Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST ngày 14/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 91/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST ngày 14/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 91/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị H ly hôn anh C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – THANH HÓA
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 91/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 14 – 08 - 2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Bích Thủy
2. Bà Phạm Thị Trang
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hương Trà - Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 7 - Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Thương – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 08 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 - Thanh
Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2026/TLST-HNGĐ ngày 10
tháng 06 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 1039/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 07 năm 2026, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H; sinh năm: 1988
Số căn cước công dân: ************
Địa chỉ: Thôn D (Nay là thôn T), xã B, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C; sinh năm: 1988
Số căn cước công dân: ************
Địa chỉ: Thôn D (Nay là thôn T), xã B, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt chị H và anh C (Chị H và anh C đều có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ
Thị H trình bày:
2
- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C tự nguyện kết hôn và có đăng ký
kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa – Nay là UBND xã B, tỉnh
Thanh Hóa vào ngày 05/07/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hoà thuận đến
năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình
không hoà hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên cãi cọ, cuộc
sống như vậy khiến hai bên vô cùng mệt mỏi. Vợ, chồng đã sống ly thân được 01
năm. Đến nay, chị xét thấy tình cảm vợ, chồng không còn, hạnh phúc đã thật sự tan
vỡ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn C .
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày
07/10/2011 và cháu Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17/09/2018. Sau khi ly hôn, chị có
nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con để tiện việc chăm sóc và học tập,
vì trong thời gian ly thân cả hai con đều ở với chị và được chị trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị yêu cầu anh C phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung
cùng chị mỗi cháu 2.500.000 đồng mỗi tháng cho tới khi mỗi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ
lý vụ án, triệu tập anh Nguyễn Văn C để nộp bản tự khai và thông báo tham gia
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng
anh C đều vắng mặt không có lí do. Do đó không có ý kiến của anh C trong hồ sơ
vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký
phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây
viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị
đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn
với anh Nguyễn Văn C. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày
07/10/2011 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Minh Q –
Sinh ngày 17/09/2018 cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không
phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
3
[1] Về tố tụng: Chị Đỗ Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn,
tranh chấp nuôi con đối với anh Nguyễn Văn C. Anh C cư trú tại xã B, tỉnh Thanh
Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều
28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải
quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công
khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh C vắng mặt không có lí
do, nên tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh C và thông báo kết quả
kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh C theo khoản 3 Điều
210 BLTTDS. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại
khoản 1 điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn C đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng
mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, tòa án xét xử vắng
mặt chị H và anh C.
[2] Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn C kết hôn trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/07/2010 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh
Hóa - Nay là UBND xã B, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật
hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng
xảy ra mâu thuẫn, là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống,
vợ, chồng thường xuyên bất hòa. Chị H và anh C đã sống ly thân từ năm 2025 đến
nay không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân lâm vào tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không
đạt được. Do đó căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử
cho chị H ly hôn với anh C là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị H và anh C có 02 con chung là cháu Nguyễn Thùy T,
sinh ngày 07/10/2011 và cháu Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17/09/2018. Xét nguyện
vọng của chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con. Quá trình giải quyết
vụ án anh C mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý
kiến về nội dung này. Nguyện vọng của cháu Nguyễn Thùy T và cháu Nguyễn
Minh Q đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân
đến nay chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con, cả hai cháu đang ở độ tuổi rất
cần sự chăm sóc của người mẹ. Nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt
cho các cháu. Nên chấp nhận yêu cầu của chị H, sau khi ly hôn giao cháu Nguyễn
Thùy T và cháu Nguyễn Minh Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đúng
quy định của pháp luật.
[4] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H yêu cầu anh C cấp dưỡng
nuôi con chung cùng chị mỗi tháng cho mỗi cháu mức cấp dưỡng là 2.500.000
4
đồng, anh C không có ý kiến về nội dung này. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay
anh C là công chức của UBND xã B có mức lương hiện hưởng là 10.200.000 đồng/
Tháng. Chị H là kế toán có tổng mức thu nhập 13.800.000 đồng/ Tháng. Do đó chấp
nhận một phần yêu cầu của chị H buộc anh Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm cấp
dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng cho mỗi cháu số tiền 2.100.000 đồng
(Hai triệu một trăm nghìn đồng), cho tới khi mỗi con đủ 18 tuổi là phù hợp thu
nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của
người được cấp dưỡng.
[5] Về tài sản và công nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, anh C
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56; 58; 81; 82; 83;107; 110; 116 và Điều 117 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân
sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày 07/10/2011 và cháu
Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17/09/2018 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh
Nguyễn Văn C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Đỗ Thị H, số
tiền là 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) một tháng, cho mỗi con
(Hai con số tiền cấp dưỡng là 4.200.000 đồng, một tháng). Thời gian cấp dưỡng
nuôi con tính từ tháng 08 năm 2026 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Văn C có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (Ba trăm
nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Thanh
Hóa theo biên lai số 0004695 ngày 10/06/2026. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự
sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn C phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí
dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
5
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự 2025.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn C. Chị
H và anh C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được
bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND Khu vực 7;
- UBND xã Biện Thượng, tỉnh Thanh Hoá;
- THAD tỉnh Thanh Hoá;
- TAND tỉnh Thanh Hoá;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa
Bùi Văn Hải
6
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Tường Vân
Mai Thị Trang
Bùi Văn Hải
7
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Phạm Ngọc Dung
Lê Thị Tâm
Bùi Văn Hải
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST Bản án số 91/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất