Bản án số 98/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 của TAND huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 98/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 98/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 của TAND huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 139.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thủy Nguyên (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 98/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/10/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HN THU NGUYÊN
THÀNH PH HI PHÒNG
Bản án số: 98/2018/HS-ST
Ngày 25-10-2018
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HN THY NGUYÊN, THÀNH PH HI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đ Cảnh
Ông Bùi Đ Khoa
- Thư phiên tòa: Trần Thị Bích Thủy - Thư Toà án nhân dân Hện
Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Hện Thủy Nguyên, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên tòa:Đồng Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Thủy Nguyên,
thành phố Hải Phòng xét xử thẩm công khai vụ án hình sthẩm thụ số:
85/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 101/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Đình S, sinh năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi trú: Thôn 8, M, Hện T,
thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Đình S (đã chết) Đỗ Thị H; chưa vợ, con; tiền án, tiền s: không; bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22 tháng 6 năm 2018; có
mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 2000; nơi trú: khu 3, phường C
thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
2
Do không tiền ăn tiêu nhân nên ngày 27 tháng 9 năm 2017 Đỗ Đ Đ
Vũ Đình S đã đăng bài viết giả vờ rao bán chiếc xe mô tô Exciter màu xanh (không
biển kiểm soát) của Đỗ Đ Đ với g rẻ 6.000.000 đồng lên mạng hội
Facebook. Khi người mua xe, Đ S sẽ liên lạc dẫn v khu vực vắng người
giả vờ thỏa thuận trao đổi mua bán xe, khách hàng giao tiền, không giao xe mà bỏ
chạy để chiếm đoạt tiền mua xe. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 27 tháng 9 năm
2017, anh Nguyễn Quốc Đ sinh năm 2000 khu 3, phường C, thành phố H, tỉnh
Quảng Ninh thấy tên Facekook Nguyễn Trung A đăng bài viết với nội dung bán xe
như trên nên đã liên hệ đặt vấn đề mua chiếc xe trên. S Đ hẹn anh Đ đến khu
vực Lưu Kiếm, Hện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng để giao tiền, nhận xe.
Anh Đ rủ bạn Phạm H Đ sinh năm 2000 phường T, thành phố H, tỉnh Quảng
Ninh đi cùng.
Khoảng 13 giờ cùng ngày S Đ đến nhà i Doãn H. Tại đây, Đ nói với
H: “Có hai thằng HLong mua xe, nữa nó đến, anh em mình lấy tiền của nó”.
H đồng ý. S bảo rủ thêm K Nguyễn Văn Q tham gia cùng. S Đ khiển xe
Exciter biển kiểm soát 34K8-6051 (là xe của Đ) chở Đ, H đến nhà Q. Tại nhà Q, S,
Đ, H gặp Đỗ Đ T. S và Đ nói với cả nhóm: “Có hai thằng Quảng Ninh mua xe,
dẫn về đây lấy tiền mua xe của nó”. Q, T đều đồng ý. Q gọi điện rủ Bá K đi
cùng, hẹn K đường Liên Khê - Lưu Kiếm. K đi xe tô biển kiểm soát
16N1-6135 ra ngoài đường quốc lộ 10 thì gặp Q, S, H, Đ T. Sau đó cả nhóm đi
ra khu vực rặng cây bạch đàn thuộc đường liên Lưu Kiếm, Hện Thủy Nguyên,
thành phố Hải Phòng. Tại đây, S và Đ nói với K, H, Q, T: Tý nữa dẫn hai thằng
Hạ Long mua xe đến đây, anh em sẽ lấy tiền và lấy lại xe”. Cả nhóm đều hiểu việc
mua bán xe chỉ giả. Khi hai người Hạ Long tin tưởng giao tiền sẽ không giao
xe mà bỏ chạy để chiếm đoạt tiền. Sau đó, cả nhóm thống nhất K và S sẽ đi đón hai
người mua xe dẫn vào khu vực chân núi Lưu Kiếm gicho xem xe chiếm
đoạt số tiền mua xe tại đây, còn Q, Đ, H, T sẽ đứng chờ ngã ba đường Quốc lộ
10 với đường liên xã Lưu Kiếm - Liên Khê để hỗ trợ S K nếu hai người mua xe
đuổi theo.
Khoảng 14 giờ cùng ngày anh Nguyễn Quốc Đ, Phạm H Đ đi xe mô tô biển
kiểm soát 29T4-4845 đến khu vực cây xăng qua cầu Đá Bạc thì thấy S và K đi xe
Exciter biển kiểm soát 34K8-6051 (giống với chiếc xe đăng trên Facebook)
ra hiệu để Đ Đ đi theo. S, K dẫn anh Đ Đ đến khu vực đường liên Lưu
Kiếm - Liên Khê, rẽ vào đường đất vòng sát chân núi (gần khu vực nghĩa trang
Lưu Kiếm) được khoảng 200m thì dừng lại. Quan sát thấy xung quanh vắng người,
để anh Đ, Đ tin tưởng giao tiền S bảo anh Đ Đ kiểm tra xe. Sau khi kiểm tra xe,
anh Đ đồng ý mua và đưa tiền cho K 4.000.000 đồng. Do thiếu tiền nên Đ gọi điện
thoại cho người quen để mượn thêm tiền. Lợi dụng lúc anh Đ và Đ hở, K Đ
khiển xe Exciter chở S bỏ chạy ra Quốc lộ 10. Khi qua đoạn Q, Đ, H, T đang đứng
3
đợi thì K bảo mọi người chặn xe của Đ Đ lại. Vừa lúc đó, thấy xe của Đ Đ
đuổi theo xe của K S thì Đ ch H bằng xe tô biển kiểm soát 16N1-6135
vượt lên trước xe của anh Đ lạng lách, đánh võng trước xe của anh Đ để anh Đ
không đuổi được K S. Tiếp đó Đỗ Đ T Đ khiển xe mô tô biển kiểm soát 15G1-
59.333 chở Nguyễn Văn Q phía sau. T áp sát xe của anh Đ Đ giải vờ hỏi cHện
mục đích để S K thời gian chạy thoát. Anh Đ, Đ nói với T, Q bị lừa mất tiền.
T đã nói dối anh Đ, Đ nhìn thấy hai thanh niên bỏ chạy về hướng cầu Đá Bạc.
Anh ĐĐ tin tưởng đuổi theo về hướng cầu Đá Bạc. S, K đi ngược về hướng cầu
Giá vào đường liên về nhà Đỗ Đ Đ thôn 5, Minh Tân, Hện Thủy Nguyên,
thành phố Hải Phòng. Sau đó, cả nhóm tập trung tại nhà Đ, K đưa cho Q số tiền
4.000.000 đồng số tiền vừa chiếm đoạt được. Q cầm tiền đưa cho Đ 1.600.000
đồng, cho Nguyễn Thị Minh H sinh năm 1971 Minh Tân (là mẹ đẻ của Đ)
200.000 đồng. Tiếp đó, cả nhóm về nhà S, Q đưa cho S 400.000 đồng đưa cho
K 1.000.000 đồng. Q K cùng đi sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng
mua 500.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông không quen biết. K giữ lại số
tiền 350.000 đồng, K đưa lại cho Q 150.000 đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày cả
nhóm ra nnghỉ Anh Ngọc Kênh Giang, Hện Thủy Nguyên thuê phòng để
cả nhóm sử dụng ma túy. Tại đây, Q đưa cho T và H mỗi người 100.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2018/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2018
của Tòa án nhân dân Hện Thủy Nguyên đã xử phạt: K 18 tháng tù, Nguyễn
Văn Q 15 tháng tù, Đỗ Đ Đ 15 tháng tù và Bùi Doãn H 06 tháng tù cùng về tội Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản.
Vũ Đình S bỏ trốn. Ngày 22 tháng 6 năm 2018 S đã đến Cơ quan Cảnh sát Đ
tra Công an Hện Thủy Nguyên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như trên.
Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSTN ngày 11 tháng 9 năm 2018 của Viện Kiểm
sát nhân dân Hện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đình S v
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Đ 174 của Bộ luật Hình
sự năm 2015.
- Tại phiên tòa thẩm đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Hện Thủy Nguyên
luận tội ginguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đình S như nội dung bản
cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Đ 174; điểm h, i, s khoản
1 khoản 2 Đ 51; Đ 38; khoản 3 Đ 7; Đ 17; Đ 58 của Bộ luật Hình snăm 2015
Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội xử phạt
bị cáo Đình S từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ
ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự đã giải quyết xong tại giai đoạn Đ tra. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
4
- Bị cáo Đình S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo
trạng nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Hện Thủy
Nguyên. Trong lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi bị cáo đã thực hiện,
do bị rủ rê, lôi kéo nên bị cáo mới vi phạm pháp luật đnghị Hội đồng xét xử xem
xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về pháp luật áp dụng: Hành vi của Vũ Đình S xảy ra trước ngày 01 tháng
01 năm 2018 (ngày hiệu lực của Bộ luật Hình sự năm 2015). Tuy nhiên, căn cứ
điểm b khoản 1 Đ 2 Nghị quyết s41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của
Quốc hội và khoản 3 Đ 7 của Bộ luật Hình snăm 2015 thì các Đ khoản của Bộ
luật Hình sự năm 2015 vtội phạm, hình phạt, tình tiết giảm nhẹ mới và các quy
định khác lợi cho người phạm tội được áp dụng đối với cả những hành vi phạm
tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 sau thời điểm đó
đang bị Đ tra, truy tố, xét xử.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan Cảnh sát điều tra Công an
huyn Thủy Nguyên, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên,
Kiểm sát viên trong quá tnh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự
thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố tại
phiên tòa bị cáo những người tham gia tố tụng khác không ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thu thập và thực hiện đều hợp pp.
[3] Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình S khai nhận hành vi phạm tội của mình phù
hợp với lời khai tại quan Đ tra, phù hợp với lời khai bị hại, lời khai của những
người khác các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, đủ sở kết luận: Ngày
27 tháng 9 năm 2017, Đình S cùng với Đỗ Đ Đ, K, Nguyễn Văn Q, Bùi
Doãn H Đỗ Đ T bằng thủ đoạn gian dối giả bán xe mô tô Exciter biển kiểm soát
34K8-6051 của Đỗ Đ Đ cho anh Nguyễn Quốc Đ, chiếm đoạt của anh Nguyễn
Quốc Đ số tiền 4.000.000 đồng đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định
tại khoản 1 Đ 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như truy tố và đề nghị kết tội của
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đối với bị cáo Đình S căn
cứ và đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm
tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm phạm quyền shữu tài sản, gây mất
5
trật tự trị an tại địa phương. vậy, cần phải xét xử nghiêm, tương xứng với tính
chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhtrách nhim hình s: Bị cáo không
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nh
sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gây thiệt hại
không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bà
nội của bị cáo người công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân
chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1; khoản 2 Đ 51 của Bộ luật Hình sự
năm 2015.
[6] Về hình phạt: Đây vụ án đồng phạm nên cần thiết phải phân hóa vai
trò của bị cáo làm scho việc quyết định hình phạt. Trong vụ án này, Đình
S, Đỗ Đ Đ người đề xuất, trực tiếp thực hiện tội phạm nên giữ vai trò chính
phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Tuy nhiên, Đỗ Đ Đ thực hiện
hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng mức hình phạt thấp hơn so
với bị cáo Đình S. Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo Đỗ Đ Đ, K,
Nguyễn Văn Q Bùi Doãn H đã được xử phạt tại bản án số 75/2018/HSST ngày
12 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân Hện Thủy Nguyên. Từ phân tích nêu
trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt thời hạn
trên mức khởi điểm của khung hình phạt, buộc bị cáo Đình S phải cách ly
hội một thời gian mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa
chung trong hội. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Đ 174 của
Bộ luật Hình snăm 2015 thì người phạm tội còn thể báp dụng hình phạt bổ
sung phạt tiền. Xét bcáo Vũ Đình S hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội
đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về dân s: Đã giải quyết xong tại giai đoạn Đ tra nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: B o Đình S phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy
định của pp lut.
[9] Trong vụ án này, Đỗ Đ T sau khi thực hiện hành vi đã bỏ trốn. quan
Cảnh sát Đ tra Công an Hện Thủy Nguyên đã ra quyết định truy nã, tách vụ án đối
với phần liên quan đến bị can T và quyết định tạm đình chỉ Đ tra bị can đối với Đỗ
Đ T. Việc K, Nguyễn Văn Q, Bùi Doãn H, Đỗ Đ Đ, Đình S khai dùng
một phần số tiền chiếm đoạt được để mua ma túy sử dụng tại nhà nghỉ Anh Ngọc.
Tuy nhiên, tài liệu Đ tra chưa đủ sở kết luận, hiện tại Đỗ Đ T bỏ trốn nên
quan Đ tra tách ra để Đ tra, làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Đ 174; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Đ 51; Đ 38, khoản
3 Đ 7; Đ 17; Đ 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 Nghị quyết số 41/2017/QH14
ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, xử phạt: Vũ Đình S 18 (Mười tám) tháng
tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
bắt bị cáo đi thi hành án.
Thời hạn cấm đi khỏi nơi trú đối với bị cáo Đình S không quá thời
hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a
khoản 1 Đ 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sdụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đình S phải chịu 200.000 đồng (Hai
trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bcáo có mặt tại phiên toà quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên toà
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án
tống Đ hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an huyện Thuỷ Nguyên;
- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Công an thành phố Hải Phòng;
- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- UBND cấp xã (nơi bị cáo cư trú);
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HI ĐNG XÉT X SƠ THM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Hà
Tải về
Bản án số 98/2018/HS-ST Bản án số 98/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất