, thị trấn N, huyện
H; chồng Phạm Hữu V sinh m 1969; 01 con: Phm Đức T, sinh năm 1991;
cùng cư trú tại: Tổ 1, phố A, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Tiền sự; không
Tiền án: 01 tiền án, Tại bản án số 27/2019/HSST, ngày 20/8/2019 của
Tòa án nhân n huyện Hòa An, Cao Bằng xử phạt tiền, mức phạt 35.000.000đ
về tội đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong phần hình phạt nhưng chưa được xóa
án tích.
Về nhân thân: ngày 22/02/2009 Phòng PC14 Công An tỉnh Cao Bằng xử lý
vi phạmnh chính về hành vi đánh bạc.
2
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cm đi khỏi nơi ttại th
trấn Nước Hai, Hòa An, Cao Bằng từ ngày 03/01/2020 đến nay. Bị cáo mặt tại
phiên tòa.
Người làm chng:
1. Bà Nông Th L, sinh năm 1965; ( mt).
Nơi cư trú: xóm Đ, B, huyn H, tnh Cao Bng.
2. Bà Lê Th ng, sinh năm 1986; (Vng mt không có lý do).
Nơi cư trú: xóm P, xã Đ, huyện H, tnh Cao Bng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và din biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 26/12/2019, trên đường đi từ
chNước Hai về nhà, Nguyễn Thị T o quán trà đá của Lê Thị L tại khu
vực chđể uống nước. Tại đây T gặp ngồi nói chuyện với Nông Thị L (trú tại
xóm Đ, B, huyện H), Lê Thị Hường (trú tại m P, xã Đ, huyện H) được 10
phút t cả ba cùng rnhau sử dụng bộ lơ k52 quân để chơi Sâm”. Hình
thức ci thống nhất như sau: Trong ván bài đầu tiên ai người chia trước sẽ
người đánh trước, mi người được chia 10 i, ai đánh hết 10 trước sẽ
người thắng, những người còn lại bị thua sphải trả số tiền 1.000 đồng/mỗi lá bài
cầm trên tay, nếu người nào trong ván không đánh được lá nào sẽ phải trả cho
người thắng 10.000đ, người nào báo “Sâm” mà thng thì người còn lại sẽ trả cho
người báo Sâm 15.000đ. Trong khi các đối tượng đang cùng đánh bạc thì bng
an huyện Hòa An phát hiện và bắt quả tang, thu giữ tang vật liên quan vụ án.
Tại quan điều tra các đối tượng khai nhn: Trong qtrình đánh bạc
Nguyễn Thị T đã sử dụng số tiền 476.000đ, Nông Thị L sử dụng số tiền
206.000đ còn ThH thì đánh nợ. Như vậy tổng stiền mà 03 (ba) đối tượng
trên dùng vào mục đích đánh bạc là 682.00.
Quyết định truy tố theo thủ tục t gọn số 05/QĐ-VKS ngày 20/01/2020
của Vin kiểm t nhân n huyn Hoà An, Cao Bằng đã truy tố bị o Nguyn
Thị T vtội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại
phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bcáo về tội
danh, điều luật đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38;
đim s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09
tháng tù về tội "Đánh bạc".
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với b cáo.
Về việc xử vật chứng: Áp dụng Điểm b khoản 1 Điu 47 BLHS; khoản
2 Điều 106 BLTTHS.
3
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước: Tiền tang vt trong một phong niêm
phong màu trắng đã được niêm phong.
Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) bộ khơ 52 (năm ơi hai) quân i được
niêm phong trong 01 phong bì.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phần tranh luận, bcáo không ý kiến tranh luận với bản luận tội của
Kiểmt viên về tội danh nhưng có ý kiến vmức hình phạt xin cho được hưởng
án treo; Trong li nói sau cùng bo u cầu đề nghị Hội đồng xét xử n
nhắc, xem t cho bị cáo được ng mức án thấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào c tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hoạt động tố tụng ca quan điều tra Công an huyện Hòa An, của
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong qtrình điều tra, truy tố đã tuân thủ đúng về
trình tự, thủ tục thẩm quyền theo đúng quy đnh của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các hành vi, quyết định tố tụng của quan, người thẩm quyền tiến nh t
tụng và của người tham gia tố tụng đều hợp pháp.
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra, Quyết định truy
tố theo thủ tc rút gọn của Viện kim sát phù hợp với quy định của Bộ luật t
tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bcáo đã thực hin, ti phiên toà b cáo đã khai nhận
toàn bộ hành vi của mình; Li khai nhn của bcáo php với lời khai của
người làm chứng các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên toà, qua đó đã xác định được:
Khoảng 11 giờ ngày 26/12/2019,b cáo Nguyễn Thị T, Nông Thị L, Lê Th
H cùng ngồi uống nước tại quán trà đá của Thị L tại khu vực chợ N, huyện
H. Sau đó cả ba đối tượng rủ nhau đánh bạc với hình thức chơi Sâm với số
tin nhỏ. Trong khi đang đánh thì bng an huyn Hòa An phát hin và bắt quả
tang.
[3] Ha
̀
nh vi đánh bạc cu
̉
a bcáo la
̀
ro
̃
ra
̀
ng, đã xâm phạm trực tiếp trật t
công cộng được pháp luật hình sự bảo v, gây mất trật tự, trị an tại địa phương và
nếp sống văn minh hội, gây ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình. Bị o nhn
thức việc chơi i Sâmbằng tin mặt với số tiền nh vi phạm pháp luật
nhưng bị cáo vẫn thực hin với lỗi cố ý. Bị cáo người đầy đủ năng lực chịu
trách nhiệm hình sự, hiểu biết về pháp luật nhất định. n cư
́
va
̀
o ca
́
c ta
̀
i liê
̣
u,
chư
́
ng cư
́
thu thâ
̣
p đươ
̣
c va
̀
lơ
̀
i khai nhâ
̣
n cu
̉
a bị cáo cu
̀
ng ngươ
̀
i làm chứng, xe
́
t
thấ y: Đây vụ đánh bạc trái phép, bị cáo cả nhóm đã cùng nhau chơi i
Sâm” với số tiền từ 1.000đ đến 15.000đ bằng tiền mặt nhằm mục đích để giải
4
trí không nhằm sát phạt nhau, tại quán L chợ N, huyn H thì b ng an
huyện Hòa An bắt quả tang. Như vậy, nh vi của bcáo đã đủ yếu tố cấu thành
về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điu 321 Bộ lut hình sự năm 2015 như Viện
kimt nhân dân huyện Hòa An đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp lut.
Điều 321 quy định: Tội đánh bạc:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua
bằng tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng
hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi
này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội
này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích
còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải
tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a)...
Liên quan đến vụ án này ng Thị L, Thị H: Đây những người đã
cùng bo T đánh bạc ngày 26/12/2019, tuy nhiên do tổng stiền các đối
tượng dùng để đánh bạc dưới mức truy cứu trách nhim hình sự đồng thời chai
đối tượng đều chưa tiền án, tiền sự về hành vi này (Đối tượng H đã 01 lần
bị xử hành chính nhưng đã chấp hành xong, qthời hạn được coi chưa
tin sự) nên quan Cảnh sát điều tra Công an huyn Hòa An đã ra Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nông Thị L và Lê Thị H theo quy định.
- Lê Thị L, chủ quán nước nơi các đối tượng ngồi đánh bạc: Khi các đối
tượng tham gia đánh bạc tại quán L không mặt, cũng không biết các đối
tượng đã ngồi đánh bạc tại quán của mình nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề
xem xét trách nhiệm của bà L trong vụ án này.
[4] Xét đề nghị của Vin kiểm sát về áp dụng pháp luật đối với b cáo
căn cứ, đúng pháp lut. HĐXX căn cvào mức độ, hành vi phạm tội cũng như
nhân thân của bị cáo nhn thấy: nh vi của b o cùng với Nông Thị L,
Thị H đã cùng nhau chơi bài m” bằng tiền mặt. Tuy nhiên, hành vi của bcáo
không ssắp đặt, bàn bạc từ trước mà bị cáo cnhóm khi ngồi uống c
tại quán cùng rủ nhau thực hiện hành vi chơi sâm vi phạm pháp luật. Do đó,
cần phải xnghiêm minh bị cáo trước pháp luật để làm ơng cho ngưi khác,
đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Xét bị o nhân thân xu ngày 22/02/2009 Phòng PC14 Công An tỉnh
Cao Bằng xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.
Bị cáo 01 tiền án tại bản án s27/2019/HSST, ngày 20/8/2019 ca Tòa
án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng xử phạt tin, mức phạt 35.000.000đ về tội
đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong phần hình phạt tin, nhưng tính đến ngày b
cáo phạm tội chưa được xóa án tích. B o không lấy đó làm bài học kinh
nghiệm cho bản thân mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội với s tiền tham gia
đánh bạc nh, giá trị không lớn để nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. b
cáo 01 tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích nên lần phm tội này b
5
cáo bị truy tố. Do đó, ln phạm tội này là tình tiết định khung hình phạt được quy
định tại khoản 1 Điều 321 Bluật hình sdo đó không áp dụng tình tiết ng
nặng trách nhiệm hình squy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình s
đối với bị cáo. Trong qtrình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà khai
báo, ăn năn hối cải; Bố đẻ là người công được tặng Huân chương kháng
chiến hạng ba, các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại đim s khoản 1 khoản
2 Điu 51 Bộ lut hình sự. Ngoài ra, bị cáo khai bản thân bị bệnh hiểm nghèo
(ung tvú) thẻ ra viện của Bộ y tế Bệnh viện K ngày 28/4/2000 hàng
tháng phải đi km định kỳ, tại phiên tòa bị cáo cung cấp cho tòa án một số i
liu để chứng minh việc bị bệnh, nhưng qua xem xét các giy tờ b cáo cung cấp
không đủ căn cứ xác định hiện nay tình trạng sức khỏe b cáo đang bbệnh hiểm
nghèo, do đó không được chấp nhận. Về tình tiết tăng nặng không .
Xét thấy bcáo không tự ci tạo được không thuộc trường hợp được
hưởng án treo nên khi xem xét mức hình phạt cần ch ly bcáo với hội một
thi gian cần thiết để nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với b o cũng như
phòng ngừa chung đối vi xã hội. đó, mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát
viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên chp nhận.
Ngi hình phạt chính, tại khoản 3 Điu 321 Bộ luật Hình sự n quy
định hình phạt bổ sung hình phạt tiền đối với ngưi phạm tội danh này. Xét
thy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhp không n định n không cần
thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về việc xử vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự m
2015, Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với stiền 01 phong bì niêm phong màu trắng đã được niêm phong,
mặt trước phong bì ghi: Tiền mặt 682.000đ gm 03 (ba) tờ 100.000đ,03 tờ
50.000đ, 04 (Bốn) tờ 20.000đ, 10 tờ 10.000đ, m tờ 5.000đ, 06 tờ 2.000đ. Đây
là số tiền do bcáo L dùng để đánh bạc n cần tịch thu, sung quỹ nhà
nước là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) phong bì màu trng đã được niêm phong mt trước
phong ghi: 01(một) bộ khơ 52 (năm mươi hai) quân i. Đây công c
phạm ti nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thm quy định tại Điều 136
Bộ luật Tố tụng hình sự Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; Đim s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình s m 2015.
1. Tun bố: Bị cáo Nguyn Thị T phạm tội "Đánh bạc".
2. Xử pht: Bcáo Nguyễn Thị T 06 (Sáu) tháng tù. Thi gian chấp hành
hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình s năm 2015; Khoản 2
Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình s năm 2015:
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước: số tiền 682.000đ (Sáu trăm tám mươi hai
nghìn đồng) gồm 03 (Ba) tờ 100.000đ, 03 (Ba) tờ 50.000đ, 04 (Bốn) tờ 20.000đ,
10 (Mười) tờ 10.000đ, 08 (Tám) tờ 5.000đ, 06 (Sáu) tờ 2.000đ
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ khơ, gồm 52 (năm mươi hai) quân
bài.
Vật chứng của vụ án đang được quản tại Chi cục thi hành án n s
huyện Hòa An, Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, i sản ngày
20/01/2020.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sNghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Công an huyện Hòa An;
- VKSND huyện Hoà An;
- VKSND tỉnh Cao Bằng;
- Chi cục THADS Hòa An;
- TAND tỉnh Cao Bằng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Dong
Tải về
Bản án số 01/2020/HS-ST Bản án số 01/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất