Bản án số 84/2022/HNGĐ-ST ngày 14-09-2022 của TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng) về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 84/2022/HNGĐ-ST Hải Phòng
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 84/2022/HNGĐ-ST Hải Phòng
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 84/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 84/2022/HNGĐ-ST ngày 14-09-2022 của TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng) về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng) |
| Số hiệu: | 84/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/09/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Thị T và Vũ Văn T1 ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 84/2022/HNGĐ-ST
Ngày 14-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Thạch
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Thư
Ông Vũ Văn Cường
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện
A, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm
2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; cư trú tại thôn M, xã B, huyện A, thành
phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Vũ Văn T1; cư trú tại thôn M, xã B, huyện A, thành phố
Hải Phòng; vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng nguyên
đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn T1 kết hôn với
nhau do tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện A,
thành phố Hải Phòng vào ngày 01 tháng 11 năm 2007. Sau khi kết hôn, vợ
chồng chung sống cùng nhau tại thôn M, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát
sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nên xảy ra
2
cãi vã nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình khuyên ngăn, hoà giải nhiều lần nhưng
không có kết quả mà ngày càng căng thẳng, trầm trọng, không có khả năng khắc
phục. Do mâu thuẫn căng thẳng nên đầu năm 2021, chị Nguyễn Thị T đã thuê
nhà ở cùng thôn, sống ly thân với anh Vũ Văn T1; hiện tại vợ chồng không còn
quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Nay chị Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ
chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ
Văn T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Vũ Văn Phát T2 - sinh ngày 20
tháng 7 năm 2008 và Vũ Văn Tuấn T3 - sinh ngày 05 tháng 8 năm 2012. Ly hôn
chị Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án giao con chung Vũ Văn Phát T2 cho anh Vũ
Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Văn Tuấn T3 cho chị Nguyễn
Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị T và
anh Vũ Văn T1 tự thỏa thuận, tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết
về tài sản.
Đối vi bị đơn anh Vũ Văn T1, trong quá trình giải quyt vụ án đã được
Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh
Vũ Văn T1 đều vắng mặt không có lý do nên không có quan điểm của anh Vũ
Văn T1 trước yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến khẳng định:
- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án
và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nhiều lần,
không có lý do nên đã không chấp hành các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều
28, các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự, các điều
51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị T được
ly hôn với anh Vũ Văn T1; về con chung, giao con chung Vũ Văn Tuấn T3 -
sinh ngày 05 tháng 8 năm 2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao
con chung Vũ Văn Phát T2 - sinh ngày 20 tháng 7 năm 2008 cho anh Vũ Văn
T1 trực tiếp nuôi dưỡng; thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án có hiệu
lực pháp luật đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy
định của pháp luật; về việc cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Do đương
sự tạm thời không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị
Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền xét xử vụ án và việc xét xử vắng mặt của các đương
sự: Bị đơn, anh Vũ Văn T1 có nơi cư trú tại thôn M, xã B, huyện A, thành phố
Hải Phòng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm
quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện A. Chị Nguyễn Thị T có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Vũ Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
3
nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản
3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, các tài liệu,
chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ
án đã xác định chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn T1 kết hôn với nhau do tự
nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện A, thành phố Hải
Phòng vào ngày 01 tháng 11 năm 2007. Quá trình chung sống, vợ chồng phát
sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp; hiện tại đã
sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị
Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều
56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Vũ Văn T1.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn T1 có 02 con chung
Vũ Văn Phát T2 - sinh ngày 20 tháng 7 năm 2008 và Vũ Văn Tuấn T3 - sinh
ngày 05 tháng 8 năm 2012. Ly hôn chị Nguyễn Thị T có quan điểm đề nghị Tòa
án giao con chung Vũ Văn Tuấn T3 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con
chung Vũ Văn Phát T2 cho anh Vũ Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng; anh Vũ Văn
T1 vắng mặt, không có quan điểm về việc nuôi con chung. Việc nuôi con chung
vừa là quyền, vừa là ngha vụ của cha, m nên giao con chung cho ai nuôi dưỡng
cũng phải đảm bảo con chung được nuôi dạy và phát triển trong điều kiện tốt
nhất. Xét thấy điều kiện nuôi con chung của hai bên là ngang nhau nên để con
chung có cuộc sống ổn định sau khi ly hôn, cần giao con chung Vũ Văn Tuấn T3
cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Văn Phát T2 cho
anh Vũ Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của các con
chung.
[4] Ly hôn chị Nguyễn Thị T có quan điểm việc cấp dưỡng nuôi con sẽ do
chị và anh Vũ Văn T1 tự thỏa thuận, tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét quan điểm chị Nguyễn Thị T đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với
quy định của pháp luật nên được chấp nhận, Tòa án không xem xét, giải quyết
việc cấp dưỡng nuôi con chung. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có
hiệu lực pháp luật đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác
theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản: Do các đương sự không có yêu cầu nên Toà án không xem
xét, giải quyết. Nếu các bên đương sự có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con
chung hoặc về tài sản, Tòa án sẽ xem xét giải quyết bng vụ án dân sự khác khi
đương sự có yêu cầu.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; các điều 143, 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự;
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ các điều 6, 7, 9 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30
tháng 12 năm 2016,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh
Vũ Văn T1.
2. Về con chung: Giao con chung Vũ Văn Phát T2 - sinh ngày 20 tháng 7
năm 2008 cho anh Vũ Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Vũ Văn
Tuấn T3 - sinh ngày 05 tháng 8 năm 2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi
dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự tạm thời không yêu cầu
nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật đến
khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp
luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngha vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm
để sung vào công quỹ nhà nước. Chị Nguyễn Thị T đã nộp số tiền 300.000đ tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (theo Biên lai thu tiền số 0002604 ngày 31
tháng 5 năm 2022) nên không phải nộp nữa.
Các đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5
Nơi nhận:
- TAND TP Hải Phòng;
- VKSND huyện A;
- Chi cục Thi hành án dân sự A;
- UBND xã B, huyện A (ĐKKH số 54/2007);
- Đương sự;
- Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bùi Duy Thạch
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm