Bản án số 92/2022/HS-ST ngày 29/09/2022 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về tội đánh bạc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 92/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 92/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 92/2022/HS-ST ngày 29/09/2022 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về tội đánh bạc |
|---|---|
| Tội danh: | 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Duy Tiên (TAND tỉnh Hà Nam) |
| Số hiệu: | 92/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/09/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 92/2022/HSST
Ngày 29 tháng 9 năm 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Mạnh Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Nguyễn Minh Tuấn – Cán bộ hưu trí phường Hòa Mạc;
2. ông Ngô Quốc Vũ – Cán bộ hưu trí phường Hòa Mạc;
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị
xã Duy Tiên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: ông
Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2022/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2022,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2022/QĐXX-HS ngày 31 tháng 8 năm
2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2022/HSST-QĐ ngày 16/9/2022 đối với:
1- Bị cáo: Nguyễn Chí Th (tên gọi khác: Không); sinh năm 2002; nơi cư trú:
Khu tập thể cơ khí Giải Ph, xã Thanh L, huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội; nghề
nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Ngọc Th và bà Đỗ Thị H; vợ, con: Chưa có;
tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 16/4/2022, chuyển tạm giam ngày 25/4/2022
đến nay; có mặt.
2- Bị hại:
- chị Dương Thị Thúy Ng, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT: Phố Nguyễn Hữu T,
phường Đồng V, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Khu đô thị Đồng Văn X, phường
Duy H, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có Đơn xin vắng mặt.
- chị Phạm Yến L, sinh năm 1994;Nơi ĐKHKTT: Số 6, ngách 30/32/03 phố
Phan Đình Gi, phường Phương L, quận Thanh X, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số 2507
B2, chung cư 176 Định C, phường Định C, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội; vắng
mặt.
2
3- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- anh Vũ Hoàng D, sinh năm 2003; nơi ĐKHKTT: Đội 2,Tả Thanh O, Thanh
Tr, Hà Nội; chỗ ở: Ngõ 7 Cầu B, xã Tả Thanh O, huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội;
có mặt.
- ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu tập thể cơ khí Giải Ph, xã
Thanh L, huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
Ngày 23/3/2022, lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid 19 đang diễn biễn phức
tạp, nhu cầu xét nghiệm test nhanh Covid 19 tăng cao, Nguyễn Chí Th bàn bạc thống
nhất với một người bạn tên là Ph (không rõ chính xác tên tuổi, địa chỉ), sẽ dùng mạng
xã hội Facebook, Zalo để đăng bài bán kít test Covid 19 với mục đích lừa lấy tiền đặt
cọc, tiền hàng của những người mua khi đặt hàng của Th qua mạng, mặc dù thực tế
Th và Ph không có kít test Covid 19 để bán.
Sau đó, Th nhờ số tài khoản 101871149025, mở tại ngân hàng ViettinBank của
Vũ Hoàng D - SN 2003 ở Ngõ 356, đường Phan Trọng T, xã Thanh L, huyện Thanh
Tr, thành phố Hà Nội, dùng làm tài khoản nhận tiền của người mua Kit test Covid19,
D sẽ chuyển lại tiền đến tài khoản của Th đồng thời Th sẽ trả phí cho D. D không biết
mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Th nên đồng ý cho Th nhờ tài khoản của
mình. Th và Ph lập và cùng quản lý một tài khoản Facebook có tên “Vũ Hoàng D” có
thông tin người dùng quê ở Hải Phòng và lập một tài khoản Zalo có tên “Vũ Hoàng
D” với mục đích để tên Facebook và Zalo trùng với tên tài khoản ngân hàng của Vũ
Hoàng D để tạo sự tin tưởng của người mua Kit test Covid 19. Sau đó, Th và Ph tìm
hiểu và thu thập thông tin giá, tải về các hình ảnh Kit test nhanh Covid 19 và kho
hàng trên mạng rồi chỉnh sửa bài viết, hình ảnh, gắn số điện thoại 0981.683.022 của
Th rồi đăng bài bán hàng trong các hội nhóm mua bán Kit test nhanh Covid 19 trên
mạng xã hội Facebook.
Ngày 25/3/2022, chị Phạm Yến L - SN 1994, ở số 176 Định C, phường Định
C, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội, quá trình về Hà Nam chơi, đã vào nhóm
“TEST NHANH LABNOVATION” thấy bài viết đăng bán Kit test nhanh Covid 19
của Th nên liên hệ theo số điện thoại 0981.683.022, Th giới thiệu tên là Vũ Hoàng D
quê ở Hải Phòng. Sau đó chị L và Th kết bạn qua Zalo để trò chuyện và thống nhất
giá 01 thùng Kit test nhanh Covid 19 là 35.800.000 đồng đã bao gồm thuế VAT. Th
yêu cầu chị L đặt cọc 50% số tiền hàng. Chị L đồng ý và chuyển khoản cho Th số
tiền 18.000.000 đồng qua dịch vụ mobile banking vào tài khoản của Vũ Hoàng D với
nội dung “Cọc test”. Đến 14 giờ ngày 25/3/2022, chị L không thấy Th giao hàng cho
3
mình, nên gọi điện giục Th. Do không có Kit test nhanh Covid 19 nên Th lấy nhiều lý
do khác nhau để không chuyển hàng đã thỏa thuận cho chị L. Sau đó chị L huỷ đơn
hàng và yêu cầu Th trả lại số tiền đặt cọc 18.000.000 đồng cho chị L. Do sợ bị chị L
báo Công an nên ngày 28/3/2022, Th chuyển trả cho chị L số tiền 5.000.000 đồng.
Thông qua chị Phạm Yến L giới thiệu, ngày 26/3/2022 chị Dương Thị Thuý Ng
- SN 1998, ở Khu đô thị Đồng Văn X, phường Duy H, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam liên
hệ theo số điện thoại 0981.683.022 hỏi Th mua Kit test nhanh Covid 19. Th giới thiệu
mình là Vũ Hoàng D - SN 1995 quê ở Hải Phòng có kho hàng ở Hải Phòng rồi kết bạn
Zalo với chị Ng để nói chuyện. Th báo giá Kit test nhanh Covid 19 là 35.200.000
đồng/thùng 1000 que test chưa có thuế VAT 5%. Chị Ng đồng ý và đặt mua của Th 10
thùng. Th yêu cầu chị Ng đặt cọc trước 30.000.000 đồng và tiền thuế VAT, tổng là
30.560.000 đồng. Chị Ng đồng ý và đã chuyển đủ số tiền này vào tài khoản của Vũ
Hoàng D. Nhận được tiền, Th tiếp tục nói dối chị Ng chỉ còn 06 thùng Kit test. Th bàn
bạc với Ph để Ph giả là người khách ở Long Biên - Hà Nội đã mua của Th 50 thùng Kit
test và đã mua hết hàng của Th. Sau khi Th thống nhất với Ph xong thì Th bảo chị Ng
là để Th nói chuyện với người khách này bán lại cho chị Ng 04 thùng kit test. Sau đó
Ph gọi điện cho chị Ng giả vờ đồng ý bớt lại hàng cho chị Ng để chị Ng tin tưởng. Tiếp
đó, Th yêu cầu chị Ng chuyển tiếp 15.000.000 đồng để trả tiền VAT cho chủ hàng. Chị
Ng đồng ý và chuyển khoản cho Th 15.000.000 đồng vào tài khoản của Vũ Hoàng D
với nội dung “Chuyển khoản tiền VAT”. Nhận được tiền, Th lấy lý do hiện người
khách ở Long Biên - Hà Nội không bán lại Kit test cho chị Ng nữa và hứa sẽ dàn xếp
với người khách này bán lại hàng cho chị Ng đồng thời yêu cầu chị Ng chuyển tiếp
30.000.000 đồng cho Th để Th lấy hàng cho chị Ng. Chị Ng tin tưởng nên chuyển
khoản tiếp cho Th 30.000.000 đồng vào tài khoản Vũ Hoàng D. Sau đó Th lại yêu cầu
chị Ng chuyển tiếp cho Th 25.000.000 đồng với lý do Th trả đủ tiền hàng cho kho để
lấy hàng cho chị Ng. Chị Ng đồng ý nên tiếp tục chuyển cho Th 25.000.000 đồng vào
tài khoản Vũ Hoàng D. Sau đó, Th lấy lý do hàng từ Hải Phòng chuyển lên bị chậm
muộn để chị Ng không nghi ngờ. Do chưa có hàng để bán nên khách hàng của chị Ng
huỷ đơn hàng không lấy Kít test nhanh nữa. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Th nhắn tin
nói dối chị Ng về việc đã giải quyết xong với người khách ở Long Biên - Hà Nội do
trước đó Th nói với chị Ng rằng Th và người khách này cãi nhau và bảo chị Ng hiện
còn dư 05 thùng Kit test nhanh đồng thời hỏi chị Ng có lấy thì Th bán cho. Chị Ng hẹn
Th để chị Ng liên hệ lại với khách của chị Ng rồi trả lời. Sáng ngày 27/3/2022, chị Ng
liên hệ với khách hàng của mình thì khách hàng đồng ý mua 03 thùng Kit test. Chị Ng
nhắn tin với Th để mua 03 thùng Kit test nhanh thì Th yêu cầu chị Ng chuyển đủ tiền
của 03 thùng Kit test nhanh Covid19. Chị Ng đồng ý và chuyển cho Th thêm
5.040.000 đồng vào tài khoản Vũ Hoàng D. Tiếp đó, Th lấy lý do phải mua cả 05
thùng hàng thì kho mới xuất hàng và yêu cầu chị Ng chuyển thêm số tiền 70.400.000
đồng của 02 thùng hàng, sau khi lấy được hàng thì Th sẽ chuyển trả tiền của 02 thùng
4
hàng cho chị Ng. Chị Ng đồng ý và chuyển tiếp cho Th số tiền 70.400.000 đồng. Tổng
số tiền chị Ng đã chuyển cho Th là 176.000.000 đồng. Do không thấy hàng giao cho
mình, chị Ng đã yêu cầu Th trả tiền cho chị Ng nếu không sẽ báo Công an giải quyết.
Do sợ chị Ng báo Công an nên Th đã chuyển trả cho chị Ng số tiền 85.440.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ của Nguyễn Chí Th 01 điện thoại di động nhãn
hiệu Intel vỏ màu đỏ bên trong có sim số 0981683022 và 0925370095 được niêm
phong trong phong bì ký hiệu HN02; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme vỏ màu
xanh của Vũ Hoàng D được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu HN01.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, các bị hại là chị Phạm Thị
Yến L và chị Dương Thị Thúy Ng yêu cầu bị cáo Nguyễn Chí Th trả cho chị L số tiền
13.000.000 đồng, trả lại cho chị Ng số tiền 90.560.000 đồng.
Ngày 23/9/2022 ông Nguyễn Ngọc Th (bố bị cáo Nguyễn Chí Th) tự nguyện
khắc phục số tiền 20.000.000 đồng đối với các bị hại, theo đó chị Phạm Thị Yến L
nhận số tiền 5.000.000 đồng và chị Dương Thị Thúy Ng nhận số tiền 15.000.000
đồng.
Ngày 29/9/2022 anh Vũ Hoàng D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự
nguyện nộp lại số tiền 710.000 đồng mà Nguyễn Chí Th đã chuyển cho anh D.
Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 22/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy
Tiên truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 3 Điều 174
Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị
HĐXX căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS. Xử phạt: Nguyễn Chí Th mức án từ 07 năm 06
tháng tù đến 08 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa còn đưa ra
quan điểm về trách nhiệm dân sự, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên án phí
đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Chí Th đề nghị
HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất và không tranh luận gì. Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá
trình điều tra, truy tố những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra
và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có
ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các
hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ
án đều hợp pháp.
5
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị
cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và
phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian tháng 3 năm 2022, lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid
19 là bệnh truyền nhiễm nhóm A đang diễn biến phức tạp và nhu cầu mua nhu yếu
phẩm phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh trong nhân dân đang khan hiếm trong
đó có mặt hàng Kit test nhanh Covid 19. Mặc dù không có Kit test nhanh Covid 19 để
bán nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên Nguyễn Chí Th đã sử dụng mạng xã hội
Facebook và Zalo đăng bài bán Kit test nhanh covid 19 để khách hàng tin là thật rồi
chiếm đoạt tiền đặt cọc, tiền mua hàng Kit test nhanh Covid 19 của khách hàng, cụ
thể:
Ngày 25/3/2022, Nguyễn Chí Th đã chiếm đoạt của chị Phạm Yến L tiền đặt
cọc mua 01 thùng Kit test nhanh Covid 19 là 18.000.000 đồng, khi chị L đang ở
Phường Duy Hải, Thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam và thực hiện việc chuyển tiền cho
Th bằng dịch vụ mobile banking.
Ngoài ra, trong các ngày 26 và 27/3/2022, Nguyễn Chí Th đã chiếm đoạt của
chị Dương Thị Thuý Ng ở khu đô thị Đồng Văn X, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam với
tổng số tiền là 176.000.000 đồng qua việc chị Ng 05 lần chuyển tiền đặt cọc và tiền
hàng Kit test nhanh Covid 19 qua dịch vụ mobile banking.
Như vậy, tổng số tiền mà Nguyễn Chí Th đã chiếm đoạt của chị Phạm Thị Yến
L và chị Dương Thị Thúy Ng là 194.000.000 đồng.
Hành vi gian dối của bị cáo trước bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid19 đang diễn
biến phức tạp trong cả nước để nhằm mục đích chiếm đoạt tiền đặt cọc, tiền mua hàng
Kit test nhanh Covid19 là sinh phẩm thiết yếu trong công tác phòng chống dịch bệnh
nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp
luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành ví đó đã đủ yếu tố cấu thành tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Do vậy, Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 22/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã
Duy Tiên đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo đã 06 lần
nhận tiền của các bị hại và mỗi lần đủ điều kiện cấu thành một tội độc lập, vì vậy bị
cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”
theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên
tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của
mình; tại phiên tòa, ông Nguyễn Ngọc Th (bố bị cáo) đã xuất trình Đơn trình bày gia
đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) và 01
Văn bản thể hiện trong thời gian chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo đã khắc phục một
phần thiệt hại cho các bị hại với tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Đối chiếu với quy
6
định của pháp luật bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Mặc dù bị cáo là người có nhân thân tốt nhưng hành vi phạm
tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và gây bất bình trong nhân dân. Vì
vậy, HĐXX cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.
Theo đó, xét cần thiết phải cho cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác
dụng răn đe, giáo dục bị cáo và công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Như đã nhận định trên, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn
nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174
Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo
Nguyễn Chí Th đã bồi thường cho các bị hại là chị Dương Thị Thúy Ng số tiền
15.000.000 đồng; cho chị Phạm Thị Yến L số tiền 5.000.000 đồng. Nay các bị hại
yêu cầu Tòa án buộc các bị cáo bồi thường tiếp số tiền còn lại là phù hợp với quy
định của pháp luật.
[6] Về các hành vi khác:
Đối với anh Vũ Hoàng D là người cho Nguyễn Chí Th mượn số tài khoản ngân
hàng để nhận tiền từ việc lừa đảo chiếm đoạt của những người đặt cọc và mua Kit
test nhanh Covid19. Tuy nhiên qua đấu tranh cho thấy D không bàn bạc, thống nhất
và không biết Th nhờ số tài khoản của mình để sử dụng vào việc lừa đảo chiếm đoạt
tiền của các bị hại. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ
xác định D đồng phạm với Nguyễn Chí Th về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là phù
hợp với quy định của pháp luật.
Theo lời khai của bị cáo Nguyễn Chí Th cho rằng trong vụ án này còn có 01
người thanh niên tên Ph là người đã bàn bạc, thống nhất với Th trong việc đăng bài
bán Kit test nhanh covid19 trên mạng Facebook cùng bị cáo để lừa chiếm đoạt tiền
đặt cọc, tiền mua hàng đối với các bị hại. Tuy nhiện, Th không biết rõ thông tin cụ
thể của Ph, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ xác minh
để xử lý đối với người này là phù hợp với định của pháp luật..
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động đen trắng nhãn hiệu Intel màu đen có IMEL
358625101647248 bên trong có hai sim điện thoại, thu giữ của bị cáo Nguyễn Chí
Thanh. Qua đấu tranh, HĐXX xác định đây là chiếc điện thoại của bị cáo là công cụ
để bị cáo sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung
quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme có IMEL 862949052826513
bên trong có 01 sim điện thoại, thu giữ của Vũ Hoàng D. Qua đấu tranh, HĐXX xác
định đây là chiếc điện thoại của anh Vũ Hoàng D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong vụ án và không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho
anh D chiếc điện thoại trên.
Đối với số tiền 710.000 đồng do người có quyền lợi, nghĩa vụ liện quan là anh
Vũ Hoàng D tự nguyện giao nộp ngày 29/9/2022 tại Chi cục thi hành án thị xã Duy
7
Tiên theo Biên lai số AA/2021/0001670. Qua đấu tranh xác định đây là khoản tiền do
bị cáo Nguyễn Chí Th chiếm hưởng bất chính của các bị hại cho anh D, nay anh D tự
nguyện nộp lại. Tại phiên tòa do các bị hại vắng mặt nên chưa có quan điểm về khoản
tiền này. Song vì số tiền trên không lớn, mặt khác trong vụ án này chị Ng là người bị
thiệt hại số tiền lớn hơn chị L. Vì vậy, HĐXX cần trả cho chị Ng số tiền trên là phù
hợp với hoàn cảnh thực tế hiện nay.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo
quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác thực hiện quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52;
điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí Th phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Chí Th 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 16/4/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 46, 48 Bộ luật hình sự; các Điều
584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Chí Th có trách nhiệm bồi thường
đối với các bị hại trong vụ án. Theo đó bồi thường cho chị Phạm Thị Yến L số tiền
8.000.000 đồng và chị Dương Thị Thúy Ng số tiền 74.850.000 đồng.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng
hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động đen trắng nhãn hiệu Intel
màu đen có IMEL 358625101647248 bên trong có hai sim điện thoại.
- Trả lại bị hại là chị Dương Thị Thúy Ng số tiền 710.000 đồng.
- Trả lại cho anh Vũ Hoàng D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme có
IMEL 862949052826513 bên trong có 01 sim điện thoại.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 22/8/2022 và Biên lai số
AA/2021/0001670 ngày 29/9/2022).
4/ Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ
luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Chí Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình
sự sơ thẩm và nộp 4.142.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

8
Báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được
niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Công an thị xã Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án. Mạnh Xuân Hải
9
10
11
. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có
nhân thân xấu, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm
tội; người thân của bị cáo đã bồi thường cho người bị hại; được người bị hại có đơn xin
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại
điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
12
Từ nhận định trên xét thấy mặc dù đã nhiều lần bị kết án nhưng chưa được xóa
án tích bị cáo lại phạm tội mới thể hiện ý thức tu dưỡng rèn luyện không tốt vì thế
cần ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải
tạo, giáo dục bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên
miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế.
[5] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận tiền bồi thường nay không có
yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết. Đối với anh Nguyễn Văn Sơn đã tự nguyện
bồi thường cho người bị hại số tiền 19.000.000đ, nay không có ý kiến gì nên không
đặt ra giải quyết.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 miếng kim loại vàng do bà Nguyễn Thị
Đoạt giao nộp đã trả lại cho bà Đoạt. Đối với: 01 xe môtô Vision BKS 17B7-378.82
và 01 chùm chìa khóa được đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị Mừng sinh năm 1993,
nguyên quán: Hoa Thám, xã Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (hiện
đã chuyển về cư trú tại thôn Nghĩa 2, xã Ngọc Lương, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà
Bình), quá trình điều tra chưa làm việc được với chị Mừng nên cơ quan điều tra tách
ra giải quyết sau là đúng. Đối với: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền:
1.700.000đ thu giữ của bị cáo tuy nhiên bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường
nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế cần tịch thu tiêu
hủy.
[7] Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Chung phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt Nguyễn Văn Chung 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
12/11/2019.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng
hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Chung: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe;
số tiền 1.700.000đ (Một triệu bẩy trăm ngàn đồng).
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện Duy Tiên và
Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên ngày 07/2/2020).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội bị cáo Nguyễn
Văn Chung phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt
được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân

13
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Công an Duy Tiên;
- VKSND Duy Tiên;
- Chi cục THADS Duy Tiên;
- Bị cáo; đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án. Trần Ngọc Thuận
14
15
16
[3] Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật
tự an toàn giao thông, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi
của bị cáo điều khiển xe ô tô không chấp hành biển cảnh báo nguy hiểm, không làm chủ
tốc độ vi phạm các điều 11, 12 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết hai
người trong khi không có giấy phép lái xe theo quy định đủ yếu tố cấu thành tội "Vi
17
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; tội phạm và hình phạt được quy định
tại điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân
thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi
phạm tội bị cáo đã tác động gia đình cùng chủ xe bồi thường thiệt hại cho gia đình người
bị hại; tại phiên tòa đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có thân
nhân có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại
điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên xét thấy cần phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian
để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phạm tội với lỗi vô ý
nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Trong vụ án này thỏa thuận công việc của Đỗ Việt Quý làm phụ xe ôtô, chủ xe
anh Trần Văn Tám một số lần trước đây có giao xe 35B-00556 cho bị cáo lái tuy
nhiên vào ngày 27/4/2019 bị cáo tự lái xe mà không ai giao xe cho bị cáo; vào thời
điểm xảy ra tai nạn mặc dù anh Tám có ở trên xe nhưng không có đủ tài liệu khẳng
định anh Tám thức hay ngủ vì vậy không đủ cơ sở vững chắc để xử lý anh Tám về
hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao
thông đường bộ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của người bị hại đã nhận tiền bồi thường,
nay các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về vật chứng vụ án: đã giải quyết xong nên không đặt ra giải quyết.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1/ Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và
Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Việt Quý phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”.
Xử phạt: Đỗ Việt Quý 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 27/4/2019.
2/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị
cáo Đỗ Việt Quý phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo; người đại diện của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện của người bị hại; bị đơn dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên

18
quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Công an huyện Duy Tiên;
- VKSND huyện Duy Tiên;
- THADS huyện Duy Tiên;
- Bị cáo;đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án. Trần Ngọc Thuận
19
Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Việt Quý điều khiển xe ô tô đi không chấp hành
biển báo, không làm chủ tốc độ xe do mình điều khiển gây hậu quả làm chết 02 người
đã vi phạm Điều 11, 12 Luật Giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp
xâm phạm trật tự công cộng, gây thiệt hại tính mạng người khác và đủ yếu tố cấu thành
tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm, hình phạt quy định
tại điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (BLHS). Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân
huyện Duy Tiên truy tố bị cáo theo bản Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 05/9/2019 là
hoàn toàn có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
20
21
Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Việt Quý khai báo: Trong thời gian làm phụ xe
cho ông Tám trên tuyến đường Ninh Bình – Cao Bằng, mặc dù biết rõ Quý không có
giấy phép lái xe nhưng có khoảng 3 – 4 lần gần đây, ông Tám mệt, buồn ngủ nên vẫn
bảo Quý lái xe ô tô BKS 35B – 005.56 đi từ khu cầu vượt Đồng Văn thuộc thị trấn
Đồng Văn, huyện Duy Tiên về Ninh Bình. Ngày 27/4/2019, khi về đến khu cầu vượt
Đồng Văn, ông Đức xuống xe đi về nhà, mặc dù ông Tám không bảo Quý lái xe ô tô
BKS 35B – 005.56 đi về Ninh Bình nhưng sau khi xuống xắp xếp hàng hóa cho
khách xong, Quý lên lái xe ô tô đi về. Lúc đó, Quý thấy ông Tám đang nằm ở hàng
ghế hành khách đầu tiên bên trái, không rõ thức hay ngủ. Quý cho rằng mặc nhiên
ông Tám đồng ý để cho Qúy lái xe như những lần trước đó. Tuy nhiên ông Tám khai
báo, ông chỉ thuê Quý làm phụ xe ô tô, chỉ có một vài lần, sau khi về bến ở huyện
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, ông bảo Quý lái xe đi rửa hoặc đi đổ xăng; có lần ông Tám
để cho Quý lái xe từ Đồng Văn về Ninh Bình. Ngày 27/4/2019, khi ông Đức xuống
xe đi về nhà đến lúc xảy ra tai nạn, ông Tám vẫn đang ngủ và không rõ Quý lên lái xe
từ khi nào, ông không giao cho Quý lái xe ô tô 35B – 005.56 đi về Ninh Bình. Quá
trình điều tra xác minh tại thời ông Đức xuống xe đi về nhà đến khi Quý lên điều
khiển xe ô tô 35B – 005.56 và gây tai nạn giao thông, không ai nghe thấy ông Tám
bảo Quý lên lái xe và cũng không xác định lúc này ông Tám thức hay ngủ nên không
đủ căn cứ xác định ông Tám giao xe hoặc cố ý để cho Đỗ Việt Quý điều khiển xe ô tô
35B – 005.56 đi về Ninh Bình và gây tai nạn nên không đủ căn cứ để khởi tố, điều tra
đối với ông Trần Văn Tám.
22
23
Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 07/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy
Tiên đã truy tố bị cáo về tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật
hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị
áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều
52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Biện từ 12 đến 15 tháng tù,
thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2019 và tuyên án phí đối với bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì; Bị cáo xin giảm
nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như
sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Duy
Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên và Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư
pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan
điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
[2] Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/4/2019 tại phòng trọ của Nguyễn Văn Biện
ở phố Nguyễn Hữu Tiến, thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, chị Nguyễn Thị Phương
là nhân viên phục vụ quán hát do Biện quản lý, xin phép Biện không làm việc nữa để
24
về Hà Nội học tiếng đi xuất khẩu lao động, Biện không đồng ý nên đã giữ và nhốt chị
Phương ở trong phòng trọ của Biện từ khoảng 13 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút cùng
ngày, khi Biện mở cửa phòng, lợi dụng sơ hở, chị Phương đã chạy ra ngoài kêu cứu và
được lực lượng Công an đến giải quyết.
[3] Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn Biện gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp
xâm phạm quyền tự do thân thể bất khả xâm phạm của công dân, gây ảnh hưởng xấu
đến trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội: “Giữ người trái pháp luật” tội
phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 điều 157 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện
kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân xấu; Bị cáo đã
tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều
52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai
báo; ăn năn hối cải; có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm
nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên xét thấy mặc dù nhiều lần bị kết án và chưa được xóa án tích
nhưng bị cáo không coi đó là bài học mà vẫn dấn thân vào con đường phạm tội, hành
vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật vì vậy cần phải cách ly ra khỏi xã hội
một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu nên không đăt ra giải
quyết.
[5] Về tài sản thu giữ: cơ quan điều tra đã xử lý nên không đặt ra giải quyết.
[6] Về án phí: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản
1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Biện (tên gọi khác Thành) phạm tội "Giữ người
trái pháp luật".
Xử phạt: Nguyễn Văn Biện 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
tạm giữ 16/4/2019.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: bị
cáo Nguyễn Văn Biện phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa
được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự;

25
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân
sự./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- TAND tỉnh Hà Nam;
- Công an huyện Duy Tiên;
- Viện kiểm sát huyện Duy Tiên;
- Chi cục THA huyện Duy Tiên;
- Bị cáo;đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Trần Ngọc Thuận
26
27
28
29
[2] Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn
Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung đủ yếu tố cấu
thành tội “ Đánh bạc’’ theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS. Cáo trạng của Viện
kiểm sát đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm
phạm đến trật tự công cộng, các bị cáo thực hiện hành vi với mục đích sát phạt nhau
được thua bằng tiền, thể hiện sự coi thường kỉ cương pháp luật của Nhà nước, làm
ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Vì vậy HĐXX cần phải xử lý
trước pháp luật đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung
trong xã hội.
Xét vai trò của các bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính
chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng”,
sát phạt nhau bằng tiền là do ham thích và hoàn toàn tự nguyện, không bị ai kích
động, dụ dỗ. Trong đó các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Sơn đều là người giữ vai
trò thực hành, trực tiếp thực hiện hành tội phạm. Riêng bị cáo Chung tuy không tham
gia đánh bạc nhưng đã gọi điện rủ rê các bị cáo: Toản, Thiện, Hà và Nghĩa đến nhà
mình để đánh bạc và chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và thu tiền hồ nên giữ
vai trò chính, đồng phạm với các bị cáo khác. HĐXX sẽ xem xét về tính chất, vai trò
và nhân thân từng bị cáo để đánh giá, ấn định mức hình phạt khi lượng hình.
[3] Trong lượng hình xét thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
(TNHS): các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung không phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1Điều 48 BLHS. Riêng bị cáo
Sơn đã bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 10 tháng tù về tội “
Đánh bạc” theo bản án ngày 23/3/2016, bị cáo ra trại ngày 08/9/2016. Nay bị cáo lại
tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1
Điều 48 Bộ luật hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá
trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, cả 6 bị cáo đều thành khẩn khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình,thể hiện sự ăn năn hối cải. Do vậy tất cả các bị cáo
đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1
Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung về nhân
thân chưa từng bị kết án nên được coi là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng. Do vậy, các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS. Riêng bị cáo Đào Xuân
Sơn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo Sơn có thời gian tham gia quân
30
đội; bị cáo Nguyễn Văn Chung sau khi bỏ trốn đã tự nguyện ra đầu thú nên các bị cáo
Sơn, Chung được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
Sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX thấy rằng đây là vụ án đánh bạc có nhiều
người tham gia, gây dư luận xấu tại địa bàn xã Chuyên Ngoại và khu vực lân cận,
làm mất trật tự trị an địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo mới
đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn. Tuy nhiên, như
đã nhận định: các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung là những người có nhân thân
tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần
thiết bắt các bị cáo này phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 60 BLHS
cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối
với bị cáo Sơn như đã nhận định, là người có nhân thân xấu nên HĐXX cần áp dụng
Điều 33 BLHS cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công
dân tốt là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh của các bị cáo đều không có nghề
nghiệp ổn định, có khó khăn khác nhau nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ
sung là phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là
phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
[5] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng thu giữ của bị cáo Toản
và 01 điện thoại Nokia 105 thu giữ của bị cáo Nghĩa, quá trình điều tra xác định có liên
quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung Note 4 thu giữ của bị cáo Thiện và 01
điện thoại Nokia 1280 thu giữ của bị cáo Sơn, đã chứng minh làm rõ không liên quan
đến hành vi phạm tội, nên HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Thiện và Sơn.
- Đối với số tiền 23.050.000đ trong đó có 10.550.000đ là số tiền các đối tượng
dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là
12.500.000đ trong đó 5.500.000đ thu giữ của bị cáo Hà; 7.000.000đ thu giữ của bị cáo
Toản, quá trình điều tra không chứng minh được Hà, Toản dùng số tiền trên thực hiện
hành vi phạm tội. Do vậy, HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Hà và Toản.
- Đối với các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện để các đối tượng sử dụng
vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp
luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh
Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung phạm tội “ Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53;
Điều 60 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa,
Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà và Nguyễn Văn Chung.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều
48; Điều 20; Điều 53; Điều 33 Bộ luật hình sự đối với bị cáo: Đào Xuân Sơn.

31
+ Áp dụng riêng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Xuân Sơn
và Nguyễn Văn Chung.
* Xử phạt:
- Nguyễn Văn Chung: 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
- Bị cáo Đào Xuân Sơn: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm
giữ 31/7/2017.
- Các bị cáo: Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa và Nguyễn
Khánh Thiện, mỗi bị cáo 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử
thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
Giao các bị cáo Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Văn
Chung cho UBND xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo
dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Khánh Thiện cho UBND xã Trác
Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS và điều 76 BLTTHS:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu
vàng; 01 điện thoại Nokia 105 và số tiền 10.550.000đ (Mười triệu, năm trăm năm
mươi lăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khánh Thiện: 01 điện thoại di động Samsung Note4.
- Trả lại cho bị cáo Đào Xuân Sơn: 01 điện thoại Nokia 1280.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Hà: số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm
nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Toản: số tiền 7.000.000đ (Bẩy triệu đồng).
- Tịch thu cho tiêu hủy: Các vật chứng còn lại.
( Toàn bộ đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày
04/10/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Duy Tiên và Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Duy Tiên).
3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội. Buộc các bị cáo Lê Văn
Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và
Nguyễn Văn Chung, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm
nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm: các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
32
- Công an huyện Duy Tiên;
- VKSND huyện Duy Tiên;
- Chi cục THADS huyện Duy Tiên;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Mạnh Xuân Hải
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng