Quyết định số 12/2024/QĐST-DS ngày 06/03/2024 của TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 12/2024/QĐST-DS
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Quyết định số 12/2024/QĐST-DS
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 12/2024/QĐST-DS
| Tên Quyết định: | Quyết định số 12/2024/QĐST-DS ngày 06/03/2024 của TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Xuyên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc) |
| Số hiệu: | 12/2024/QĐST-DS |
| Loại văn bản: | Quyết định |
| Ngày ban hành: | 06/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp hạnh đồng tín dụng |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 03/2024/KDTM-ST
Ngày 26 tháng 4 năm 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng và
yêu cầu xử lý tài sản thế chấp”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Văn Điệp
Bà Trương Thị Hương Nghĩa
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà:
Bà Vũ Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên
xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/TLST
- KDTM ngày 29 tháng 11 năm 2023 “V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và yêu
cầu xử lý tài sản thế chấp” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
10/2024/QĐXXST - KDTM ngày 29 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
(Gọi tắt là Ngân hàng); địa chỉ: Số 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn Vượn , Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Nam Dương, chức vụ: Phó Giám
đốc phụ trách điều hành Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam, chi nhánh huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc II.
2
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thanh Châ - Giám đốc
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Bình
Xuyên, Vĩnh Phúc II- Phòng giao dịch Phú Xuân (Theo giấy ủy quyền số:
09/GUQ-NHNo.BX-TH ngày 03 tháng 01 năm 2024) “có mặt”.
- Bị đơn: Ông Lưu Văn Dũn , sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố Hồng, thị
trấn Thanh, huyện Bình, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
Bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn
Thị Tuyế , sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố Hồng, thị trấn Thanh, huyện Bình,
tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn Tà , sinh năm 1953; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn, thị trấn
Thanh, huyện Bình, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
2. Bà Nguyễn Thị Mã , sinh năm 1953; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn, thị trấn
Thanh, huyện Bình, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
3. Ông Nguyễn Văn Tâ , sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn, thị trấn
Thanh, huyện Bình, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
4. Bà Nguyễn Thị Tuyê , sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố Yên, thị trấn
Thanh, huyện Bình, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 28 tháng 11 năm 2023 và các lời khai tiếp
theo tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày
22/7/2021, giữa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi
nhánh huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc II- Phòng giao dịch Phú Xuân (Gọi tắt là
Ngân hàng) và ông Lưu Văn Dũn đã ký kết Hợp đồng tín dụng số:
2801LAV202101656. Theo đó, Ngân hàng đã cho ông Dũn vay vốn, theo hạn
mức tín dụng: Số tiền cho vay là 2.000.000.000 đồng; thời hạn vay: 12 tháng (Kể
từ ngày ký hợp đồng); lãi suất vay trong hạn: Theo phương thức thả nổi và được
thể hiện theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ; lãi suất quá hạn:
Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả: 10%/năm; mục đích vay:
Mua, bán sản xuất các sản phẩm từ gỗ.
Để đảm bảo cho khoản vay trên ông Lưu Văn Dũn , bà Nguyễn Thị Tuyế ,
3
ông Nguyễn Văn Tà , bà Nguyễn Thị Mã , ông Nguyễn Văn Tâ , bà Nguyễn Thị
Tuyê đã thế chấp các tài sản sau:
Ngày 13/5/2020 giữa Ngân hàng và hộ ông Nguyễn Văn Tà gồm: Ông Tài,
bà Nguyễn Thị Mã , ông Nguyễn Văn Tâ , bà Nguyễn Thị Tuyê và bà Nguyễn Thị
Tuyế đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
số: 2801-326797787/HĐTC; ngày 21/7/2021 giữa Ngân hàng và hộ ông Nguyễn
Văn Tà đã ký: Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số: 2801-
326797787.2/VBSĐBS; ngày 28/7/2020 giữa Ngân hàng và hộ ông Tài đã ký:
Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787/PLHĐTC.
Theo đó: Hộ ông Nguyễn Văn Tà đã thế chấp quyền sử dụng 240m
2
đất (Trong
đó có 200m
2
đất ở và 40m
2
đất vườn) tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 29; địa chỉ
thửa đất: Tổ dân phố Đoàn, thị trấn Thanh, huyện Bình, tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn
bộ tài sản được xây dựng gắn liền trên đất là 01 nhà cấp 4, 01 tầng lợp ngói và
công trình phụ; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: S329958 do UBND
huyện Bình Xuyên cấp ngày 07/12/2001; Vào sổ cấp GCNQSD đất số: T02217
QSDĐ/674/QĐUB đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Tà .
Ngày 28/5/2020 Ngân hàng cùng ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế
ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2801-326797787B/HĐTC; ngày
21/7/2021 giữa Ngân hàng với ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế đã ký:
Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787.1/VBSĐBS. Theo
đó: Ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng
130,4 m
2
đất
(Đất ở: 45m
2
sử dụng lâu dài + Đất trồng cây lâu năm 85,4m
2
sử dụng
đến 15/10/2043), thửa đất số 953, tờ bản đồ số 22; địa chỉ thửa đất: Thôn Vị Trù, xã
Thanh Trù, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV 817139 do
Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 19/05/2020; Số vào sổ
cấp GCN: CS 01270 đứng tên ông Lưu Văn Dũn , bà Nguyễn Thị Tuyế .
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Lưu Văn Dũn mới trả được cho
Ngân hàng số tiền 117.991.206đồng (Trong đó: Tiền gốc là: 18.820.000 đồng;
tiền lãi là: 99.171.206 đồng).
Tính đến hết ngày 26/4/2024, ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế còn
nợ Ngân hàng tổng số tiền: 2.444.737.238 đồng (Trong đó: Nợ gốc là: 1.981.180.000
đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là: 463.557.238 đồng).
4
Tại bản tự khai ngày 03/01/2024 và ngày 11/3/2024, biên bản hòa giải
ngày 11/3/2024 Ngân hàng đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên giải
quyết buộc ông Lưu Văn Dũn , bà Nguyễn Thị Tuyế , anh Lưu Tất Đạt, chị Lưu
Thị Quỳnh Ánh, ông Nguyễn Văn Tà , bà Nguyễn Thị Mã , ông Nguyễn Văn Tâ ,
bà Nguyễn Thị Tuyê cùng phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên giải
quyết buộc ông Lưu Văn Dũn , bà Nguyễn Thị Tuyế phải trả cho Ngân hàng
tổng số tiền là: 2.444.737.238 đ (Hai tỷ, bốn trăm bốn mươi bốn triệu, bảy trăm
ba mươi bảy ngàn, hai trăm ba mươi tám đồng) (Trong đó: Nợ gốc là:
1.981.180.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn tính hết ngày 26 tháng 4 năm
2024 là: 463.557.238đồng) và tiếp tục trả tiền lãi kể từ ngày 27/4/2024 đối với
khoản nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo
mức lãi suất là 15,75%/năm (Lãi suất nợ quá hạn mà hai bên thoả thuận trong
Hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202101656 ngày 22 tháng 7 năm 2021 và các
báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ).
Nếu ông Dũn và bà Tuyế không trả được nợ cho Ngân hàng thì đề nghị xử lý
toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất số: 2801-326797787/HĐTC - ngày 13/5/2020 và Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số: 2801-326797787B/HĐTC ngày 28/5/2020 cùng các văn
bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai ngày 11 tháng 3 năm
2024 và biên bản hòa giải ngày 11 tháng 3 năm 2024 bị đơn ông Lưu Văn Dũn
trình bày và xác nhận: Đồng ý với trình bày của đại diện nguyên đơn về hợp đồng
tín dụng, hợp đồng thế chấp; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp, về số
tiền vay, mục đích vay và các tài sản thế chấp. Nay ông xác định còn nợ Ngân
hàng số tiền gốc là 1.981.180.000 đồng và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến
ngày 11 tháng 3 năm 2024 là 424.232.172 đồng; tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là:
2.405.412.172 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc. Nay Ngân hàng khởi kiện
yêu cầu gia đình ông thanh toán khoản nợ trên ông đồng ý không có ý kiến gì
nhưng do kinh tế khó khăn nên không có tiền để trả nợ ngay cho Ngân hàng
được, ông mong Ngân hàng cho gia đình ông được trả dần số tiền gốc và xin
giảm tiền lãi, ông chưa xác định được thời gian trả tiền cho Ngân hàng.
5
Trong trường hợp nếu gia đình ông không trả được nợ cho Ngân hàng thì
ông đồng ý phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Bị đơn đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại
phiên tòa nhưng tại biên bản làm việc ngày 03/01/2024 bà Nguyễn Thị Tuyế trình
bày và xác nhận: Đồng ý với trình bày của đại diện nguyên đơn về hợp đồng tín
dụng, hợp đồng thế chấp; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp, về số tiền
vay, mục đích vay và các tài sản thế chấp. Việc bà cùng các thành viên trong gia
đình ký hợp đồng thế chấp; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp là tự
nguyện, đúng quy định của pháp luật. Toàn bộ số tiền vay của Ngân hàng chỉ có
bà và ông Dũn sử dụng vào mục đích kinh doanh, bố mẹ bà, các anh chị em bà
cùng các con của bà không sử dụng số tiền vay.
Bà xác định còn nợ Ngân hàng tổng số tiền cả gốc và lãi là 2.298.817.396
đồng, lãi tính đến ngày 16 tháng 10 năm 2023. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu
thanh toán khoản nợ trên bà đồng ý cùng ông Dũn trả nợ cho Ngân hàng nhưng
do kinh tế khó khăn nên không có tiền để trả nợ ngay cho Ngân hàng được, bà
mong Ngân hàng cho bà và ông Dũn được trả dần số tiền gốc và xin giảm tiền lãi,
bà chưa xác định được thời gian trả tiền cho Ngân hàng.
Trong trường hợp nếu gia đình bà không trả được nợ cho Ngân hàng thì xin
tự bán toàn bộ tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại
biên bản làm việc ngày 03/01/2024 ông Nguyễn Văn Tà và bà Nguyễn Thị Mã trình
bày: Việc ông Dũng, bà Tuyế vay bao nhiêu tiền của Ngân hàng thì ông bà không
biết. Ông bà cùng các con của ông bà đều ký vào Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất số: 2801-326797787/HĐTC ngày 13/5/2020 để thế
chấp quyền sử dụng Diện tích: 240 m
2
đất, (Đất ở: 200m
2
sử dụng lâu dài + Đất
vườn 40m
2
sử dụng đến 2043), tại thửa đất số: 70; tờ bản đồ số: 29 cùng toàn bộ
tài sản xây dựng trên đất; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Thanh
Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số: S329958 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 07/12/2001 đứng tên hộ
ông Nguyễn Văn Tà để ông Dũng, bà Tuyế vay tiền, việc ký hợp đồng thế chấp
là hoàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên ông bà không có thắc mắc gì. Hiện
ông bà đang quản lý sử dụng toàn bộ tài sản thế chấp không cho ai thuê mượn.
Nay ngân hàng khởi kiện, ông bà mong Ngân hàng tạo điều kiện cho ông Dũng,
6
bà Tuyế trả dần số nợ để giữ lại tài sản cho ông bà vì thửa đất này là nơi ở duy
nhất của vợ chồng ông, bà.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Tâ , bà
Nguyễn Thị Tuyê đều đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc
và cũng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên phát
biểu quan điểm như sau:
Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi thụ
lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và
việc chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử
Thẩm phán giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Những yêu cầu, kiến nghị về thủ tục tố tụng: Không có.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91;
khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 280, 299, 317, 318,
319, 320, 463, 466 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35,
các Điều 39; 147, 155, 156, 157, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Lưu Văn Dũn và bà
Nguyễn Thị Tuyế phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là: 2.444.737.238 đồng (Trong đó: Nợ gốc
là: 1.981.180.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn tính hết ngày 26 tháng 4
năm 2024 là: 463.557.238đồng) và toàn bộ số tiền lãi phát sinh trên khoản nợ gốc
tính từ ngày 27/4/2024 theo mức lãi suất là 15,75%/ năm cho đến khi thanh toán
xong khoản nợ. Trường hợp ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế không
thanh toán được toàn bộ số nợ trên thì toàn bộ tài sản thế chấp là Quyền sử dụng
130,4 m
2
đất
(Đất ở: 45m
2
sử dụng lâu dài + Đất trồng cây lâu năm 85,4m
2
sử
dụng đến 15/10/2043 tại địa chỉ: Thôn Vị Trù, xã Thanh Trù, TP Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc; thửa đất số: 953; tờ bản đồ số: 22 (Theo Giấy chứng nhận quyền sử
7
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV 817139 do
Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 19/05/2020; Số vào sổ
cấp GCN: CS 01270 đứng tên ông Lưu Văn Dũn , bà Nguyễn Thị Tuyế và
Quyền sử dụng 240 m
2
đất (Đất ở: 200 m
2
sử dụng lâu dài + Đất vườn 40m
2
sử
dụng đến 2043; tại địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn, thị trấn Thanh, huyện Bình, tỉnh
Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản được xây dựng trên đất, tại
Thửa đất số: 70; Tờ
bản đồ số: 29 (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: S329958 do UBND
huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 07/12/2001; Số vào sổ cấp GCN:
T02217 QSDĐ/674/QĐUB đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Tà ) được xử lý để thu
hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế phải chịu án phí
kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
khởi kiện yêu cầu ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế phải trả tiền vay từ
Hợp đồng tín dụng đã ký kết; mục đích vay để kinh doanh nên đây là vụ án kinh
doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại
khoản 1 Điều 30, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Tòa án có đưa anh Lưu Tất Đạt, sinh ngày
27 tháng 02 năm 2003 và chị Lưu Thị Quỳnh Ánh, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2005
là con đẻ của ông Dũng, bà Tuyế tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan trong vụ án, qua xem xét Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án tranh
chấp về hợp đồng tín dụng, bên vay sử dụng tiền vào mục đích: Mua, bán sản xuất
các sản phẩm từ gỗ; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 01/8/2021 tại
mục 1 có ghi “Tên hộ kinh doanh: Dũng Tuyết” và tại thời điểm ông Dũn ký hợp
đồng tín dụng để vay vốn Ngân hàng thì anh Đạt và chị Ánh còn đang đi học; tài
sản thế chấp do ông Dũng, bà Tuyế quản lý chưa xây dựng tài sản gì chính vì vậy
anh Đạt và chị Ánh không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án. Do vậy,
Tòa án không đưa anh Đạt và chị Ánh tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án nữa.
Trong thời hạn giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập và gửi thông báo
về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để

8
những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến Tòa án làm việc nhưng những
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc theo
giấy triệu tập và thông báo của Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải liên
quan đến phần tài sản thế chấp được.
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến
hành giải quyết vụ án và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông
Lưu Văn Dũn , bà Nguyễn Thị Tuyế phải trả nợ cho Ngân hàng. Việc thay đổi yêu
cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và phù hợp với đơn khởi
kiện ghi ngày 28 tháng 11 năm 2023 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy:
Ngân hàng giải ngân cho ông Lưu Văn Dũn vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số:
2801LAV202101656 ngày 22 tháng 7 năm 2021 được ký kết giữa Ngân hàng với
ông Lưu Văn Dũn và căn cứ vào Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2801-
326797787B/HĐTC ngày 28/5/2020; Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp
số: 2801-326797787.1/VBSĐBS ngày 21/7/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với
ông Lưu Văn Dũn , bà Nguyễn Thị Tuyế ; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất số: 2801-326797787/HĐTC ngày 13/5/2020; Văn bản
sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787/PLHĐTC ngày
28/7/2020; Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787.2/
VBSĐBS ngày 21/7/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn Tà ,
bà Nguyễn Thị Mã , ông Nguyễn Văn Tâ , bà Nguyễn Thị Tuyê và bà Nguyễn Thị
Tuyế . Các hợp đồng trên được giao kết đúng quy định của pháp luật và tài sản thế
chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm.
Khi ký hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ chỉ có ông Lưu Văn Dũn đại
diện ký kết với Ngân hàng nhưng có sự ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tuyế . Trong
quá trình giải quyết vụ án ông Dũn và bà Tuyế đều thừa nhận do có nhu cầu vay
vốn kinh doanh nên ông bà có vay tiền của Ngân hàng và số tiền vay sử dụng vào
mục đích Mua, bán sản xuất các sản phẩm từ gỗ. Trong thời hạn vay đã trả được
một phần nợ gốc và lãi sau đó không trả được nợ cho Ngân hàng. Để đảm bảo cho
khoản vay ông Dũng, bà Tuyế đã tự nguyện thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế
9
chấp tài sản số 2801-326797787B/HĐTC ngày 28/5/2020; Văn bản sửa đổi bổ
sung hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787.1/VBSĐBS ngày 21/7/2021; Ông
Nguyễn Văn Tà , bà Nguyễn Thị Mã , ông Nguyễn Văn Tâ , bà Nguyễn Thị Tuyê
và bà Nguyễn Thị Tuyế đã tự nguyện thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài
sản số 2801-326797787/HĐTC ngày 13/5/2020; Văn bản sửa đổi bổ sung hợp
đồng thế chấp số: 2801-326797787/PLHĐTC ngày 28/7/2020; Văn bản sửa đổi bổ
sung hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787.2/ VBSĐBS ngày 21/7/2021. Tại bút
lục số 152, 153, 154, 119, 200, 201, 209, 210, 211, ông Dũn và bà Tuyế đều thừa
nhận có vay và còn nợ Ngân hàng số tiền gốc và tiền lãi như Ngân hàng khởi kiện
là đúng và xin được trả dần toàn bộ số nợ gốc 1.981.180.000 đồng và xin miễn
giảm tiền lãi nhưng không được Ngân hàng chấp nhận. Xét thấy, việc Ngân hàng
yêu cầu ông Dũn và bà Tuyế phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là: 2.444.737.238
đ (Hai tỷ, bốn trăm bốn mươi bốn triệu, bảy trăm ba mươi bảy ngàn, hai trăm ba
mươi tám đồng) (Trong đó: Nợ gốc là: 1.981.180.000 đồng; nợ lãi trong hạn và
lãi quá hạn tính hết ngày 26 tháng 4 năm 2024 là: 463.557.238đồng) và phải tiếp
tục trả tiền lãi kể từ ngày 27/4/2024 đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán cho đến
khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn là 15,75%/năm mà
hai bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202101656 ngày 22
tháng 7 năm 2021 và các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ là phù hợp
với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp Hội đồng xét xử thấy: Theo các tài
liệu mà Ngân hàng nộp tại Tòa án cũng như lời trình bày của các đương sự thì
ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất số: 2801-326797787B/HĐTC ngày 28/5/2020; Văn bản sửa đổi bổ sung
hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787.1/VBSĐBS ngày 21/7/2021; Ông
Nguyễn Văn Tà , bà Nguyễn Thị Mã , ông Nguyễn Văn Tâ , bà Nguyễn Thị Tuyê
và bà Nguyễn Thị Tuyế có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất số: 2801-326797787/HĐTC ngày 13/5/2020; Văn bản sửa đổi bổ sung
hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787/PLHĐTC ngày 28/7/2020; Văn bản sửa
đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số: 2801-326797787.2/VBSĐBS ngày 21/7/2021
để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay của ông Dũn tại Ngân hàng. Tại bút
lục số 152 bà Tuyế trình bày xin trả dần số nợ, nếu không trả được nợ thì tự bán tài
sản để lấy tiền trả nợ cho Ngân hàng. Tại bút lục số 200, 206, 209 ông Dũn trình
10
bày xin trả dần số nợ, nếu không trả được nợ thì đồng ý phát mại tài sản thế chấp
để trả nợ cho Ngân hàng. Tại bút lục số 157, 158 ông Tài bà Mão đều trình bày;
toàn bộ tài sản xây dựng trên đất đều do ông Tài bà Mão xây dựng, các con của
ông Tài bà Mão không có đóng góp gì, hiện ông Tài bà Mão đang quản lý sử dụng
toàn bộ tài sản thế chấp, không cho ai thuê, mượn. Ông Tài bà Mão đề nghị cho
ông Dũng, bà Tuyế trả dần số nợ để giữ lại tài sản cho ông Tài, bà Mão vì thửa đất
này là nơi ở duy nhất của vợ chồng ông Tài, bà Mão. Cả ông Dũng, bà Tuyết, ông
Tài, bà Mão đều xác định khi ký hợp đồng thế chấp là tự nguyện, không bị ai ép
buộc nên không có ý kiến gì đối với hợp đồng thế chấp và các tài sản thế chấp đã
được đăng ký giao dịch bảo đảm, do đó các hợp đồng thế chấp là hợp pháp. Tòa án
tiến hành thẩm định đối với các tài sản thế chấp thì diện tích đất và tài sản xây
dựng trên đất vẫn giữ nguyên hiện trạng như khi thế chấp không có gì thay đổi.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định vợ chồng ông Dũn và bà Tuyế đã dùng toàn
bộ khối tài sản của mình là Quyền sử dụng 130,4 m
2
đất
(Đất ở: 45m
2
sử dụng lâu
dài + Đất trồng cây lâu năm 85,4m
2
sử dụng đến 15/10/2043) địa chỉ thửa đất:
Thôn Vị Trù, xã Thanh Trù, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; tại thửa đất số: 953; tờ
bản đồ số: 22 (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số: CV 817139 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh
Vĩnh Phúc cấp ngày 19/05/2020; Số vào sổ cấp GCN: CS 01270 đứng tên ông Lưu
Văn Dũn , bà Nguyễn Thị Tuyế để đảm bảo cho các khoản vay của ông Dũn và bà
Tuyế tại Ngân hàng (Trên đất chưa xây dựng tài sản gì); ông Nguyễn Văn Tà , bà
Nguyễn Thị Mã , ông Nguyễn Văn Tâ , bà Nguyễn Thị Tuyê và bà Nguyễn Thị
Tuyế đã dùng toàn bộ khối tài sản của mình là Quyền sử dụng 240 m
2
đất (Đất ở:
200 m
2
sử dụng lâu dài + Đất vườn 40m
2
sử dụng đến 2043) địa chỉ thửa đất: Tổ
dân phố Đoàn, thị trấn Thanh, huyện Bình, tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản
được xây dựng trên đất là 01 nhà cấp 4, 01 tầng lợp ngói và công trình phụ (gồm
nhà bếp, nhà vệ sinh, sân lát gạch, lán tôn, chuồng chăn nuôi, cổng sắt…) cùng cây
cối lâm lộc,
tại thửa đất số: 70; tờ bản đồ số: 29 (Theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số: S329958 do UBND huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày
07/12/2001; Số vào sổ cấp GCN: T02217 QSDĐ/674/QĐUB đứng tên hộ ông
Nguyễn Văn Tà ) để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông Lưu Văn Dũn , bà
Nguyễn Thị Tuyế . Vì vậy, yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn là có
căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận. Trường hợp bà Tuyết, ông Dũn không trả
được số nợ trên cho Ngân hàng thì toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên thuộc quyền sở
11
hữu của bà Tuyết, ông Dũn và hộ ông Tài sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho Ngân
hàng theo quy định của Bộ luật dân sự và các điều khoản của hợp đồng thế chấp.
Do vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về án phí: Ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế phải chịu án phí kinh
doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nên
được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về chi phí cho việc thẩm định và chi phí nhắn tin Ngân hàng xin tự nguyện
chịu toàn bộ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem
xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 91; khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các
Điều 280, 299, 317, 318, 319, 320, 463, 466 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 30,
điểm b khoản 1 Điều 35, các Điều 39; 147, 155, 156, 157, 227, 228 Bộ luật tố
tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế phải trả cho Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là:
2.444.737.238 đ (Hai tỷ, bốn trăm bốn mươi bốn triệu, bảy trăm ba mươi bảy
ngàn, hai trăm ba mươi tám đồng) (Trong đó: Nợ gốc là: 1.981.180.000 đồng; nợ
lãi trong hạn và lãi quá hạn tính hết ngày 26 tháng 4 năm 2024 là:
463.557.238đồng). Ông Dũn và bà Tuyế phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng kể
từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đối với số dư nợ gốc chưa thanh toán
cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất là 15,75%/năm (Là
mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng số:
2801LAV202101656 ngày 22 tháng 7 năm 2021 và các báo cáo đề xuất giải ngân
kiêm giấy nhận nợ).
12
Trường hợp ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế không thanh toán trả
số nợ trên thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền đề
nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ; các tài sản cụ thể như sau:
Quyền sử dụng 130,4 m
2
đất
(Đất ở: 45m
2
sử dụng lâu dài + Đất trồng cây
lâu năm 85,4m
2
sử dụng đến 15/10/2043); địa chỉ thửa đất: Thôn Vị Trù, xã
Thanh Trù, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; thửa đất số: 953; tờ bản đồ số: 22;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số: CV 817139 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày
19/05/2020; Số vào sổ cấp GCN: CS 01270 đứng tên ông Lưu Văn Dũn , bà
Nguyễn Thị Tuyế ; theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2801-
326797787B/HĐTC ngày 28/5/2020; Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp
số: 2801-326797787.1/VBSĐBS ngày 21/7/2021.
Quyền sử dụng 240 m
2
đất (Đất ở: 200 m
2
sử dụng lâu dài + Đất vườn 40m
2
sử dụng đến 2043) địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đoàn, thị trấn Thanh, huyện
Bình, tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản được xây dựng trên đất là 01 nhà cấp 4,
01 tầng lợp ngói và các công trình phụ (gồm nhà bếp, nhà vệ sinh, sân lát gạch,
lán tôn, chuồng chăn nuôi, cổng sắt,…) cùng cây cối lâm lộc; tại
thửa đất số: 70;
tờ bản đồ số: 29; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: S329958 do UBND
huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 07/12/2001; Số vào sổ cấp GCN:
T02217 QSDĐ/674/QĐUB đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Tà ; theo Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 2801-326797787/HĐTC
ngày 13/5/2020; Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số: 2801-
326797787/PLHĐTC ngày 28/7/2020; Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế
chấp số: 2801-326797787.2/ VBSĐBS ngày 21/7/2021.
Về án phí: Ông Lưu Văn Dũn và bà Nguyễn Thị Tuyế phải chịu
80.895.000đ (Tám mươi triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng) (đã làm tròn)
án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; hoàn
trả Ngân hàng 38.985.000đ (Ba mươi tám triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002096 ngày 29
tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.
13
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Bình Xuyên;
- Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Thị Tố Uyên
14
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 29/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm