Bản án số 84/2022/HS-ST ngày 27/09/2022 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 84/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 84/2022/HS-ST ngày 27/09/2022 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về tội đánh bạc
Tội danh: 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Duy Tiên (TAND tỉnh Hà Nam)
Số hiệu: 84/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/09/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 84/2022/HSST
Ngày 27- 9 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông.
c Hi thm nn n: Ông Ngô Quốc Vũ
Đ Thị Ln.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị
Duy Tiên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Duy Tiên tham gia phiên tòa:
Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị Duy Tiên xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2022/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2022,
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2022/QĐXX-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022
đối với:
- Bị cáo: Văn O (tên gọi khác: Không); sinh năm 1998; nơi trú: Bản Na
H, xã Na T, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học
vấn: 4/10; dân tộc: Khơ mú; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
con ông Lò Văn Ng và bà Lò Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm
giữ ngày 03/7/2022, chuyển tạm giam ngày 12/7/2022 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Phạm Thị Nhàn- Trợ giúp viên trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963; anh Phạm Đức H,
sinh năm 1973; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VÁN:
Theo các tài liệu trong hồ diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 02/7/2022, tổ công tác công an phường Hòa Mạc, thị
Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tiến nh tuần tra tại khu vực tổ dân phố Quan Nha,
phường Hòa Mạc, thị Duy Tiên, phát hiện bắt quả tang Văn O đang cầm 01
bao thuốc lá Thăng Long v màu vàng, loại vỏ giấy, khi thấy lực lượng công an, O đã
vứt xuống nền đường. Kiểm tra bên trong bao thuốc lá, 03 điếu thuốc 03 gói
giấy nhỏ màu trắng, kích thước khoảng (2,5x1,2)cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất
bột màu trắng dạng cục, bột, O khai đó ma túy, loại Heroine mua về sdụng. Tổ
công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng
2
chuyển quan CSĐT Công an thị Duy Tiên giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: Thu trên nền đường ngay tại vị trí bắt
giữ Văn O: 01 bao thuốc Thăng Long vỏ màu vàng, loại vỏ giấy, bên trong
03 điếu thuốc, 03 gói giấy nhỏ màu trắng, kích thước khoảng (2,5x1,2)cm, bên trong
mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, bột được niêm phong trong phong bì
ký hiệu QT01.
Tại bản kết luận giám định số 339/KL-KTHS ngày 08/7/2022 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong
phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,128g, loại Heroine
Về nguồn gốc ma túy, Văn O khai nhận: muốn ma túy sử dụng nên
khoảng 20 giờ ngày 02/7/2022, O một mình đi bộ từ công trình xây dựng Khu công
nghiệp Đồng Văn 3 thuộc địa phận phường Tiên Nội, thị Duy Tiên ra khu vực
gầm cầu vượt Đồng Văn tìm mua ma túy, loại Heroine để sử dụng. Tại đây, O gặp 01
người đàn ông làm nghề xe ôm khoảng 40 tuổi, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ
cụ thể, biển kiểm soát xe trước đây đã 01 lần mua ma túy giúp O nên O nhờ
người này chở đi mua ma túy. Trên đường đi, người này đưa cho O 200.000 đồng để
góp tiền với O mua ma túy. Khi đến khu vực tổ dân phố Trại Quan Nha, phường Hòa
Mạc thì người này dừng xe mô tô gần vị trí 01 nam thanh niên cao to, không xác định
được là ai, ở đâu và bảo O xuống xe đưa tiền cho nam thanh niên này để mua ma túy.
O đưa cho nam thanh niên này 500.000 đồng (gồm 300.000 đồng của mình
200.000 đồng của người lái xe ôm), nam thanh niên cầm tiền đưa cho O 01 bao
thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 03 điếu thuốc lá, ở bên ngoài lớp vỏ bao
bên trong lớp nilon 03 gói giấy nhỏ, O biết đó ma túy Heroine nên cầm bao
thuốc tay phải lên xe của người xe ôm để đi về. Khi vừa đi được 01
đoạn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, lo sợ bị phát hiện nên O thả bao thuốc
Thăng Long bên trong ma túy mình vừa mua được xuống đường ngay vị trí O
đứng nhưng đã bị ng an phát hiện và thu giữ. Lợi dụng lúc Công an đang kiểm tra
O, người đàn ông chở O điều khiển xe bỏ chạy thoát.
Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 12/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị Duy
Tiên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túytheo điểm c khoản 1 Điều
249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị
Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lò Văn O từ 18(Mười tám) đến 24(Hai mươi bốn) tháng tù.
Thời hạn tính từ ngày 03/7/2022.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra
quan điểm về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.
Người bào chữa phát biểu bài bào chữa cho bị cáo Văn O tại phiên tòa, đề
nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án thấp nhất, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo đồng ý với lời bào chữa và không tranh luận bổ sung chỉ xin giảm
nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
3
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá
trình điều tra, truy tố những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng nh sự. Quá trình điều tra
và tại phiên tòa bị cáo những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có
ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của
những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Vtội danh: t lời khai của bị o tại phn tòa phù hợp với lời khai của bị
o tại quan điều tra, lời khai của nời tham gia tố tụng khác ng các tài liệu,
chứng cứ trong hồ vụ án. HĐXX đủ skết luận:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 02/7/2022, tại khu vực tổ dân phố Quan Nha, phường
Hòa Mạc, thị Duy Tiên, tỉnh Nam, Văn O hành vi tàng trữ trái phép 03
gói ma túy, có khối lượng 0,128g, loại Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an
phường Hòa Mạc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ các vật chứng liên quan.
Tổng khối lượng chất ma túy, loại Heroine quan điều tra thu giữ được
là 0,128g.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho hội, xâm phạm chế độ độc quyền
quản chất ma túy của Nhà nước, nh hưởng xấu trật ttrị an tại địa phương, hành
vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm hình
phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Vnhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là
người chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo
thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Bcáo một người nghiện ma túy, phạm tội thuộc trường
hợp nghiêm trọng nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly khỏi
hội đủ để bị cáo thời gian cai nghiện, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo phòng
ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt
bổ sung cho bị cáo.
[5] Về c tình tiết khác: Đối với người đàn ông lái xe ôm góp tiền để mua ma
túy và chở O đi mua ma túy; người đàn ông đã bán ma túy cho O, do không xác định
được là ai, ở đâu nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ xử lý.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 phong niêm phong số 339/KTHS mặt sau ba dấu giáp lai
của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hà Nam xác định đây là vật chứng cấm lưu
hành cần tịch thu cho tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
4
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình s.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn O phạm tội ng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Văn O 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày
03/7/2022.
2. Vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự điều 106 Bộ luật tố tụng hình
sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 339/KTHS mặt sau ba dấu
giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hà Nam.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị Duy Tiên
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 14/9/2022).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình s; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca UBTV Quốc Hội buộc bị o Lò Văn
Oanh phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Công an thị xã Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án. Nguyễn Tiến Đông
5
6
7
8
. o trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo
nhân thân xấu, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm
tội; người thân của bị cáo đã bồi thường cho người bị hại; được người bị hại đơn xin
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị o được ởng nh tiết giảm nhẹ quy định tại
điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên xét thấy mặc dù đã nhiều lần bị kết án nhưng chưa được xóa
án tích bị cáo lại phạm tội mới thể hiện ý thức tu dưỡng rèn luyện không tốt thế
cần ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly ra khỏi hội một thời gian để cải
tạo, giáo dục b cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập n định nên
miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế.
[5] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận tiền bồi thường nay không
yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Đối với anh Nguyễn Văn Sơn đã tự nguyện
bồi thường cho người bị hại số tiền 19.000.000đ, nay không ý kiến nên không
đặt ra giải quyết.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 miếng kim loại vàng do Nguyễn Thị
Đoạt giao nộp đã trả lại cho bà Đoạt. Đối với: 01 xe Vision BKS 17B7-378.82
01 chùm chìa khóa được đăng mang tên chNguyễn Thị Mừng sinh năm 1993,
nguyên quán: Hoa Thám, Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (hiện
đã chuyển về trú tại thôn Nghĩa 2, Ngọc ơng, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà
Bình), quá trình điều tra chưa làm việc được với chị Mừng nên quan điều tra tách
ra giải quyết sau đúng. Đối với: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền:
1.700.000đ thu giữ của bị cáo tuy nhiên bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường
nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế cần tịch thu tiêu
hủy.
[7] Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bluật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Chung phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt Nguyễn Văn Chung 06 (Sáu) m tù. Thời hạn nh t ngày
12/11/2019.
9
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng
hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Chung: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe;
số tiền 1.700.000đ (Một triệu bẩy trăm ngàn đồng).
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện Duy Tiên
Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên ngày 07/2/2020).
3. Án phí hình sthẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội bị cáo Nguyễn
Văn Chung phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai thẩm bị cáo, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt
được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án n
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Công an Duy Tiên;
- VKSND Duy Tiên;
- Chi cục THADS Duy Tiên;
- Bị cáo; đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án. Trần Ngọc Thuận
10
11
12
13
[3]nh viu tn của bịo gây nguy hiểm cho hội trực tiếp xâm phạm trật
tự an tn giao thông, đồng thời ảnh ởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi
của bị cáo điều khiển xe ô tô kng chấp hành biển cảnh o nguy hiểm, không làm chủ
tốc độ vi phạm c điều 11, 12 Luật giao thông đường bộ y hậu quả m chết hai
người trong khi không giấy phép lái xe theo quy định đủ yếu tố cấu thành tội "Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; tội phạm hình phạt được quy định
tại điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luậtnh sự. Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bịo là
đúng người, đúng tội, đúng pp luật.
[4] V nhân tn, nh tiết tăng nng, giảm nhẹ trách nhim hình s: Bo có nhân
tn tốt; kng phải chịunh tiếtng nặng tch nhiệmnh sự. Q tnh điu tra và tại
phiên tòa b cáo tnh khẩn khai o, ăn n hối ci về hành vi phạm tội của mình; sau khi
phạm tội bị cáo đã c động gia đình ng ch xe bồi tng thit hại cho gia đình nời
bhại; tại phiên tòa đại diện ca bhại xin giảm nh nh phạt cho bcáo; bcáo có thân
nn có công với cách mng n bị o được ng c tình tiết giảm nhquy định tại
điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Blut nh sự.
Từ nhận định trên xét thấy cần phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian
để cải tạo, giáo dc bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phạm tội với lỗi vô ý
nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Trong vụ án này thỏa thuận công việc của Đỗ Việt Quý làm phụ xe ô, chủ xe
anh Trần Văn Tám một số lần trước đây giao xe 35B-00556 cho bị cáo lái tuy
nhiên vào ngày 27/4/2019 bị cáo tự lái xe mà không ai giao xe cho bị cáo; vào thời
điểm xảy ra tai nạn mặc anh Tám trên xe nhưng không đủ tài liệu khẳng
định anh Tám thức hay ngủ vậy không đủ sở vững chắc để xử anh Tám về
hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao
thông đường bộ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của người bị hại đã nhận tiền bồi thường,
nay các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về vật chứng vụ án: đã giải quyết xong nên không đặt ra giải quyết.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
14
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1/ Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và
Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Việt Quý phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”.
Xử phạt: Đỗ Việt Quý 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ
ngày 27/4/2019.
2/ Về án phí hình sự thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị
cáo Đỗ Việt Quý phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo; người đại diện của người bị hại; người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện của người bị hại; bđơn dân sự; người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Công an huyện Duy Tiên;
- VKSND huyện Duy Tiên;
- THADS huyện Duy Tiên;
- Bị cáo;đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án. Trần Ngọc Thuận
15
Hành vi u trên của bcáo Đỗ Việt Q điều khiển xe ô đi không chấp hành
biển báo, không làm chủ tốc độ xe do mình điều khiển gây hậu quả làm chết 02 người
đã vi phạm Điều 11, 12 Luật Giao thông đường bộ, y nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp
16
m phạm trật tự ng cộng, y thiệt hại tính mạng người khác đủ yếu tố cấu thành
tội Vi phạm quy định về tham gia giao tng đường btội phạm, nh phạt quy định
tại điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (BLHS). Do vậy, Viện kiểmt nhân dân
huyện Duy Tiên truy tố bo theo bản o trạng số 60/CT-VKS ngày 05/9/2019
hoàn toàn n cứ pháp , đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
17
Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Việt Quý khai báo: Trong thời gian làm phụ xe
cho ông Tám trên tuyến đường Ninh Bình Cao Bằng, mặc dù biết Quý không
giấy phép lái xe nhưng khoảng 3 4 lần gần đây, ông Tám mệt, buồn ngủ nên vẫn
bảo Quý lái xe ô BKS 35B 005.56 đi từ khu cầu vượt Đồng Văn thuộc thị trấn
Đồng Văn, huyện Duy Tiên về Ninh Bình. Ngày 27/4/2019, khi vđến khu cầu vượt
Đồng Văn, ông Đức xuống xe đi về nhà, mặc ông Tám không bảo Quý lái xe ô
BKS 35B 005.56 đi về Ninh Bình nhưng sau khi xuống xắp xếp hàng hóa cho
khách xong, Quý lên lái xe ô đi về. Lúc đó, Quý thấy ông Tám đang nằm hàng
ghế hành khách đầu tiên bên trái, không thức hay ngủ. Quý cho rằng mặc nhiên
ông Tám đồng ý để cho Qúy lái xe như những lần trước đó. Tuy nhiên ông Tám khai
báo, ông chỉ thuê Quý làm phụ xe ô tô, chỉ mt vài lần, sau khi về bến huyện
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, ông bảo Quý lái xe đi rửa hoặc đi đổ xăng; có lần ông Tám
để cho Quý lái xe từ Đồng Văn về Ninh Bình. Ngày 27/4/2019, khi ông Đức xuống
xe đi về nhà đến lúc xảy ra tai nạn, ông m vẫn đang ngủ và không rõ Quý lên lái xe
từ khi nào, ông không giao cho Quý lái xe ô 35B 005.56 đi về Ninh Bình. Quá
trình điều tra xác minh tại thời ông Đức xuống xe đi về nhà đến khi Quý lên điều
18
khiển xe ô 35B 005.56 và gây tai nạn giao thông, không ai nghe thấy ông Tám
bảo Quý lên lái xe cũng không xác định lúc này ông Tám thức hay ngủ nên không
đủ căn cứ xác định ông Tám giao xe hoặc cố ý để cho Đỗ Việt Quý điều khiển xe ô tô
35B 005.56 đi về Ninh Bình và gây tai nạn nên không đủ căn cứ để khởi tố, điều tra
đối với ông Trần Văn Tám.
19
Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 07/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy
Tiên đã truy tố bị cáo về tội Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật
hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị
áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều
52; Điều 38 Bộ luật hình sự xphạt bị o Nguyễn Văn Biện từ 12 đến 15 tháng tù,
thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2019 và tuyên án phí đối với bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì; Bị cáo xin giảm
nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
20
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như
sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện Duy
Tiên Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư
pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo những người tham gia tố tụng
khác trong vụ án không ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến nh tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan
điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
[2] Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/4/2019 tại phòng trọ của Nguyễn Văn Biện
ở phố Nguyễn Hữu Tiến, thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, chị Nguyễn Thị Phương
nhân viên phục vụ quán hát do Biện quản lý, xin phép Biện không m việc nữa để
về Hà Nội học tiếng đi xuất khẩu lao động, Biện không đồng ý nên đã giữ và nhốt ch
Phương ở trong phòng trcủa Biện từ khoảng 13 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút cùng
ngày, khi Biện mở cửa phòng, lợi dụng sơ hở, chị Phương đã chạy ra ngoài kêu cứu
được lực lượng Công an đến giải quyết.
[3] Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn Biện gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp
xâm phạm quyền tự do thân thbất khả xâm phạm của công dân, gây ảnh hưởng xấu
đến trật tự trị an tại địa phương đyếu tố cấu thành tội: “Giữ người trái pháp luật” tội
phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 điều 157 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện
kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nh: bị cáo có nhân thân xấu; Bị o đã
tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý n phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sựTái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều
52 Bluật hình sự. Về tình tiết giảm nhtrách nhiệm nh sự: bị o thành khẩn khai
báo; ăn năn hối cải; có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm
nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên xét thấy mặc nhiều lần bị kết án chưa được xóa án tích
nhưng bị cáo không coi đó bài học mà vẫn dấn thân vào con đường phạm tội, hành
vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật vậy cần phải cách ly ra khỏi hội
một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu nên không đăt ra giải
quyết.
[5] Vềi sản thu gi: cơ quan điều tra đã xử n không đặt ra giải quyết.
[6] Về án phí: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
21
1. Áp dụng khoản 1 điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản
1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Biện (tên gọi khác Thành) phạm tội "Giữ người
trái pháp luật".
Xử phạt: Nguyễn Văn Biện 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày
tạm giữ 16/4/2019.
2. Án phí nh sự thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: bị
cáo Nguyễn Văn Biện phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên tòa
được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại,
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi
hành án n sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân
sự./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- TAND tỉnh Hà Nam;
- Công an huyện Duy Tiên;
- Viện kiểm sát huyện Duy Tiên;
- Chi cục THA huyện Duy Tiên;
- Bị cáo;đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán Chủ ta phiên tòa
Trần Ngọc Thuận
22
23
24
25
[2]nh vi nêu trên của các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn
Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn Nguyễn Văn Chung đủ yếu tố cấu
thành tội Đánh bạc’ theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS. Cáo trạng của Viện
kiểm t đã truy tố c bị cáo theo tội danh điều luật nêu trên đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho hội, đã trực tiếp xâm
phạm đến trật tự công cộng, các bị cáo thực hiện hành vi với mục đích sát phạt nhau
được thua bằng tiền, thể hiện sự coi thường kỉ cương pháp luật của Nhà nước, làm
ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương. vậy HĐXX cần phải x
trước pháp luật đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung
trong xã hội.
Xét vai trò của các bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính
chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng”,
sát phạt nhau bằng tiền do ham thích hoàn toàn tự nguyện, không bị ai kích
động, dụ dỗ. Trong đó các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Sơn đều người giữ vai
trò thực hành, trực tiếp thực hiện hành tội phạm. Riêng bị cáo Chung tuy không tham
gia đánh bạc nhưng đã gọi điện rủ các bị cáo: Toản, Thiện, Nghĩa đến nhà
mình để đánh bạc chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội thu tiền hồ nên giữ
vai trò chính, đồng phạm với các bị cáo khác. HĐXX sẽ xem xét về tính chất, vai trò
và nhân thân từng bị cáo để đánh giá, ấn định mức hình phạt khi lượng hình.
26
[3] Trong lượng hình xét thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
(TNHS): các bị o Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung không phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản iều 48 BLHS. Riêng bị cáo
Sơn đã bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 10 tháng tù về tội “
Đánh bạc” theo bản án ngày 23/3/2016, bị cáo ra trại ngày 08/9/2016. Nay bcáo lại
tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1
Điều 48 Bộ luật hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá
trình điều tra vụ án tại phiên tòa hôm nay, cả 6 bị cáo đều thành khẩn khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình,thể hiện sự ăn năn hối cải. Do vậy tất cả các bị cáo
đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1
Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung về nhân
thân chưa từng bị kết án nên được coi phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng. Do vậy, các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS. Riêng bị o Đào Xuân
Sơn có hoàn cảnh gia đình kkhăn, bản thân bị o Sơn thời gian tham gia quân
đội; bị cáo Nguyễn Văn Chung sau khi bỏ trốn đã tự nguyện ra đầu thú nên các bị cáo
Sơn, Chung được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
Sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX thấy rằng đây vụ án đánh bạc có nhiều
người tham gia, gây luận xấu tại địa bàn Chuyên Ngoại khu vực lân cận,
làm mất trật tự trị an địa phương, vậy cần phải xử nghiêm khắc các bị cáo mới
đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn. Tuy nhiên, như
đã nhận định: các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung là những người có nhân thân
tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, nơi trú ràng nên xét thấy không cần
thiết bắt các bị cáo này phải cách ly khỏi hội chỉ cần áp dụng Điều 60 BLHS
cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối
với bị cáo Sơn như đã nhận định, người nhân thân xấu nên HĐXX cần áp dụng
Điều 33 BLHS cách ly bcáo khỏi xã hội một thời gian đbị cáo cải tạo thành công
dân tốt là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh của các bị cáo đều không nghề
nghiệp ổn định, khó khăn khác nhau nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ
sung phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự đối với các bị o
phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
[5] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng thu giữ của bị cáo Toản
và 01 điện thoại Nokia 105 thu giữ của bị cáo Nghĩa, quá trình điều tra xác định có liên
quan đếnnh vi phạm tội, nên HĐXX cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung Note 4 thu giữ của bị cáo Thiện 01
điện thoại Nokia 1280 thu giữ của bị cáo n, đã chứng minh làm không liên quan
đến hành vi phạm tội, nên HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Thiện và Sơn.
- Đối với số tiền 23.050.000đ trong đó 10.550.000đ stiền các đối tượng
dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại
27
12.500.000đ trong đó 5.500.000đ thu giữ của bị cáo Hà; 7.000.000đ thu giữ của bị cáo
Toản, quá trình điều tra không chứng minh được Hà, Toản dùng số tiền trên thực hiện
hành vi phạm tội. Do vậy, HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Hà và Toản.
- Đối với các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện để các đối tượng sử dụng
vào việc đánh bạckhông còn gtrị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị o phải nộp theo quy định của pháp
luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh
Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung phạm tội “ Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53;
Điều 60 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa,
Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà và Nguyễn Văn Chung.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều
48; Điều 20; Điều 53; Điều 33 Bộ luật hình sự đối với bị cáo: Đào Xuân Sơn.
+ Áp dụng riêng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Xuân Sơn
và Nguyễn Văn Chung.
* Xử phạt:
- Nguyễn Văn Chung: 15 (Mười lăm) tháng nhưng cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
- Bị cáo Đào Xuân Sơn: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tính tngày tạm
giữ 31/7/2017.
- Các bị cáo: Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa Nguyễn
Khánh Thiện, mỗi bị cáo 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử
thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
Giao các bị cáo Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyn Văn
Chung cho UBND Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Nam quản lý, giáo
dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Khánh Thiện cho UBND Trác
Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS và điều 76 BLTTHS:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu
vàng; 01 điện thoại Nokia 105 số tiền 10.550.000đ (Mười triệu, năm trăm năm
ơi lăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khánh Thiện: 01 điện thoại di động Samsung Note4.
- Trả lại cho bị cáo Đào Xuân Sơn: 01 điện thoại Nokia 1280.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Hà: số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm
nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Toản: số tiền 7.000.000đ (Bẩy triệu đồng).
- Tịch thu cho tiêu hủy: Các vật chứng còn lại.
28
( Toàn bộ đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày
04/10/2017 giữa quan cảnh sát điều tra Công an huyện Duy Tiên và Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Duy Tiên).
3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội. Buộc các bị cáo n
Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn
Nguyễn Văn Chung, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm
nghìn đồng).
Án xử công khai thẩm: các bị cáo mặt được quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Công an huyện Duy Tiên;
- VKSND huyện Duy Tiên;
- Chi cục THADS huyện Duy Tiên;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Mạnh Xuân Hải
Tải về
Bản án số 84/2022/HS-ST Bản án số 84/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất