Bản án số 98/2017/HNGĐ-ST ngày 25/09/2017 của TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 98/2017/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 98/2017/HNGĐ-ST ngày 25/09/2017 của TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Cần Đước (TAND tỉnh Long An)
Số hiệu: 98/2017/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2017
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn với anh G
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN C
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH LONG AN
Bản án số: 98/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 25-9-2017
V/v tranh chấp ly hôn giữa
chị H và anh G
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Út
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quốc Thịnh
2. Nguyễn Thị Mai Hƣơng
- Thư phiên tòa: Thị Lệ Trinh - Thư Tòa án nhân dân huyện
C, tỉnh Long An.
Ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét x
thẩm công khai vụ án thụ số 376/2017/TLST-HNngày 16 tháng 8 năm 2017
vtranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2017/QĐXXST-
HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn ThH, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Ấp L, L,
huyện C, tỉnh Long An. Tạm trú: Số 02, đường T, khu phố 1, thị trấn C, huyện C,
tỉnh Long An (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn n G, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Ấp L, L, huyện
C, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31/7/2017 các lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn ThH trình bày: Chị anh
Nguyễn Văn G cưới nhau vào năm 2004, hôn nhân do tự nguyện, đăng kết
hôn vào ngày 13/12/2004 tại UBND L, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới,
vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau, không tin tưởng nhau về tiền bạc,
không quan tâm lẫn nhau, anh G thường tự quyết định mọi việc liên quan đến tiền
bạc cũng như không công khai thu nhập của anh G, vợ chồng thường xuyên cãi
nhau nên chị đã bỏ về nhà cha mẹ ruột của chị thị trấn C, huyện C sống từ năm
2
2013. Mặc vợ chồng mâu thuẫn nhưngvì thương con, chị đã cho anh G
thời gian sửa đổi nên vợ chồng đã hàn gắn tình cảm nhưng anh G vẫn không sửa
đổi tính tình làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày thêm trầm trọng nên vợ chồng của
chị sống ly thân ttháng 01 năm 2017 cho đến nay. Nay xét thấy chị không còn
tình cảm với anh G, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị yêu cầu được
ly hôn với anh G.
Về nuôi con chung: 02 con chung tên Nguyễn Thị T, sinh ngày
03/11/2004 Nguyễn L, sinh ngày 11/8/2008, hiện cả hai con đang sống với mẹ.
Khi ly hôn, do hai con đều nguyện vọng sống với mẹ nên chị yêu cầu được tiếp
tục nuôi hai con chung. Chị không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi hai con.
Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Chị và anh G không có nợ chung.
Bị đơn anh Nguyễn Văn G trình bày tại các lời khai trong qúa trình giải
quyết vụ án nsau: Anh thống nhất với trình bày của chị H về thời gian tổ chức
lễ cưới, đăng kết hôn thời gian phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân
mâu thuẫn vợ chồng do anh tý quyết định chi tiêu, không bàn bạc với chị H
dẫn đến vợ chồng cải nhau nên chị H bỏ về nhà cha mruột từ năm 2013.
Mặc vậy, anh vẫn tới lui thăm vcon, thời gian gần đây anh thường hay ăn
nhậu với bạn bè, ít quan tâm đến vợ con nên chị H buồn phiền, vợ chồng cãi nhau
đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2017 cho đến nay. Anh đã nhiều lần thuyết
phục chị H để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng chị H không đồng ý. Nay anh
không đồng ý ly hôn với chị H anh vẫn còn tình cảm với chị H, tuy nhiên anh
cũng không có giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn.
Về nuôi con chung: 02 con chung đúng như chị H trình bày, hiện cả hai
con đang sống với mẹ. Do cả hai con đều có nguyện vọng sống với mẹ, nếu Tòa án
giải quyết ly hôn anh đồng ý để chị H được tiếp tục nuôi cả 02 con chung anh
không phải cấp dưỡng nuôi 02 con.
Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Anh và chị H không có nợ chung.
Anh Nguyễn Văn G đã được a án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng anh G không tham gia phiên hòa giải lần hai vào ngày 06/9/2017 đơn
yêu cầu xét xử vắng mặt.
NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ
các văn bản tố tụng nhưng anh G đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1
Điều 227 của Bộ luật Ttụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng
mặt anh G.
3
[2] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị H đơn yêu cầu ly hôn với anh
Nguyễn Văn G. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Ttụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng
tranh chấp ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện C, tỉnh Long An.
[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H anh Nguyễn Văn G xác lập quan hệ
hôn nhân o năm 2004, hôn nhân do tnguyện, đăng kết hôn o ngày
13/12/2004 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Long An hôn nhân hợp pháp được
pháp luật bảo vệ.
Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng chị H anh G mâu thuẫn với nhau là do
bất đồng quan điểm sống, anh G luôn tự quyết định về tiền bạc, thường xuyên ăn
nhậu, không quan tâm chăm sóc vợ con, chH khuyên nhiều lần nhưng anh G
vẫn không sửa đổi. Khi xảy ra mâu thuẫn, chH anh G không cùng nhau tìm ra
giải pháp đhàn gắn tình cảm vợ chồng làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng
đã sống ly thân từ tháng 01/2017 cho đến nay. Nay chị H yêu cầu được ly hôn
với anh G nhưng anh G không đồng ý, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không
có kết quả.
Đối với anh Nguyễn Văn G, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
cho anh G nhưng anh G không đến tham gia phiên tòa chứng tỏ anh G không
thiện chí hàn gắn tình cảm với chị H để vchồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét
thấy mâu thun vợ chồng giữa chị H anh G đã đến mức trầm trọng, cuộc sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H yêu
cầu được ly hôn với anh G căn cứ. Do đó, cần áp dụng Điều 51, 56 của Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nH yêu cầu ly hôn của chị
H đối với anh G.
[4] Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày
03/11/2004 Nguyễn L, sinh ngày 11/8/2008, hiện hai con đang sống với chị H.
Anh G đồng ý để cho chị H tiếp tục nuôi hai con chung và hai cháu đều nguyện
vọng sống với mnên yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung của chị H là
căn cứ chấp nH.
[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu nên không xem
xét.
Người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc,
giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của
một hoặc cả hai bên,Tòa án thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con
hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
[6] Về chia tài sản: Chị H anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
không xem xét.
[7] Về nợ: Chị H và anh G đều xác định không có nên không xem xét.
[8] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
4
[9] Về quyền kháng cáo: Chị H và anh G được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 khoản 1 Điều 39, Điều 147,
khoản 1 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014;
Áp dụng Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn ThH với anh Nguyễn Văn G.
2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H được tiếp tục nuôi hai con chung
tên Nguyễn Thị T, sinh ngày 03/11/2004 Nguyễn L, sinh ngày 11/8/2008.
Anh Nguyễn Văn G không phải cấp dưỡng nuôi hai con do chị H không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc,
giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của
một hoặc cả hai bên, Tòa án thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con
hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân
gia đình sơ thẩm. Khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại
biên lai số 0000259 ngày 16/8/2017của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, chH
đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt được quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể tngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng trong hạn 15
ngày kể từ ngày nH dược bản án tống đạt hợp lệ.
Nơi nH:
- VKSND huyện C;
- Chi cục THADS huyện C;
- UBND nơi ĐKKH;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Thị Út
Tải về
Bản án số 98/2017/HNGĐ-ST Bản án số 98/2017/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất