Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST ngày 30/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 83/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST ngày 30/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 83/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 - LÂM ĐỒNG
Bản án số: 83/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 - 2026
V/v: “Ly hôn, tranh chấp chia tài
sản chung, nợ chung khi ly hôn, tranh
chấp nuôi con, tranh chấp hợp đồng tín
dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
2. Bà Lê Thị Kim Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 13- Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng tham gia phiên
tòa: Bà Lê Thị Khánh Dung - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm
Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 86/2025/TLST-HNGĐ ngày
20 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung khi
ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 81/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/9/2026, Quyết định hoãn phiên
tòa số 67/2026/QĐST-HNGĐ ngày 23/9/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Xích Văn N, sinh năm 1989 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Lâm Đồng
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Xích Văn N: Luật sư
Trương Minh T - Công ty L1 Luật thuộc Đoàn luật sư thành phố H.
2. Bị đơn: Bà Tồn Nữ Ánh D, sinh năm 1989 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Lâm Đồng
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Tồn Cư T1, sinh năm 1954.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tồn Nữ Ánh D: Ông Nguyễn
Trường D1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L.
Địa chỉ: Thôn Phan Hòa, xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng N3
Địa chỉ: Số B đường L, phường G, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng giám
đốc A
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Viết K- Chức vụ: Quyền Giám đốc
Ngân hàng N3 chi nhánh B
(Theo giấy ủy quyền số 532/UQ-NHN0.Bth.BB ngày 13/8/2025 của Tổng
Giám đốc Ngân hàng N3)
Người nhận ủy quyền: Ông Trương Đình L - Chức vụ: Trưởng phòng Phòng
Khách hàng Ngân hàng N3 -Chi nhánh B, Bình Thuận.
(Theo giấy ủy quyền số 523/NHNo-BTh.BB - KH ngày 30/9/2026)
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, ông Xích Văn N trình bày:
1. Về hôn nhân: Ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D sống với nhau và có
đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện B (Nay là xã H, tỉnh Lâm Đồng) ngày
26/10/2006. Ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D lấy nhau trên cơ sở tự nguyện
tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm
2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, không thể hàn gắn được. Hiện nay,
ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D đã sống ly thân. Do tình trạng hôn nhân ngày
càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không
đạt được nên ông Xích Văn N yêu cầu tòa án giải quyết cho ông Xích Văn N được
ly hôn với bà Tồn Nữ Ánh D
2. Về con chung: Có 02 con chung tên Xích Ngọc Như Ý, sinh ngày
27/8/2012 và Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày 14/4/2016. Sau khi ly hôn, ông Xích
Văn N yêu cầu tiếp tục nuôi con Xích Ngọc Như Ý và Xích Ngọc Phúc T2. Ông
Xích Văn N yêu cầu bà Tồn Nữ Ánh D cấp dưỡng nuôi con Xích Ngọc Phúc T2 là
3.000.00 đồng/01 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
3.Về tài sản chung và nợ chung:
3.1. Về tài sản chung:
-Thửa đất số 55, diện tích 562,9m
2
đất trồng lúa; thửa đất số 64, diện tích
925,5m
2
đất trồng lúa; thửa đất số 65, diện tích 1115,8m
2
đất trồng lúa; thửa đất số
3
68, diện tích 1886,5m
2
đất trồng lúa; thửa đất số 152, diện tích 568,3m
2
đất trồng lúa
đều nằm trong giấy CNQSDĐ số BX 747947 do UBND huyện B cấp ngày
28/7/2015 đứng tên Xích Minh N1, bà Huỳnh Thị Ngọc V1 đã chuyển nhượng cho
ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D; Đối với thửa đất số 6 tờ bản đồ số 39 diện
tích 804,5m
2
đất trồng lúa theo giấy CNQSDĐ số CQ 977376 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông Xích Văn N; Đối với thửa đất
số 7 tờ bản đồ số 39 diện tích 3.062m
2
đất trồng lúa theo giấy CNQSDĐ số CQ
977575 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2019 đứng tên ông
Xích Văn N. Thửa đất số 6 và thửa đất số 7 là tài sản riêng của ông Xích Văn N. Tất
cả các thửa đất trên hiện đang thế chấp tại Ngân hàng N3 - chi nhánh B.
-Thửa đất số 312, tờ bản đồ số 3, diện tích 632 m
2
theo giấy CNQSDĐ số C
841608 do UBND huyện B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông Tồn Cư T1 do vợ
chồng ông mua nhưng vì không có kinh phí để làm hợp đồng chuyển nhượng nên vợ
chồng ông thống nhất làm hợp đồng tặng cho
Trên thửa đất số 312, vợ chồng ông có xây 06 phòng trọ và 01 căn nhà cấp
4, tiền xây nhà là tiền vay Ngân hàng A để xây, nguyện vọng của ông xin nhận các
tài sản này và thanh toán lại tiền cho bà Tồn Nữ Ánh D.
Các tài sản 02 xe máy và các tài sản khác trong nhà theo biên bản định giá
tài sản ngày 24/10/2025, ông Xích Văn N xin nhận hiện vật và thanh toán lại tiền
cho bà Tồn Nữ Ánh D.
3.2. Về nợ chung: Ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D có nợ Ngân hàng
N3 - Chi nhánh B 350.000.000 đồng, ông N yêu cầu chia đôi vợ chồng cùng trả
gốc, lãi và đồng ý xử lý tài sản thế chấp.
* Bị đơn- Bà Tồn Nữ Ánh D trình bày:
1. Về hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Xích Văn N.
2. Về con chung: Bà D xin nhận nuôi 02 con Xích Ngọc Như Ý, sinh ngày
27/8/2012 và Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày 14/4/2016. Bà D không yêu cầu ông N
cấp dưỡng nuôi con. Bà D chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con Xích Ngọc Phúc T2 là
1.500.00 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
3.Về tài sản chung:
- Bà D thống nhất các thửa đất số 55, thửa đất số 64, thửa đất số 65, thửa đất
số 68, thửa đất số 152 nằm trong giấy CNQSDĐ số BX 747947 do UBND huyện B
cấp ngày 28/7/2015 đứng tên Xích Minh N1, bà Huỳnh Thị Ngọc V1 đã chuyển
nhượng cho ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D là tài sản chung. Đối với thửa đất
số 6 tờ bản đồ số 39 diện tích 804,5m
2
đất trồng lúa theo giấy CNQSDĐ số CQ
4
977376 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông
Xích Văn N; Đối với thửa đất số 7 tờ bản đồ số 39 diện tích 3.062m
2
đất trồng lúa
theo giấy CNQSDĐ số CQ 977575 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
ngày 27/11/2019 đứng tên ông Xích Văn N. Thửa đất số 6 và thửa đất số 7 là tài sản
riêng của ông Xích Văn N. Tất cả các thửa đất trên hiện đang thế chấp tại Ngân
hàng N3 chi nhánh B. Bà D đồng ý trả nợ chung và xử lý tài sản thế chấp trên theo
quy định của pháp luật;
- Đối với thửa đất số 312 tờ bản đồ số 3 diện tích theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số C 841608 do UBND huyện B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên
ông Tồn Cư T1 đã tặng cho riêng cho cá nhân bà D nên đất đó là tài sản riêng của bà
D.
Về tài sản 6 phòng trọ và 01 căn nhà cấp 4 xây trên thửa đất số 312, bà D xin
nhận và thanh toán lại một nửa giá trị tài sản cho trên đất cho ông N.
Các tài sản 02 xe máy và các tài sản khác trong nhà theo biên bản định giá
tài sản ngày 24/10/2025, bà D xin nhận 01 xe mô tô, hiệu Honda Lead, biển số
86B2- 49912 và các tài sản khác trong nhà theo biên bản định giá tài sản ngày
24/10/2025.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ngân hàng N3,
ông Trương Đình L trình bày : Vợ chồng ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D có
vay Ngân hàng N3- Chi nhánh B, Bình Thuận theo hợp đồng tín dụng số 4809-
LAV-202506056 ngày 27/12/2025 và giấy nhận nợ theo số giải ngân
4809LDS202511031 ngày 27/12/2025, hạn mức vay 350.000.000 đồng, được đảm
bảo bằng các tài sản GCNQSDĐ số CQ 977575, giấy CNQSDĐ số CQ 977376 và
GCNQSDĐ số BX 749947 thời hạn vay 36 tháng, dư nợ hiện tại đến ngày
30/9/2026 là 381.044.825 đồng (nợ gốc 350.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn
26.149.315 đồng, nợ lãi quá hạn 4.895.509 đồng). Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông
N và bà D cùng thanh toán khoản nợ, lãi và tiếp tục trả lãi sau ngày 01/10/2026 theo
hợp đồng tín dụng nêu trên cho Ngân hàng. Trường hợp ông N và bà D không thực
hiện việc trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng đảm
bảo số 4187/20/HĐTC ngày 14/10/2020 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất số 4187/22PLHĐTC ngày 13/10/2022 để thu hồi nợ
theo quy định của pháp luật
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản lập
ngày 24/10/2025, ngày 20/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng,
5
biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27/8/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
13- Lâm Đồng, tài sản gồm:
1. Các tài sản trong nhà:
- 01 tủ gỗ quần áo, gỗ tạp, mua năm 2018, giá 5.000.000 đồng, tỷ lệ sử dụng
còn lại 12,5%.
Thành tiền: 5.000.000 đồng x 12,5% = 625.000 đồng.
- 01 tivi, hiệu LG, 55 inch, mua năm 2021, giá 16.000.000 đồng, tỷ lệ sử
dụng còn lại 50%.
Thành tiền: 16.000.000 đồng x 50% = 8.000.000 đồng.
-01 xe mô tô, hiệu Wave RS, loại bánh căm, thắng đùm, biển số 86B2-
572.60 mua năm 2020, giá 23.000.000 đồng, tỷ lệ sử dụng còn lại 50%.
Thành tiền: 23.000.000 đồng x 50% = 11.500.000 đồng.
- 01 giá võng gỗ lim đá, mua năm 2017, giá 4.000.000 đồng, thành tiền:
500.000 đồng
- 01 xe mô tô, hiệu Honda Lead, biển số 86B2- 49912 mua năm 2019, giá
40.000.000 đồng, tỷ lệ sử dụng còn lại 40%.
Thành tiền: 40.000.000 đồng x 40% = 16.000.000 đồng.
- 01 giường gỗ căm liên , không tranh chấp nên không định giá
- 02 tủ đựng thiết bị, không tranh chấp nên không định giá
- 04 máy lạnh, hiệu Midea, mua năm 2020, đơn giá 7.000.000 đồng/ 01 cái ,
tỷ lệ sử dụng còn lại 37,5%.
T3 tiền: 4 cái x 7.000.000 đồng x 37,5% = 10.500.000 đồng.
- 02 máy lạnh, hiệu Midea, mua năm 2022, đơn giá 7.000.000 đồng/ 01 cái,
tỷ lệ sử dụng còn lại 62,5%.
Thành tiền: 2 cái x 7.000.000 đồng x 62,5% = 8.750.000 đồng.
- 01 tủ lạnh loại 4 cửa, hiệu Toshiba, mua năm 2023, đơn giá 17.500.000
đồng/ 01 cái, tỷ lệ sử dụng còn lại 75%.
Thành tiền: 17.500.000 đồng x 75% = 13.125.000 đồng.
- 06 tấm nệm, không tranh chấp nên không định giá
- 04 giường gỗ xoan đào , không tranh chấp nên không định giá
- 01 bàn trang điểm, gỗ tạp, mua năm 2023, đơn giá 2.100.000 đồng/ 01 cái,
tỷ lệ sử dụng còn lại 75%.
Thành tiền: 2.100.000 đồng x 75% = 1.575.000 đồng.
- Thửa đất số 312, tờ bản đồ số 3, diện tích 587,5 m
2
, đất trồng lúa
6
Giá trị quyền sử dụng của diện tích đất 587,5 m
2
là 90.475.000 đồng (m
2
x
587,5 m
2
x 154.000 đ/m
2
)
- 01 căn nhà cấp 4 kèm mái lợp tol, khung gỗ, xây dựng năm 2016, móng trụ
bê tông, cốt thép, mái lợp tol, trong nhà nền lát gạch ceramic, nền phía trước láng
ciment, cửa sắt, công trình sơn nước, quét vôi.
Diện tích 51,3m
2
, tỷ lệ sử dụng còn lại 40%, đơn giá 3.600.000 đồng /1 m
2
Thành tiền: 51,3m
2
x 3.600.000 đồng /1 m
2
x 40% = 59.472.000 đồng.
- 01 căn nhà cấp 4, xây dựng năm 2020, móng trụ bê tông, cốt thép, mái lợp
tol, nền lát gạch ceramic,, cửa nhôm kính, công trình sơn nước, quét vôi, nhà vệ sinh
bên trong nhà.
Diện tích 125m
2
, tỷ lệ sử dụng còn lại 70%, đơn giá 4.604.322 đồng /1 m
2
Thành tiền: 125m
2
x 4.604.322 đồng /1 m
2
x 70% = 402.878.175 đồng.
- 01 nhà vệ sinh thường, xây dựng năm 2016
Diện tích 8,8m
2
, tỷ lệ sử dụng còn lại 10%, đơn giá 2.300.000 đồng /1 m
2
Thành tiền: 8,8m
2
x 2.300.000đồng /1 m
2
x 10% = 2.024.000 đồng.
-01 mái che khung sắt, mái lợp tol, có trụ một đầu bắt vào tường, xây dựng
năm 2017, diện tích xây dựng 206,7m
2
, tỷ lệ sử dụng còn lại 20%, đơn giá 520.583
đồng/m
2
Thành tiền: 206,7m
2
x 520.583 đồng /1 m
2
x 20% = 21.520.901 đồng.
- 01 mái che khung sắt, mái lợp tol, xây dựng năm 2019, diện tích xây dựng
59,8m
2
, tỷ lệ sử dụng còn lại 40%, đơn giá 431.306 đồng /1 m
2
Thành tiền: 59,8m
2
x 431.306 đồng /1 m
2
x 40% = 10.316.480 đồng.
- Tường (phía sau nhà), kết cấu xây gạch taplo cao trên 1,5m, dày 10cm,
móng đá, không trát, xây dựng năm 2020, chiều dài 15,05 m, đơn giá 568.462
đồng/m, tỷ lệ sử dụng còn lại 50%
Thành tiền: 15, 05 m x 568.462 đồng/m x 50% = 4.277.677 đồng.
- Tường xây gạch, phía trên gắn lưới B40, cao trên 1,5m, xây dựng năm
2020, chiều dài 12, 32 m, đơn giá 900.000 đồng/m, tỷ lệ sử dụng còn lại 50%
Thành tiền: 12, 32 m x 900.000 đồng/m x 50% = 5.544.000 đồng.
- Tường xây gạch taplo cao trên 1,5m, dày 10cm, móng đá, không trát, xây
dựng năm 2022, chiều dài 37,08 m, đơn giá 568.462 đồng/m, tỷ lệ sử dụng còn lại
70%
Thành tiền: 37,08 m x 568.462 đồng/m x 70% = 14.755.000 đồng.
-Thửa đất số 55, diện tích 562,9m
2
đất trồng lúa; thửa đất số 64, diện tích
925,5m
2
đất trồng lúa; thửa đất số 65, diện tích 1115,8m
2
đất trồng lúa; thửa đất số
7
68, diện tích 1886,5m
2
đất trồng lúa; thửa đất số 152, diện tích 568,3m
2
đất trồng lúa
đều nằm trong giấy CNQSDĐ số BX 747947 do UBND huyện B cấp ngày
28/7/2015 đứng tên Xích Minh N1, bà Huỳnh Thị Ngọc V1 đã chuyển nhượng cho
anh Xích Văn N, chị Tồn Nữ Ánh D hiện đang thế chấp tại Ngân hàng N3 chi nhánh
B;
Tổng diện tích 5.059 m
2
, vị trí 3, đơn giá 35.000 đ/m
2
.
Giá trị quyền sử dụng của diện tích đất 5.059 m
2
là 177.065.000 đồng (5.095
m
2
x 35.000 đ/m
2
).
Tổng giá trị nhà, đất nông nghiệp và tài sản trên đất là 858.903.233 đồng.
Đối với thửa đất số 6 tờ bản đồ số 39 diện tích 804,5m
2
đất trồng lúa theo
giấy CNQSDĐ số CQ 977376 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày
22/4/1996 đứng tên ông Xích Văn N; Đối với thửa đất số 7 tờ bản đồ số 39 diện tích
3.062m
2
đất trồng lúa theo giấy CNQSDĐ số CQ 977575 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2019 đứng tên ông Xích Văn N là tài sản riêng của
ông Xích Văn N nên không định giá.
Các bên không yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản,
thống nhất lấy kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày
24/10/2025, ngày 20/11/2025, biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/8/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng phát biểu ý kiến
đối với vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự
trong quá trình giải quyết vụ án; Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc
chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự trong vụ án. Về thời hạn
giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28,
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều
157, Điều 165 BLTTDS năm 2015; Điều 27, Điều 37, Điều 51, Điều 56, Điều 58,
Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116 Luật HNGĐ năm 2014; Điều 117, Điều 298,
Điều 299, Điều 303, Điều 307, Điều 317, Điều 319, Điều 323, Điều 463, Điều 466,
Điều 468 BLDS năm 2015; Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm
2024; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy
định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-
8
QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của anh Xích Văn N về việc chia tài sản chung
đối với các thửa đất 55, 64, 65, 68, 152 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số BX747947
do UBND huyện B cấp ngày 28/7/2015 cho ông Xích Minh N1, bà Huỳnh Thị Ngọc
V1, cập nhật biến động sang tên Xích Văn N, bà Tồn Nữ Ánh D ngày 04/11/2015 và
thửa đất số 312 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số C 841608 cấp ngày 22/4/1996 cho
ông T4 Cư Trinh cập nhật biến động sang tên bà Tồn Nữ Ánh D ngày 16/11/2017.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N3.
Buộc anh Xích Văn N và chị Tồn Nữ Ánh D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng
N3 số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số số 4809-LAV-202506056 ngày
27/12/2025 tạm tính đến ngày 30/9/2026 với số tiền 381.044.825 đồng trong đó tiền
gốc 350.000.000 đồng, lãi trong hạn 26.149.316 đồng, lãi quá hạn 4.458.904 đồng,
lãi chậm trả 436.605 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2026 cho
đến khi trả hết nợ gốc.
Trường hợp anh Xích Văn N và chị Tồn Nữ Ánh D không thực hiện được
nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N3 có quyền yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền
kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 4187/20/HĐTC ngày
14/10/2020 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp QSDĐ số
4187/22/PLHĐTC ngày 13/10/2022để thu hồi nợ. Trường hợp giá trị tài sản thế
chấp không đủ thanh toán nợ vay anh Xích Văn N và chị Tồn Nữ Ánh D vẫn có
nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng N3. Trường hợp
giá trị tài sản thế chấp sau khi trả hết các khoản nợ còn dư thì được trả lại cho bên
thế chấp.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về hôn nhân: Cho anh Xích Văn N được ly hôn với chị Tồn Nữ Ánh D.
+ Về con chung: Giao 02 con chung tên Xích Ngọc Như Ý, sinh ngày
27/8/2012 và Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày 14/4/2016 cho anh N trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng. Chị D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung mà không ai có quyền ngăn cản. Chị D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Xích
Ngọc Phúc T2 1.850.000 đồng/tháng cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao
động.
+ Về tài sản chung: Thửa đất số 312 tờ bản đồ số 3 diện tích 632m
2
theo giấy
chứng nhận QSDĐ số C841609 do UBND huyện B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên
9
Tồn Cư T1, cập nhật biến động sang tên chị Tồn Nữ Ánh D ngày 16/11/2017 là tài
sản riêng của chị Tồn Nữ Ánh D.
Giao chị Tồn Nữ Ánh D nhận tài sản là căn nhà cấp 4 xây năm 2016, nhà cấp
4 xây năm 2020 (06 phòng trọ và 01 căn nhà), nhà vệ sinh, mái che, hàng rào, các
vật dụng gồm 01 tủ quần áo gỗ tạp, 01 ti vi hiệu LG, 01 giá võng lim, 01 xe mô tô
hiệu Honda Lead biển số 86B2-49912, 04 máy lạnh hiệu Midea, mua năm 2020, 02
cái máy lạnh hiệu Midea mua năm 2022, 01 tủ lạnh loại 04 cửa hiệu Toshiba, 01 bàn
trang điểm gỗ tạp.
Giao anh N nhận xe mô tô hiệu Wave RS loại bánh căm, thắng đùm biển số
86B2-57260.
Chị D có nghĩa vụ hoàn lại cho anh N số tiền 284.181.616 đồng.
+ Về nợ chung: anh N và chị D có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N3 số
tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số số 4809-LAV-202506056 ngày 27/12/2025
tạm tính đến ngày 30/9/2026 với số tiền 381.044.825 đồng, mỗi người có trách
nhiệm trả 190.522.412 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc.
- Về án phí và chi phí tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm
và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem
xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Ông Xích Văn N có đơn đề nghị giải quyết việc hôn
nhân giữa ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D theo quy định tại Khoản 1, Điều
28; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13-
Lâm Đồng.
[2] Về hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D là hợp pháp.
Xét lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong giai đoạn
thu thập chứng cứ, hòa giải đủ căn cứ để kết luận vợ chồng ông Xích Văn N và bà
Tồn Nữ Ánh D đã không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, người
nào chỉ biết bổn phận của người đó, ai muốn sống ra sao thì sống. Vợ chồng ông
Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D đã không còn tình nghĩa vợ chồng. Do tình trạng
hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của
hôn nhân không đạt được nên ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D cũng đã thuận
10
tình ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Xích
Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D.
[3] Về con chung: Có 02 con chung tên Xích Ngọc Như Ý, sinh ngày
27/8/2012 và Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày 14/4/2016. Sau khi ly hôn, ông Xích
Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D đều có yêu cầu tiếp tục nuôi con Xích Ngọc Như Ý và
Xích Ngọc Phúc T2. Ông Xích Văn N yêu cầu bà Tồn Nữ Ánh D cấp dưỡng nuôi
con Xích Ngọc Phúc T2 là 3.000.000 đồng /01 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi; Bà
Tồn Nữ Ánh D không yêu cầu ông Xích Văn N cấp dưỡng nuôi con và nếu có cấp
dưỡng thì bà D chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con Xích Ngọc Phúc T2 là 1.500.000
đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Song 02 con Xích Ngọc Như Ý và Xích
Ngọc Phúc T2 đều có nguyện vọng ở với ông Xích Văn N. Xét thấy ông N đang là
người đang trực tiếp nuôi dưỡng Xích Ngọc Như Ý và Xích Ngọc Phúc T2, các
cháu đang sống ổn định với ông N. Ông N có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp
nuôi dưỡng con Xích Ngọc Như Ý và Xích Ngọc Phúc T2 và các con cũng đồng ý ở
với ông N nghĩ nên tiếp tục giao các con Xích Ngọc Như Ý và Xích Ngọc Phúc T2
cho ông N nuôi là phù hợp với pháp luật.
Ông Xích Văn N yêu cầu bà Tồn Nữ Ánh D cấp dưỡng nuôi con Xích Ngọc
Phúc T2 là 3.000.000 đồng /01 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi song bà Tồn Nữ
Ánh D chỉ đồng ý là 1.500.000 đồng /01 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. HĐXX
xét thấy: Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp
dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và
nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định
nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng
đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con, mức lương tối thiểu vùng hiện
nay tại xã H, tỉnh Lâm Đồng là 3.700.000 đồng/tháng. HĐXX xét thấy nghĩ nên
buộc bà Tồn Nữ Ánh D cấp dưỡng nuôi con Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày
14/4/2016 là 1.850.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với
Khoản 2 Điều 82, Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 2 Điều
7 ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp
dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình.
[4] Về phân chia tài sản chung vợ chồng: Xem xét tài sản chung của vợ
chồng ông N và bà D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ông Xích Văn N khai: Trong thời
kỳ hôn nhân, ông với bà D có tạo lập tài sản chung, có tổng giá trị nhà, đất nông
nghiệp và tài sản trên đất là 858.903.233 đồng. Trên thửa đất số 312, tờ bản đồ số 3,
11
diện tích 587,5 m
2
, đất trồng lúa đất vợ chồng ông có xây 06 phòng trọ và 01 căn
nhà cấp 4, tiền xây nhà vay Ngân hàng A, chi nhánh B để xây.
Các tài sản gồm 02 xe máy và các tài sản khác trong nhà theo biên bản định
giá tài sản ngày 24/10/2025, nguyện vọng của ông Xích Văn N xin nhận hiện vật. và
hoàn lại giá trị tài sản cho bà D. Song bà D không đồng ý, vì cho rằng thửa đất số
312, tờ bản đồ số 3, diện tích 587,5 m
2
, đất trồng lúa đất là tài sản riêng của bà. Tài
sản chung của vợ chồng chỉ có tổng trị giá là 768.428.233 đồng (858.903.233 đồng
– 90.475.000 đồng)
Xét tài sản mà nguyên đơn đang tranh chấp là nhà, đất nông nghiệp và tài
sản trên đất có tổng trị giá là 858.903.233 đồng.
Theo lời khai của ông Xích Văn N: Thửa đất số 312, tờ bản đồ số 3, diện
tích 632 m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 841608 do UBND huyện
B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông Tồn Cư T1 do vợ chồng ông mua nhưng vì
không có kinh phí để làm hợp đồng chuyển nhượng nên vợ chồng ông thống nhất
làm hợp đồng tặng cho. Song theo tài liệu do bị đơn cung cấp cho Tòa án nhân dân
khu vực 13- Lâm Đồng thể hiện: Thửa đất số 312 tờ bản đồ số 3, diện tích 632 m
2
theo giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 841608 do UBND huyện B cấp
ngày 22/4/1996 đứng tên ông Tồn Cư T1 đã tặng cho riêng cho cá nhân bà Tồn Nữ
Ánh D nên đây là tài sản riêng của bà D.
Ngoài những lời khai nại trên, nguyên đơn cũng không đưa ra được tài liệu,
chứng cứ nào để chứng minh thửa đất số 312 tờ bản đồ số 3, diện tích 632 m
2
theo
giấy CNQSDĐ số C 841608 do UBND huyện B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông
Tồn Cư T1 là tài sản chung của nguyên, bị đơn.
Do đó, với những lời khai nại trên không có căn cứ để chấp nhận thửa đất số
312, tờ bản đồ số 3, diện tích 632 m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C
841608 do UBND huyện B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông Tồn Cư T1 đã cập
nhật biến đông cho bà Tồn Nữ Ánh D là tài sản chung của nguyên, bị đơn.
Tài sản là công trình xây dựng trên thửa đất số 312 và các tài sản khác tạo ra
trong thời kỳ hôn nhân theo biên bản định giá tài sản lập ngày 24/10/2025. Nguyên
và bị đơn đều thừa nhận đây là tài sản chung của vợ chồng, có tổng trị giá là
768.428.233 đồng.
Do tài sản thế chấp là thửa đất số 55, thửa đất số 64, thửa đất số 65, thửa đất
số 68, thửa đất số 152 nằm trong giấy CNQSDĐ số BX 747947 do UBND huyện B
cấp ngày 28/7/2015 đứng tên Xích Minh N1, bà Huỳnh Thị Ngọc V1 đã chuyển
nhượng cho ông Xích Văn N, bà Tồn Nữ Ánh D là tài sản chung của vợ chồng trị
12
giá là 177.065.000 đồng nên tài sản vợ chồng đang quản lý, sử dụng và định đoạt
còn lại trị giá là 591.363.233 đồng.
Như vậy, ông Xích Văn N, bà Tồn Nữ Ánh D mỗi người được hưởng 50%
giá trị tài sản trị giá là 295.681.616 đồng (đã làm tròn số)
[5] Về chia hiện vật: Do thửa đất số 312 có nguồn gốc là tài sản riêng của bà
Tồn Nữ Ánh D. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao quyền sử dụng thửa đất cùng toàn bộ
tài sản trên đất cho bà Tồn Nữ Ánh D được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt. Trên
đất có tài sản: 01 căn nhà cấp 4, diện tích 51,3m
2
, thành tiền 59.472.000 đồng; 01
căn nhà cấp 4, diện tích 125m
2
, thành tiền 402.878.175 đồng; 01 nhà vệ sinh
thường, diện tích 8,8m
2
,
thành tiền 2.024.000 đồng; 01 mái che khung sắt, diện tích
xây dựng 206,7m
2
, thành tiền 21.520.901 đồng; 01 mái che khung sắt, diện tích xây
dựng 59,8m
2
, thành tiền 10.316.480 đồng; T2 (phía sau nhà) chiều dài 15,05 m,
thành tiền 4.277.677 đồng; Tường xây gạch, chiều dài 12,32 m, thành tiền 5.544.000
đồng; T2 xây gạch taplo, chiều dài 37,08m, thành tiền: 14.755.000 đồng.
Đối với các tài sản trong nhà và 01 xe mô tô, hiệu Honda Lead, biển số
86B2- 49912 nên giao cho bà Tồn Nữ Ánh D.
Đối với 01 xe mô tô, hiệu hiệu Wave RS, biển số 86B2- 572.60 nên giao cho
ông Xích Văn N.
Đối với các thửa đất số 55, thửa đất số 64, thửa đất số 65, thửa đất số 68,
thửa đất số 152 nằm trong giấy CNQSDĐ số BX 747947 do UBND huyện B cấp
ngày 28/7/2015 đứng tên Xích Minh N1, bà Huỳnh Thị Ngọc V1 đã chuyển nhượng
cho anh Xích Văn N, chị Tồn Nữ Ánh D hiện đang thế chấp vay tại Ngân hàng N3
Chi nhánh B hợp đồng tín dụng số 4809-LAV-202506056 ngày 27/12/2025 và giấy
nhận nợ theo số giải ngân 4809LDS202511031 ngày 27/12/2025 nên không xem xét
để chia.
[6] Xem xét yêu cầu độc lập của Ngân hàng N3: Như đã phân tích ở trên đối
với khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 4809-LAV-202506056 ngày 27/12/2025
và giấy nhận nợ theo số giải ngân 4809LDS202511031 ngày 27/12/2025, số tiền nợ
gốc 350.000.000đ được xác định là nợ chung của ông N, bà D. Tài sản thế chấp là
thửa đất số 55, thửa đất số 64, thửa đất số 65, thửa đất số 68, thửa đất số 152 nằm
trong giấy CNQSDĐ số BX 747947 do UBND huyện B cấp ngày 28/7/2015 đứng
tên Xích Minh N1, bà Huỳnh Thị Ngọc V1 đã chuyển nhượng cho anh Xích Văn N,
chị Tồn Nữ Ánh D. Đối với thửa đất số 6 nằm trong giấy CNQSDĐ số CQ 977376
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông Xích Văn
N và thửa đất số 7 tờ nằm trong giấy CNQSDĐ số CQ 977575 do Sở Tài nguyên và
13
Môi trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2019 đứng tên ông Xích Văn N là tài sản riêng
của ông Xích Văn N. Ngân hàng N3, chi nhánh B yêu cầu vợ chồng ông N và bà D
cùng thanh toán khoản nợ, lãi và lãi sau ngày 23/9/2026 theo hợp đồng tín dụng cho
Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.
Trong trường hợp ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N3 (A) có quyền yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 5461/23/HĐTC ngày 26/5/2023. Khi xử lý
tài sản thế chấp không căn cứ theo giá Hội đồng định giá đưa ra trong quá trình giải
quyết vụ án.
[7] Về án phí: Ông Xích Văn N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Ông Xích Văn N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung khi ly hôn
không được chấp nhận. Ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D phải nộp án phí dân
sự sơ thẩm về chia tài sản chung khi ly hôn.
Do yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
được chấp nhận nên nguyên, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về thực hiện
nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.
[8] Về chi phí tố tụng: Xét tổng số tiền 23.670.731 đồng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản mà trong đó nguyên đơn đã nộp 16.670.731
đồng, bị đơn đã nộp 7.000.000 đồng. Nguyên đơn, bị đơn cùng phải chịu chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nên bị đơn phải thanh toán lại cho
nguyên đơn là 4.835.000 đồng.
Do yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
được chấp nhận nên nguyên, bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên
buộc nguyên, bị đơn phải thanh toán lại cho Ngân hàng N3 số tiền 2.000.000 đồng.
[9] Trong phần tranh luận tại phiên toà hôm nay: Luật sư Trương Minh T,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Xích Văn N phát biểu: Đề nghị
HĐXX:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Xích Văn N và bà
Tồn Nữ Ánh D
-Về con chung: Giao con chung Xích Ngọc Như Ý, sinh ngày 27/8/2012 và
Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày 14/4/2016 cho ông Xích Văn N trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Tồn Nữ Ánh D cấp dưỡng nuôi con Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày
14/4/2016 là 3.000.000 đồng /01 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về chia tài sản chung được chia của vợ chồng khi ly hôn:
14
Đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng có tổng trị giá là 768.428.233
đồng, mỗi người 50%. Ông Xích Văn N nhận hiện vật và hoàn lại giá trị cho bà Tồn
Nữ Ánh D.
-Về nợ chung:
Ông Xích Văn N đồng ý cùng bà Tồn Nữ Ánh D chịu trách nhiệm liên đới
trả cho Ngân hàng N3 tổng nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày
30/9/2026) là 381.044.825 đồng (nợ gốc 350.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn
26.149.315 đồng, nợ lãi quá hạn 4.895.509 đồng) và đồng ý xử lý tài sản thế chấp
theo quy định của pháp luật.
HĐXX xét thấy luận cứ bảo vệ của Luật sư Trương Minh T cho ông Xích
Văn N là không có cơ sở để chấp nhận toàn bộ.
Trong phần tranh luận tại phiên toà hôm nay: Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn
Trường D1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Tồn Nữ Ánh D phát
biểu đề nghị HĐXX:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Xích Văn N và bà
Tồn Nữ Ánh D
-Về con chung: Giao con chung Xích Ngọc Như Ý, sinh ngày 27/8/2012 và
Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày 14/4/2016 cho bà Tồn Nữ Ánh D trực tiếp nuôi
dưỡng. Bà Tồn Nữ Ánh D không yêu cầu ông Xích Văn N cấp dưỡng nuôi con.
Bà Tồn Nữ Ánh D chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con Xích Ngọc Phúc T2, sinh
ngày 14/4/2016 là 1.500.000 đồng /01 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về chia tài sản chung được chia của vợ chồng khi ly hôn:
Đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng có tổng trị giá là 591.363.233
đồng, mỗi người 50%. Bà Tồn Nữ Ánh D nhận hiện vật và hoàn lại giá trị cho ông
Xích Văn N. Ông Xích Văn N nhận 01 xe mô tô, hiệu Wace RS, loại bánh căm,
thắng đùm, biển số 86B2- 572.60.
-Về nợ chung:
Bà Tồn Nữ Ánh D đồng ý cùng ông Xích Văn N chịu trách nhiệm liên đới
trả cho Ngân hàng N3 tổng nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày
30/9/2026) là 381.044.825 đồng (nợ gốc 350.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn
26.149.315 đồng, nợ lãi quá hạn 4.895.509 đồng) và đồng ý xử lý tài sản thế chấp
theo quy định của pháp luật.
HĐXX xét thấy luận cứ bảo vệ của Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Trường
D1 cho bà Tồn Nữ Ánh D là không có cơ sở để chấp nhận toàn bộ.
15
[10] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án phù hợp với nhận định
của Tòa án nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35;
Điểm a, c, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; Điều 33, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 37, Điều 43, Điều 62,
Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 463; Điều
468; Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín
dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng
thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 6 Điều 26; điểm a, b, khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Xích Văn N và bà
Tồn Nữ Ánh D
2. Về con chung: Giao con chung Xích Ngọc Như Ý, sinh ngày 27/8/2012 và
Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày 14/4/2016 cho ông Xích Văn N trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Tồn Nữ Ánh D cấp dưỡng nuôi con Xích Ngọc Phúc T2, sinh ngày
14/4/2016 là 1.850.000 đồng /01 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Bà Tồn Nữ Ánh
D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
3. Về chia tài sản chung được chia của vợ chồng khi ly hôn:
Xác định quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 312, tờ bản đồ số 3, diện tích
587,5 m
2
, đất trồng lúa theo giấy CNQSDĐ số C 841608 do UBND huyện B cấp
ngày 22/4/1996 đứng tên ông Tồn Cư T1 đã tặng cho riêng cho cá nhân bà D là tài
sản riêng của bà Tồn Nữ Ánh D trong thời kỳ hôn nhân
Không chấp nhận yêu cầu của ông Xích Văn N đối với bà Tồn Nữ Ánh D về
yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 312, tờ bản đồ số 3,
diện tích 587,5 m
2
, đất trồng lúa theo giấy CNQSDĐ số C 841608 do UBND huyện
B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông Tồn Cư T1
3.1. Phân chia tài sản chung vợ chồng trị giá là 591.363.233 đồng: Ông Xích
Văn N được hưởng là 295.681.616 đồng, bà Tồn Nữ Ánh D được hưởng
295.681.616 đồng
16
Đối với tài sản đồ dùng sinh hoạt gồm: 01 giường gỗ căm liên, 02 tủ đựng
thiết bị, 06 tấm nệm, 04 giường gỗ xoan đào, các đương sự không yêu cầu giải quyết
nên không xem xét.
3.2. Chia hiện vật và thanh toán chênh lệch:
3.2.1. Tổng giá trị hiện vật bà Tồn Nữ Ánh D được chia là 579.863.233
đồng, gồm:
- 01 căn nhà cấp 4 kèm mái lợp tol, khung gỗ, xây dựng năm 2016, móng trụ
bê tông, cốt thép, mái lợp tol, trong nhà nền lát gạch ceramic, nền phía trước láng
ciment, cửa sắt, công trình sơn nước, quét vôi, diện tích 51,3m
2
, trị giá: 59.472.000
đồng.
- 01 căn nhà cấp 4, xây dựng năm 2020, móng trụ bê tông, cốt thép, mái lợp
tol, nền lát gạch ceramic, cửa nhôm kính, công trình sơn nước, quét vôi, nhà vệ sinh
bên trong nhà, diện tích 125m
2
, trị giá: 402.878.175 đồng.
- 01 nhà vệ sinh thường, xây dựng năm 2016, diện tích 8,8m
2
, trị giá:
2.024.000 đồng.
- 01 mái che khung sắt, mái lợp tol, có trụ một đầu bắt vào tường, xây dựng
năm 2017, diện tích xây dựng 206,7m
2
, trị giá: 21.520.901 đồng.
- 01 mái che khung sắt, mái lợp tol, xây dựng năm 2019, diện tích xây dựng
59,8m
2
, trị giá: 10.316.480 đồng.
- Tường (phía sau nhà), kết cấu xây gạch taplo cao trên 1,5m, dày 10cm,
móng đá, không trát, xây dựng năm 2020, chiều dài 15,05 m, trị giá: 4.277.677
đồng.
-Tường xây gạch, phía trên gắn lưới B40, cao trên 1,5m, trị giá: 5.544.000
đồng.
-Tường xây gạch taplo cao trên 1,5m, dày 10cm, móng đá, không trát, xây
dựng năm 2022, chiều dài 37,08 m, trị giá: 14.755.000 đồng
- 01 tủ gỗ quần áo, gỗ tạp, mua năm 2018, trị giá: 625.000 đồng.
- 01 tivi, hiệu LG, 55 inch, mua năm 2021, trị giá: 8.000.000 đồng.
- 01 giá võng gỗ lim đá, mua năm 2017, trị giá: 500.000 đồng
- 01 xe mô tô, hiệu Honda Lead, biển số 86B2- 49912 mua năm 2019, trị
giá: 16.000.000 đồng.
- 04 máy lạnh, hiệu Midea, mua năm 2020, trị giá 04 cái: 10.500.000 đồng.
- 02 máy lạnh, hiệu Midea, mua năm 2022, trị giá 02 cái: 8.750.000 đồng.
- 01 tủ lạnh loại 4 cửa, hiệu Toshiba, mua năm 2023, trị giá: 13.125.000
đồng.
17
3.2.2. Tổng giá trị hiện vật ông Xích Văn N được chia là 11.500.000 đồng,
gồm:
- 01 xe mô tô, hiệu Wave RS, loại bánh căm, thắng đùm, biển số 86B2-
572.60 mua năm 2020, trị giá: 11.500.000 đồng.
Buộc bà Tồn Nữ Ánh D phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản chung cho
ông Xích Văn N là 284.181.616 đồng
(Kèm theo sơ đồ vị trí khu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai khu
vực B lập ngày 19/01/2026)
4. Về nợ chung:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Ngân hàng N3
Buộc ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D chịu trách nhiệm liên đới trả
cho Ngân hàng N3 tổng nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày
30/9/2026) là 381.044.825 đồng (nợ gốc 350.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn
26.149.315 đồng, nợ lãi quá hạn 4.895.509 đồng). Trong đó ông Xích Văn N và bà
Tồn N2 ánh D, mỗi người có trách nhiệm trả phân nửa số nợ gốc và lãi tính đến
ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2026) là 190.522.412 đồng (đã làm tròn số)
Buộc ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D phải tiếp tục trả lãi phát sinh sau
ngày 30/9/2026 theo mức thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 4809-LAV-
202506056 ngày 27/12/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng N3 (A)
Trường hợp hợp đồng tín dụng số 4809-LAV-202506056 ngày 27/12/2025
các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của thì
lãi suất mà ông Xích Văn N và bà Tồn N2 ánh D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân
hàng N3 (A) theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với
sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N3 (A)
Trong trường hợp ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N3 (A) có quyền yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với
các thửa đất: Thửa đất số 55, thửa đất số 64, thửa đất số 65, thửa đất số 68, thửa đất
số 152 nằm trong giấy CNQSDĐ số BX 747947 do UBND huyện B cấp ngày
28/7/2015 đứng tên Xích Minh N1, bà Huỳnh Thị Ngọc V1 đã chuyển nhượng cho
ông Xích Văn N, bà Tồn Nữ Ánh D. Thửa đất số 6 nằm trong giấy CNQSDĐ số CQ
977376 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/4/1996 đứng tên ông
Xích Văn N và thửa đất số 7 tờ nằm trong giấy CNQSDĐ số CQ 977575 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2019 đứng tên ông Xích Văn N
18
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số
5461/23/HĐTC ngày 26/5/2023 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Nếu phát
mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ thì ông Xích Văn N và
bà Tồn Nữ Ánh D phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền
còn thiếu, nếu thừa thì trả lại cho ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D. Khi xử lý
tài sản thế chấp không căn cứ theo giá Hội đồng định giá đưa ra trong quá trình giải
quyết vụ án.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Xích Văn N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà ông Xích Văn
N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009297 ngày
19/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình (nay là Thi hành án dân
sự tỉnh Lâm Đồng). Ông Xích Văn N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn
Ông Xích Văn N phải nộp 2.261.875 đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần
chia tài sản chung không được chấp nhận, 14.784.080 đồng án phí dân sự sơ thẩm
về chia tài sản chung, 9.526.121 đồng án phí dân sự sơ thẩm về thực hiện nghĩa vụ
trả nợ cho ngân hàng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 3.900.000
đồng mà ông Xích Văn N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án
số 0001019 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Ông Xích Văn
N còn phải nộp 22.672.076 đồng án phí dân sự sơ thẩm
Bà Tồn Nữ Ánh D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp
dưỡng nuôi con, 14.784.080 đồng án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung và
9.526.121 đồng án phí dân sự sơ thẩm về thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 3.900.000 đồng mà bà Tồn Nữ
Ánh D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000979 ngày
22/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà Tồn Nữ Ánh D còn phải nộp
20.710.201 đồng án phí dân sự sơ thẩm
Trả lại cho Ngân hàng N3 (A) số tiền 9.180.788 đồng tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu tiền số 0001178 ngày 17/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm
Đồng
6.Về chi phí tố tụng:
Ông Xích Văn N và bà Tồn Nữ Ánh D: Mỗi người phải thanh toán lại cho
Ngân hàng N3 số tiền 1.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Bà Tồn Nữ Ánh D phải thanh toán lại cho ông Xích Văn N số tiền 4.835.000
đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
19
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 và 72 của Luật thi hành án dân sự. Thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 13- Lâm Đồng;
- THADS tỉnh Lâm Đồng;
- UBND xã Hồng Thái
(CNKH số 22/2017, ngày 08/5/2017)
- Đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án, V.P.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Quốc Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST Bản án số 83/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất