Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 99/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 99/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xử cho bà Hồ Thị H ly hôn anh Trần Nam H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – THANH HÓA
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 99/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 27 – 08 – 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về chia
tài sản khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Tường Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 7 - Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên
toà: Bà Trương Thị Thuý – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 08 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Thanh
Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2026/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng
01 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 1038/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 07 năm
2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị H; sinh năm: 1965
Số căn cước công dân: ************
Địa chỉ: 3 đường B, phường B, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Thị H: Chị Bùi Thị Hoàng Y, sinh
năm: 1997
Địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Lâm Đồng
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bà H: Ông Trần Văn T – là Luật sư Văn
phòng L
Địa chỉ: H T, phường T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Nam H1; sinh năm: 1960
Số căn cước công dân: ************
Địa chỉ: C đường H, khu phố H (Nay là thôn V), xã V, tỉnh Thanh Hóa
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP B2
Địa chỉ: Tòa nhà H, D N, phường B, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lý Hoài V – Tổng giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình A – Tổng giám đốc Trung
tâm Q nợ
Người đại diện theo uỷ quyền lại: Anh Lê Xuân B
Địa chỉ: Số B L, phường H, tỉnh Thanh Hóa
2
Tại phiên tòa có mặt bà Hồ Thị H, ông Trần Văn T, ông Lê Xuân B. Vắng
mặt ông Trần Nam H1 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
nguyên đơn bà Hồ Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Trần Nam H1 qua quá trình tìm hiểu trên cơ sơ tự
nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, (nay là xã K, tỉnh
Gia Lai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 12, quyển số 01, đăng ký ngày
20/10/1993. Thời gian đầu mới kết hôn thì vợ, chồng sống hạnh phúc và có 02 con
chung. Tuy nhiên, qua quá trình chung sống do có những bất đồng về quan điểm
sống và nuôi dạy con cái nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vì các
con nên bà cố gắng chịu đựng để chăm lo cho các con khôn lớn, tránh ảnh hưởng
đến tâm lý của các con. Bà và ông H1 sống ly thân từ năm 2017 đến nay không ai
quan tâm đến ai. Đến nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà yêu
cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Nam H1.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Châu T1, sinh ngày
06/08/1994 và cháu Trần Nhật N, sinh ngày 19/07/2002. Đến nay, các cháu đều đã
đủ tuổi thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung: Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề cụ thể
sau.
+ Về tài sản chung: Quá trình chung sống bà và ông H1 có tài sản chung là 01
thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số CB026864, số vào sổ cấp GCN: CH02054 do UBND quận B3 cấp
ngày 16/10/2015, cập nhật biến động 11/04/2016. Khi ly hôn bà H yêu cầu được
chia bằng hiện vật là quyền sử dụng đất và bà sẽ có trách nhiệm trả cho ông H1 tiền
chênh lệch bằng ½ giá trị quyền sử dụng đất.
+ Về công nợ chung: Quá trình chung sống bà và ông H1 có khoản vay nợ với
Ngân hàng thương mại cổ phần B2 theo Hợp đồng tín dụng số
0134/00915/04.HDTDTLTDH ngày 01/12/2015 số tiền vay là 1.500.000.000 đồng
tiền gốc. Từ khi vay đến nay bà là người trả tiền lãi suất và tiền gốc theo thỏa thuận
của hợp đồng tín dụng. Đến nay bà yêu cầu ông H1 phải có nghĩa vụ thanh toán ½
số tiền nợ gốc còn lại chưa trả và phải trả cho bà ½ số tiền gốc và tiền lãi bà đã bỏ ra
trả từ khi vay đến nay. Theo số tiền thực tế bà đã bỏ ra và số liệu của ngân hàng
TMCP B2 cung cấp thì tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm bà đã trả cho Ngân
hàng tổng số tiền gốc và tiền lãi là 2.180.119.371 đồng (Hai tỷ một trăm tám mươi
triệu một trăm mười chín nghìn ba trăm bảy mươi mốt đồng). Số tiền gốc và lãi còn
nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 700.517.222 đồng (B1 trăm triệu năm trăm mười
bảy nghìn hai trăm hai mươi hai đồng).
- Về chi phí tố tụng: Bà yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình
bày:
- Về phần hôn nhân và con chung do các đương sự đã có ý kiến thống nhất nên
đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo yêu cầu của nguyên đơn.
- Về tài sản và công nợ:
3
+ Về tài sản chung: Quá trình chung sống ông H1 và bà H có tài sản chung là
01 thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số CB026864, số vào sổ cấp GCN: CH02054 do UBND quận B3
cấp ngày 16/10/2015, cập nhật biến động 11/04/2016. Khi ly hôn ông đề nghị Hội
đồng xét xử chia bằng hiện vật là quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Đối với việc
chia giá trị tài sản chung, tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
có yêu cầu chia đôi giá trị tài sản. Tuy nhiên tại phiên tòa ngày hôm nay đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét chia phần hơn cho bà H cụ thể là đề nghị chia cho bà H được
hưởng 60 % giá trị tài sản, chia cho ông H1 40 % giá trị tài sản vì lý do, tài sản này
có được là do bà H và ông H1 đã vay ngân hàng để mua từ năm 2015. Tuy nhiên sau
khi có tài sản thì bà H và ông H1 sống ly thân, một mình bà H phải nuôi con và trả
các khoản tiền lãi và tiền gốc theo hợp đồng tín dụng. Do đó đóng góp của bà H
trong việc quản lý và tăng giá trị tài sản là lớn hơn ông H1.
+ Về công nợ chung: Quá trình chung sống bà H và ông H1 có khoản vay nợ
với ngân hàng thương mại cổ phần B2 theo Hợp đồng tín dụng số
0134/00915/04.HDTDTLTDH ngày 01/12/2015 số tiền vay là 1.500.000.000 đồng
tiền gốc. Từ khi vay đến nay bà H là người trả tiền lãi suất và tiền gốc theo thỏa
thuận của hợp đồng tín dụng. Đến nay đề nghị HĐXX yêu cầu ông H1 phải có nghĩa
vụ thanh toán ½ số tiền nợ còn lại chưa trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm và phải trả
cho bà H ½ số tiền gốc và tiền lãi bà đã bỏ ra trả từ khi vay đến ngày xét xử.
+ Về chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của
pháp luật.
+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H là người cao tuổi và đã có yêu cầu xin miễn
tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án
phí dân sự sơ thẩm cho bà H.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Nam H1 trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà Hồ Thị H kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại
UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (nay là xã K, tỉnh Gia Lai), theo giấy chứng
nhận kết hôn số 12, quyển số 01, đăng ký ngày 20/10/1993. Đến nay ông xét thấy
tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với bà Hồ Thị H
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Châu T1, sinh ngày
06/08/1994 và cháu Trần Nhật N, sinh ngày 19/07/2002. Đến nay, các cháu đều đã
đủ tuổi thành niên nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và công nợ chung:
+ Về tài sản chung: Quá trình chung sống ông và bà H có tài sản chung là 01
thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số CB026864, số vào sổ cấp GCN: CH02054 do UBND quận B3 cấp
ngày 16/10/2015, cập nhật biến động 11/04/2016. Khi ly hôn ông yêu cầu được chia
bằng hiện vật là quyền sử dụng đất và ông sẽ có trách nhiệm trả cho bà H tiền chênh
lệch bằng ½ giá trị quyền sử dụng đất.
+ Về công nợ chung: Quá trình chung sống ông và bà H có khoản vay nợ với
Ngân hàng thương mại cổ phần B2 theo Hợp đồng tín dụng số
0134/00915/04.HDTDTLTDH ngày 01/12/2015 số tiền vay là 1.500.000.000 đồng
tiền gốc. Từ khi vay đến nay bà H là người trả tiền lãi suất và tiền gốc theo thỏa
4
thuận của hợp đồng tín dụng. Đến nay bà H yêu cầu ông phải có nghĩa vụ thanh toán
½ số tiền nợ gốc còn lại chưa trả và phải trả cho bà ½ số tiền gốc và tiền lãi bà đã bỏ
ra trả từ khi vay đến nay ông đồng ý với yêu cầu này của bà H.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng TMCP B2 trình bày:
- Bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1 là bên được cấp tín dụng cùng ký các
hợp đồng tín dụng để vay tiền BV B4 (Theo Hợp đồng tín dụng số
0134/00915/04.HDTDTLTDH ngày 01/12/2015, Giấy nhận nợ số
01/0134/00915/04.HĐTDTLTDH ngày 24/12/2015, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số
01/0134/00915/06.TTSĐBS ngày 18/10/2016). Đến nay, các hợp đồng tín dụng vẫn
còn hiệu lực. Do đó, căn cứ theo thoả thuận tại hợp đồng tín dụng và các quy định
tại Điều 463,466 Bộ luật dân sự 2015, khoản 2 Điều 4 Thông tư số 39/2016/TT-
NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ
chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì bà Hồ Thị H
và ông Trần Nam H1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng TMCP B2. Nghĩa vụ trả
nợ này là nghĩa vụ liên đới về các nghĩa vụ quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình
2014 “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của
Luật này” (khoản 2 Điều 27) trong đó bao gồm “nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do
vợ chồng cùng thoả thuận xác lập” (khoản 1 Điều 37). Nghĩa vụ liên đới trả nợ vẫn
có hiệu lực ngay cả khi bà Hồ Thị H và ông Trần Nam Hải ly H2 theo quy định tại
Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 do Ngân hàng TMCP B2 không có
thoả thuận nào khác với vợ chồng bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1 “Quyền, nghĩa
vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn trừ
trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thoả thuận khác”. Do đó, Ngân hàng TMCP
B2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các đương sự về việc chia tách nghĩa vụ
trả nợ giữa các đương sự.
- Sau khi bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1 tất toán khoản vay theo Hợp đồng
tín dụng số 0134/00915/04.HDTDTLTDH ngày 01/12/2015, Giấy nhận nợ số
01/0134/00915/04.HĐTDTLTDH ngày 24/12/2015, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số
01/0134/00915/06.TTSĐBS ngày 18/10/2016 và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu
có), Ngân hàng TMCP B2 sẽ tiến hành giải chấp và hoàn trả lại Giấy chứng nhận
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành
số CB 026864, sổ vào số cáp GCN số CH02054 do Ủy ban nhân dân Quận B3,
Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/10/2015 cho bà Hồ Thị H và ông Trần Nam
H1 theo quy định.
- Trường hợp bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán
nợ với Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm
quyền xử lý Tài sản bảo đảm là Toàn bộ quyền sử dụng đất, nhà, công trình xây
dựng khác, rừng trồng, vườn cây, các tài sản khác gắn liền với đất (kể cả trường hợp
tài sản này hình thành trong tương lai) tại thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32 có địa chỉ
tại N, lô C Khu dân cư Eha C, phường C, quận B (nay là phường C), thành phố Hồ
Chí Minh để thu hồi nợ.
Tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm bà H đã trả cho Ngân hàng tổng số
tiền gốc và tiền lãi là 2.180.119.371 (Hai tỷ một trăm tám mươi triệu một trăm mười
5
chín nghìn ba trăm bảy mươi mốt đồng). Số tiền gốc và lãi còn nợ chưa trả tính đến
ngày xét xử sơ thẩm là 700.517.222 đồng (B1 trăm triệu năm trăm mười bảy nghìn
hai trăm hai mươi hai đồng); Trong đó tiền nợ gốc là 700.000.000 đồng; tiền nợ lãi
là 517.222 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với
tài sản chung của bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1 là Quyền sử dụng đất và các tài
sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: N, lô C – 10, khu
dân cư 50 ha, C, phường C, thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản không có tranh chấp
hiện đang là tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp tài sản với ngân hàng TMCP
B2.
Theo chứng thư thẩm định giá số 254/2026/07001/CT/VATC ngày
14/07/2026 của công ty Cổ phần T2 (VATC) xác định giá trị Quyền sử dụng đất là
6.972.784.500 đồng (Sáu tỷ chín trăm bảy mươi hai triệu bảy trăm tám mươi bốn
nghìn năm trăm đồng)
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật
và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến
khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng
như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên
tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau
đây viết tắt là BLTTDS). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng các Điều
27, 51, 56, 58, 59, 60, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình:
- Về hôn nhân: Xử cho bà Hồ Thị H ly hôn ông Trần Nam H1;
- Về tài sản chung: Bà H và ông H1 có tài sản chung là Quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32 (Địa chỉ: N, lô C, KDC
50ha C, phường C, thành phố Hồ Chí Minh). Theo Chứng thư thẩm định giá số
254/2026/07001/CT/VATC ngày 14/07/2026, tài sản có giá trị 6.972.784.500 đồng,
đề nghị chia đôi tài sản này (mỗi người chia giá trị về tài sản số tiền 3.486.392.250
đồng). Đề nghị giao hiện vật quyền sử dụng đất nêu trên cho nguyên đơn (bà Hồ
Thị H) quyền quản lý, sử dụng và sở hữu. Bà H có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị
chênh lệch ½ tài sản cho bị đơn ông Trần Nam H1) với số tiền là 3.486.392.250
đồng.
- Về công nợ chung:
+ Chấp nhận yêu cầu của bà H buộc ông H1 phải có nghĩa vụ thanh toán ½ số
tiền nợ còn lại chưa trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm cho Ngân hàng TMCP B2 và
phải trả cho bà H và ½ số tiền gốc và tiền lãi bà H đã trả cho ngân hàng TMCP B2
từ khi vay đến ngày xét xử sơ thẩm.
+ Giao cho bà H có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ còn lại tính đến ngày
xét xử cho Ngân hàng TMCP B2. Ông H1 có trách nhiệm trả cho bà H ½ số tiền nợ
còn lại của Ngân hàng TMCP B2 tính đến ngày xét xử sơ thẩm.
+ Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ nếu các
đương sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
- Về chi phí tố tụng: Ông H1 và bà H mỗi người phải chịu ½ Chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
6
- Khấu trừ nghĩa vụ tài chính: Đối với các khoản tiền ông H1 phải thanh toán
cho bà H theo quyết định của Tòa án đề nghị HĐXX xem xét khấu trừ trực tiếp vào
số tiền chênh lệch tài sản mà bà H phải thanh toán cho ông H1 để hoàn tất nghĩa vụ
tài chính giữa hai bên.
Về án phí: Đề nghị HĐXX miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà H và
ông H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà Hồ Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn,
chia tài sản chung khi ly hôn đối với ông Trần Nam H1. Ông H1 cư trú tại xã V, tỉnh
Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung khi
ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa,
theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn ông Trần Nam H1 có đơn đề nghị Tòa án xét
xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS, tòa án xét xử vắng
mặt ông H1
[2]. Về hôn nhân: Bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1 kết hôn tự nguyện có
đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, theo giấy chứng nhận kết
hôn số 12, quyển số 01, đăng ký ngày 20/10/1993. Việc đăng ký kết hôn của bà H và
ông H1 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và
gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì vợ, chồng sống hòa thuận được
một thời gian thì những bất đồng về quan điểm sống và nuôi dạy con cái nên hai vợ
chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vợ, chồng đã sống ly thân nhiều năm nay.
Đến nay cả bà H và ông H1 đều xác định tình cảm vợ, chồng không còn đều yêu cầu
Tòa án giải quyết cho ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ, chồng
đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không
đạt được. Do đó nên căn cứ điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà H
được ly hôn ông H1 là phù hợp.
[3]. Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung là cháu Trần Châu T1, sinh
ngày 06/08/1994 và cháu Trần Nhật N, sinh ngày 19/07/2002. Đến nay, các cháu
đều đã đủ tuổi thành niên bà H và ông H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về tài sản chung: Bà H và ông H1 có tài sản chung là Quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32 (Địa chỉ: N, lô C,
KDC 50ha C, phường C, thành phố Hồ Chí Minh). Tài sản có giá trị 6.972.784.500
đồng. Quá trình giải quyết vụ án bà H và ông H1 đều đề nghị chia đôi giá trị về tài
sản và đều mong muốn được chia bằng hiện vật. Tại phiên tòa bà H không có ý kiến
thay đổi về nội dung này, tuy nhiên tại phần tranh luận tại phiên tòa người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có ý kiến đề nghị xem xét công sức đóng
góp của bà H nhiều hơn trong việc duy trì làm tăng giá trị để chia cho bà H 60 % giá
trị tài sản, chia cho ông H1 40 % giá trị tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy tài sản
chung là quyền sử dụng đất phát sinh trong thời kỳ hôn nhân cả hai bên thừa nhận là
tài sản chung. Từ khi mua đất cho đến nay cả bà H và ông H1 đều không trực tiếp ở
7
trên đất và sử dụng thửa đất này. Trong vụ án này, xét về công sức đóng góp,
nguyên đơn và bị đơn được xác định là ngang nhau, mặt khác từ khi tòa án thụ lý vụ
án đến phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn và bị đơn đều có yêu cầu chia đôi giá trị tài
sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chia đôi giá trị quyền sử dụng đất cho
nguyên đơn và bị đơn, mỗi người được hưởng 1/2 giá trị. Đối với yêu cầu được chia
bằng hiện vật, do quyền sử dụng đất là tài sản không thể chia đôi bằng hiện vật.
Hiện nay ông H1 không còn cư trú tại địa điểm có bất động sản, bà H hiện đang cư
trú tại địa phương nơi có bất động sản. Do đó chấp nhận yêu cầu của bà H giao cho
bà H được sử dụng, quản lý quyền sử dụng đất và bà H phải trả tiền chênh lệch
tương đương với ½ giá trị tài sản cho ông H1 là phù hợp đúng quy định của pháp
luật.
[5] Về công nợ chung: Khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số
0134/00915/04.HDTDTLTDH tại Ngân hàng TMCP B2 (BV B4) là khoản nợ chung
của vợ chồng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Điều này đều được các bên thừa
nhận nên cần chia đôi trách nhiệm trả nợ.
[5.1.] Đối với số tiền bà H đã thanh toán từ ngày vay vốn đến ngày xét xử sơ
thẩm: Xét thực tế quá trình thực hiện hợp đồng vay, từ thời điểm vay vốn cho đến
nay, toàn bộ các khoản tiền nợ gốc và lãi phát sinh với Ngân hàng đều do một mình
bà Hồ Thị H trực tiếp chi trả, thanh toán. Tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm
bà H đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP B2 tổng số tiền cả tiền gốc và tiền lãi là
2.180.119.371 đồng (Trong đó tiền nợ gốc đã trả là 800.000.000 đồng; tiền nợ lãi đã
trả là 1.380.119.371 đồng). Số tiền này cả bà H và ông H1 đều đồng ý ông H1 sẽ có
trách nhiệm trả lại cho bà H ½ số tiền bà H đã trả. Do đó cần buộc ông Trần Nam
H1 phải trả cho bà Hồ Thị H số tiền 1.090.060.000 đồng.
[5.2.] Đối với số tiền bà H và ông H1 còn nợ lại Ngân hàng TMCP B2 tính
đến ngày xét xử sơ thẩm là 700.517.222 đồng đây là khoản nợ chung của vợ chồng
do đó cần buộc mỗi người phải có trách nhiệm trả ½ số tiền trên cho ngân hàng
TMCP B2. Tuy nhiên do tài sản thế chấp của khoản vay là quyền sử dụng đất đã
giao cho bà Hồ Thị H sử dụng do đó cần giao trách nhiệm trả nợ cho bà H phải có
trách nhiệm trả toàn bộ số tiền còn nợ lại cho ngân hàng TMCP B2 số tiền là
700.517.222 đồng. Ông Trần Nam H1 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà H số
tiền 350.259.000 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà H còn phải
thanh toán các khoản tiền lãi phát sinh cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký
kết. Trong trường hợp bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ, Ngân hàng TMCP B2
có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm
là Thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32 tại Khu dân cư Eha C, phường C, Thành Phố Hồ
Chí Minh để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản: Chi phí
xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản hết 41.516.000 đồng (Bốn mươi mốt
triệu năm trăm mười sáu nghìn đồng) nguyên đơn đã chi phí và nộp tạm ứng đủ. Do
các đương sự được chia đôi giá trị tài sản chung nên nguyên đơn bà Hồ Thị H và bị
đơn ông Trần Nam H1 mỗi người phải chịu ½ tổng chi phí tố tụng là 20.758.000
đồng.
8
[7]. Về đối trừ các khoản tiền chênh lệch về tài sản, công nợ, chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1
phải trả cho nhau: Bà Hồ Thị H phải trả tiền chênh lệch cho ông Trần Nam H1 về
chia tài sản chung, ông Trần Nam H1 phải trả cho bà Hồ Thị H số tiền về công nợ
chung và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí thẩm định giá tài sản. Do đó cần
đối trừ cho nhau các khoản phải chi trả cho nhau để buộc bên nào có số tiền phải trả
lớn hơn phải thanh toán lại cho bên kia số tiền còn lại là phù hợp, đúng quy định của
pháp luật.
[8]. Về án phí: Bà H và ông H1 là người cao tuổi đã có yêu cầu xin miễn toàn
bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm, do đó miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Hồ
Thị H và ông Trần Nam H1. Bà H được trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã
nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 27, 33, 37, 51, 56, 59, 60 Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 288, 317, 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Các điều 147, 157,
158, 165 và Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 100, 107 Luật các tổ chức tín
dụng 2024; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Hồ Thị H được ly hôn ông Trần Nam H1
2. Về tài sản chung:
2.1. Chia đôi giá trị tài sản chung là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32; địa chỉ: N, lô C,
Khu dân cư Eha C, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Hồ Thị H và ông
Trần Nam H1. Bà H và ông H1 mỗi người được chia giá trị tài sản là 3.486.392.250
đồng (Ba tỷ bốn trăm tám mươi sáu triệu ba trăm chín mươi hai nghìn hai trăm năm
mươi đồng)
2.2. Giao cho bà Hồ Thị H được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ Quyền sử
dụng đất Thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32; địa chỉ: N, lô C, Khu dân cư Eha C,
phường C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CB026864, số vào
sổ cấp GCN: CH02054 do Ủy ban nhân dân Quận B3, Thành phố Hồ Chí Minh cấp
ngày 16/10/2015.
2.3. Bà Hồ Thị H có trách nhiệm trả cho ông Trần Nam H1 tiền chênh lệch về
tài sản chung do bà H được giao tài sản bằng hiện vật số tiền phải trả là
3.486.392.250 đồng (Ba tỷ bốn trăm tám mươi sáu triệu ba trăm chín mươi hai nghìn
hai trăm năm mươi đồng)
3. Về công nợ:
3.1. Chia đôi trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP B2 số tiền nợ còn lại
theo Hợp đồng tín dụng số 0134/00915/04.HDTDTLTDH ngày 01/12/2015 tính đến
ngày xét xử sơ thẩm tổng số tiền là 700.517.222 đồng (Bảy trăm triệu năm trăm
mười bảy nghìn hai trăm hai mươi hai đồng); trong đó tiền nợ gốc là 700.000.000
đồng; tiền nợ lãi là 517.222 đồng, cho bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1.
9
Giao cho bà Hồ Thị H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP B2 toàn bộ
số tiền 700.517.222 đồng (Bảy trăm triệu năm trăm mười bảy nghìn hai trăm hai
mươi hai đồng). Ông Trần Nam H1 có trách nhiệm trả lại cho bà Hồ Thị H số tiền
350.259.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu hai trăm năm mươi chín nghìn đồng).
Bà Hồ Thị H phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh kể từ ngày tiếp theo ngày xét
xử, ngày 28/08/2026 cho đến khi thanh toán hết số dư nợ theo thỏa thuận tại Hợp
đồng tín dụng số 0134/00915/04.HDTDTLTDH ngày 01/12/2015 đã ký kết giữa
ngân hàng TMCP B2 với bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1.
Trường hợp, bà Hồ Thị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ với Ngân hàng thì
Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý Tài sản
bảo đảm là Toàn bộ quyền sử dụng đất, nhà, công trình xây dựng khác, rừng trồng,
vườn cây, các tài sản khác gắn liền với đất (kể cả trường hợp tài sản này hình thành
trong tương lai) tại thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32 có địa chỉ tại N, lô C Khu dân cư
Eha C, phường C, Quận B (nay là phường C), thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.
3.2. Ông Trần Nam H1 có trách nhiệm trả cho bà Hồ Thị H là ½ số tiền nợ
gốc và nợ lãi bà H đã trả cho Ngân hàng TMCP B2 từ ngày vay vốn đến ngày xét xử
sơ thẩm số tiền là: 1.090.060.000 đồng (Một tỷ không trăm chín mươi triệu không
trăm sáu mươi nghìn đồng).
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản: Bà
Hồ Thị H và ông Trần Nam H1 mỗi người phải chịu ½ số tiền chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản. Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
và thẩm định giá tài sản là 41.516.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, năm trăm mười
sáu nghìn đồng). Khoản tiền này bà H đã nộp đủ nên ông Trần Nam H1 phải có
trách nhiệm trả cho bà Hồ Thị H số tiền 20.758.000 đồng (Hai mươi triệu, bảy trăm
năm mươi tám nghìn đồng).
5. Về đối trừ các khoản tiền chênh lệch về tài sản, công nợ, chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản bà Hồ Thị H và ông Trần Nam H1
phải trả cho nhau: Đối trừ tổng số tiền 1.461.077.000 đồng ông Trần Nam H1 phải
trả cho bà Hồ Thị H vào số tiền 3.486.392.250 đồng bà Hồ Thị H phải trả cho ông
Trần Nam H1.
Bà Hồ Thị H còn phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Nam H1 tổng số tiền
là 2.025.315.250 đồng (Hai tỷ không trăm hai mươi lăm triệu ba trăm mười lăm
nghìn hai trăm năm mươi đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi
hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án không thi hành đầy đủ
thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời
điểm thanh toán với mức lãi suất theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468
Bộ luật dân sự.
Sau khi bà Hồ Thị H hoàn thành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, tài sản được
xóa đăng ký thế chấp thì bà Hồ Thị H có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền
thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 603, tờ bản đồ số 32
có địa chỉ tại N, lô C Khu dân cư Eha C, phường C, Quận B (nay là phường C),
thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.
10
6. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Hồ Thị H và ông
Trần Nam H1. Trả lại cho bà Hồ Thị H toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
60.027.000 đồng (Sáu mươi triệu không trăm hai mươi bảy nghìn đồng), theo biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0054827 ngày 26/02/2025 của Chi cục thi
hành án dân sự Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại điều 34 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bà Hồ Thị H, Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của nguyên đơn, Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng TMCP B2.
Bà Hồ Thị H, Ngân hàng TMCP B2 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Nam H1 có quyền kháng cáo bản này trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hội thẩm nhân dân
Lê Thị Tâm
Nguyễn Thị Tường Vân
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 7 – Thanh Hóa;
- Các đương sự;
- UBND xã Kon Gang, tỉnh Gia
Lai;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Văn Hải
11
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hội thẩm nhân dân
Nguyễn Thị Hà
Lưu Đình Tâm
12
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST Bản án số 99/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất