Bản án số 81/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 81/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 81/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 81/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 81/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 81/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Băng C. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 81/2026/DS-PT
Ngày: 16-01-2026
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Kim Nga
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số lý 624/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11
năm 2025, về “tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 814/2025/QĐ-PT ngày
12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bà L: Bà Đỗ Thị Thúy M, sinh năm 1989 (có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, đường số A, Phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (nay
là phường A, thành phố Hồ Chí Minh).
(theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/02/2025).
- Bị đơn:
1. Ông Lê Đức T, sinh năm 1984.
2. Bà Nguyễn Thị Băng C, sinh năm 1989.
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của ông T, bà C: Ông Trần Quốc T1, sinh năm
1987 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2
Địa chỉ: Số A, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là
phường T, tỉnh Tây Ninh)..
(theo Hợp đồng ủy quyền ngày 06/3/2025)
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Băng C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 10/02/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Đỗ Thị Thúy M trình bày:
Bà L và ông T, bà C có mối quan hệ quen biết do bà C tham gia hụi bà L làm
thảo hụi.
Bà C và ông T có tham gia hụi do bà L làm thảo hụi và còn nợ lại tiền hụi
của bà L cụ thể như sau:
- Dây hụi 10.000.000 đồng/tháng: hụi khui lần đầu ngày 10/9/2021 âm lịch,
gồm 35 phần, bà C và ông T tham gia 01 phần và đã hốt hụi ở kì đầu tiên, sau đó
bà C, ông T đã đóng 31 kỳ, còn phải đóng lại 03 kỳ hụi chết với số tiền là
30.000.000 đồng.
- Dây hụi 30.000.000 đồng/tháng: khui lần đầu ngày 15/4/2022 âm lịch, gồm
35 phần, bà C và ông T tham gia 01 phần và hốt hụi ở kỳ thứ 5, đã đóng lại được
16 lần hụi chết; kỳ hụi thứ 17 bà C chỉ đóng 13.000.000 đồng, còn nợ lại 17.000.000
đồng thì bà C ngưng không đóng hụi nữa, còn nợ lại đối với dây hụi này thêm 13
kỳ hụi chưa đóng, thành tiền 13 kỳ x 30.000.000 đồng + 17.000.000 đồng =
407.000.000 đồng.
- Dây hụi 5.000.000 đồng: khui lần đầu vào ngày 20/10/2023 âm lịch, gồm
29 phần, bà C và ông T tham gia 02 phần và đã hốt 02 phần này vào kỳ đầu tiên,
đã đóng lại được 5 lần hụi chết, còn nợ lại 23 kỳ x 5.000.000 đồng x 02 phần =
230.000.000 đồng.
Bà L có lập danh sách hụi viên bà C và ông T tham gia trong danh sách hụi
với tên “C T”, đối với dây hụi 30.000.000 đồng khui ngày 15/4/2022 âm lịch bà L
có làm giấy giao hụi bà C ký tên ghi rõ họ tên người hốt ở dưới. Đối với dây hụi
5.000.000 đồng khui ngày 20/10/2023 âm lịch bà L cũng đã viết giấy đăng hụi
nhưng do tin tưởng nên chỉ đưa bà C ghi để nhớ ngày đóng hụi bà C và ông T không
có ký tên vào nhưng có những người tham gia hụi làm chứng; đối với dây hụi khui
10.000.000 đồng khui ngày 10/9/2021 âm lịch do tin tưởng nhau nên bà L không
có viết giấy giao hụi nhưng có những người tham gia hụi cùng bà C làm chứng gồm
bà Mai Thị S, bà Nguyễn Thị H và bà Trương Thị H1 biết việc bà C có tham gia
và hốt hụi của bà L và những người khác tham gia trong dây hụi làm chứng. Ông
T có đi hốt hụi cùng, nhận tiền hụi và khi đóng tiền hụi ông T cũng biết.
Từ ngày 20/3/2024 âm lịch, bà C và ông T ngưng không đóng hụi cho bà L
nữa, bà L đã đòi nhiều lần nhưng không được.
Nay bà L yêu cầu ông T và bà C trả số tiền hụi còn thiếu 667.000.000 đồng
3
và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng được tính từ ngày 20/03/2024 (âm lịch)
nhằm ngày 28/04/2024 (dương lịch) đến ngày 26/08/2025 (dương lịch) là 15 tháng
28 ngày với số tiền lãi là 88.208.000 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Băng C và ông Lê Đức T do ông Trần Quốc T1 là
người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông T, bà C và bà L có mối quan hệ quen biết do là hàng xóm ở gần nhà. Vợ
chồng ông T và bà C từ trước đến nay không có tham gia hụi do bà L làm thảo hụi,
không có thiếu tiền hụi của bà L nên không đồng ý trả tiền hụi còn thiếu theo yêu
cầu của bà L.
Đối với chữ ký và chữ viết của bà C trong giấy giao tiền hụi ngày 15/4/2022
ông đã được tiếp cận và xác định chữ ký chữ viết này không phải của bà C. Vì
nghĩa vụ chứng minh là thuộc về nguyên đơn nên ông không yêu cầu giám định
chữ ký và chữ viết của bà C trong giấy giao tiền hụi ngày 15/4/2022.
Sự việc tranh chấp đã được Tòa án cấp sơ thẩm hòa giải nhưng các đương
sự không thỏa thuận với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh đã căn cứ
Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 147, của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày
19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với bà
Nguyễn Thị Băng C và ông Lê Đức T về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.
Buộc bà Nguyễn Thị Băng C và ông Lê Đức T cùng có nghĩa vụ trả cho bà
Nguyễn Thị Ngọc L số tiền hụi 667.000.000 đồng và 88.208.000 đồng tiền lãi, tổng
cộng 755.208.000 (Bảy trăm năm mươi lăm triệu hai trăm lẻ tám nghìn) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành
án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả
tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Băng C và ông Lê Đức T phải chịu 34.208.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc L số tiền tạm ứng án phí 15.640.000 đồng
theo biên lai thu số 0003094 ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
4
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền và
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 06/10/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị Băng C kháng cáo không đồng ý
bản án sơ thẩm, cho rằng bà không tham gia góp hụi, những người làm chứng do
bà L cung cấp là những người có mối quan hệ họ hàng với bà L, đề nghị không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và
đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo, quan điểm giải quyết: Trên cơ sở tài liệu chứng cứ
có trong hồ sơ, thấy rằng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T và bà C trả số tiền hụi còn thiếu
667.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng được tính từ ngày
20/03/2024 (âm lịch) nhằm ngày 28/04/2024 (dương lịch) đến ngày 26/08/2025
(dương lịch) là 15 tháng 28 ngày số tiền lãi là 88.208.000 đồng.
Bị đơn không đồng ý yêu cầu nguyên đơn vì không tham gia chơi hụi với
nguyên đơn, không nợ tiền, không yêu cầu giám định chữ ký trong giấy giao hụi.
Bản án sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc
bà Nguyễn Thị Băng C và ông Lê Đức T cùng có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị
Ngọc L số tiền hụi 667.000.000 đồng và 88.208.000 đồng tiền lãi, tổng cộng
755.208.000 đồng.
Không đồng ý án sơ thẩm nên bà C kháng cáo.
Xét kháng cáo bà C thấy rằng:
- Đối với dây hụi 30.000.000 đồng khui ngày 15/4/2022 âm lịch: Căn cứ vào
giấy giao hụi ngày 15/8/2022 số tiền 814.700.000 đồng, người hốt bà Nguyễn Thị
Băng C ký tên, nguyên đơn cung cấp được giấy giao hụi bà C ký tên ghi rõ họ tên
người hốt nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền nợ hụi còn thiếu
của dây này là 407.000.000 đồng.
- Đối với dây hụi 10.000.000 đồng khui ngày 10/9/2021 âm lịch: nguyên đơn
cung cấp giấy đăng hụi nhưng bà C không ký tên. Tuy nhiên, có lời khai của người
làm chứng (bà H2): bỏ hụi hốt giùm bà C lần thứ nhất, phù hợp lời khai nguyên
đơn là bà C đã hốt hụi lần thứ nhất, có bà H2 xác định đã bỏ thăm và hốt giùm nên
có căn cứ xác định bị đơn còn nợ tiền hụi của dây này (30.000.000 đồng)
- Đối với dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 20/10/2023 âm lịch: nguyên đơn
cung cấp giấy đăng hụi nhưng bà C không ký tên, bà C không thừa nhận. Lời khai
người làm chứng không thể hiện rõ: không có ai bỏ thăm hụi giùm hay chứng kiến
5
việc bà C bỏ thăm hụi, hốt hụi, nhận tiền hụi, cũng không xác định được bà C hốt
hụi vào thời gian nào. Do đó không có cơ sở để buộc bị đơn trả tiền hụi còn nợ của
dây này.
Như vậy, có cơ sở buộc bị đơn trả số tiền nợ hụi của 2 dây hụi (30.000.000
đồng và 10.000.000 đồng) với tổng số tiền là 437.000.000 đồng.
Quá trình làm việc, phía bị đơn do người đại diện theo ủy quyền trình bày bà
C, ông T không có tham gia hụi và thiếu tiền hụi của bà L nhưng không yêu cầu
giám định chữ ký và chữ viết tên của bà C trong giấy giao hụi ngày 15/8/2022 số
tiền 814.700.000 đồng, người hốt hụi là bà Nguyễn Thị Băng C ký tên, ghi họ tên
đối với dây hụi 30.000.000 đồng, khui ngày 15/4/2022 âm lịch vì cho rằng nghĩa
vụ chứng minh là của nguyên đơn, thấy rằng nguyên đơn đã chứng minh bị đơn
còn nợ tiền hụi chưa đóng bằng sổ theo dõi hụi, giấy giao hụi có chữ ký của bị đơn,
lời khai của người làm chứng, bị đơn cho rằng mình không tham gia chơi hụi và nợ
tiền hụi chưa đóng nhưng không cung cấp chứng cứ, đồng thời cũng không yêu cầu
giám định để phản bác yêu cầu nguyên đơn. Do đó, bị đơn kháng cáo có căn cứ
chấp nhận một phần.
Về lãi chậm thi hành án, bản án tuyên chưa phù hợp nhưng nguyên đơn
không kháng cáo nên không xem xét.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng
cáo của bà C. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản
án sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của TAND khu vực 11, tỉnh Tây
Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Băng C được thực hiện đúng theo
quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận
để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu bà Nguyễn Thị Băng C và ông
Lê Đức T có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ của dây hụi khui ngày ngày 10/9/2021
(âm lịch), ngày 15/4/2022 (âm lịch), ngày 20/10/2023 (âm lịch) với tổng số tiền
667.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng được tính từ ngày
20/03/2024 (âm lịch) nhằm ngày 28/04/2024 (dương lịch) đến ngày 26/08/2025
(dương lịch) là 15 tháng 28 ngày số tiền lãi là 88.208.000 đồng.
Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi
xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Băng C kháng cáo không đồng ý bản án sơ
6
thẩm vì cho rằng bà không tham gia góp hụi, không nợ tiền hụi nên đề nghị không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự còn lại không kháng
cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không
thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên
quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Băng C, thấy rằng:
Bà Nguyễn Thị Ngọc L là thảo hụi, bà L cho rằng bà Nguyễn Thị Băng C có
tham gia chơi hụi do bà L làm thảo. Các dây hụi bà L làm thảo không bị bể hụi,
ngưng hụi. Bà L cho rằng sau khi hốt hụi bà C đóng không đầy đủ hụi chết nên bà
L khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà C, ông T có nghĩa vụ thanh toán tiền hụi chết còn
nợ. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm nguyên đơn, bị
đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt nên Tòa
án không thể tiến hành đối chất giữa các đương sự. Tòa án căn cứ vào các chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án làm căn cứ đánh giá chứng cứ khi giải quyết vụ án.
Chứng cứ bà L cung cấp là danh sách hụi viên do bà L lập không có chữ ký
xác nhận của các hụi viên và một giấy giao tiền hụi, người làm chứng gồm bà Mai
Thị S, bà Trương Thị H1, bà Nguyễn Thị H. Bà C không thừa nhận nhận toàn bộ
trình bày của bà L và cho rằng bà không tham gia góp hụi.
[3.1] Xét dây hụi 10.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/9/2021 âm lịch:
Bà L cho rằng hụi gồm 35 phần, bà C và ông T tham gia 01 phần với tên “C
T” và đã hốt hụi ở kì đầu tiên. Sau đó bà C, ông T đã đóng 31 kỳ thì ngưng không
đóng nữa, còn phải đóng lại 03 kỳ hụi chết với số tiền là 30.000.000 đồng
(3x10.000.000 đồng).
Khi giao hụi do tin tưởng nhau nên bà L không có viết giấy giao hụi, nhưng
có những người tham gia hụi cùng bà C làm chứng gồm bà Mai Thị S, bà Trương
Thị H1 biết việc bà C có tham gia và hốt hụi.
Người làm chứng bà Mai Thị S trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày
22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu thể hiện (BL 39): Bà S có tham
gia hụi do bà L làm thảo. Cùng tham gia với bà C dây hụi 10.000.000 đồng/tháng,
khui ngày 10/9/2021 âm lịch và hụi 30.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/4/2022
âm lịch, gồm 35 phần, bà lấy tên “Dì 5”. Bà C có nhờ bà bỏ thăm giùm bà C để bà
C được hốt dây hụi 30.000.000 đồng/tháng.
Người làm chứng bà Trương Thị H1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày
22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu thể hiện (BL 41): Bà H1 có tham
gia hụi do bà L làm thảo. Cùng tham gia với bà C dây hụi 10.000.000 đồng/tháng,
khui ngày 10/9/2021 âm lịch và hụi 30.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/4/2022
âm lịch, gồm 35 phần, bà lấy tên “H1”. Bà C có nhờ bà bỏ thăm giùm bà C để bà
C được hốt dây hụi 10.000.000 đồng/tháng vào kỳ thứ nhất.
Thấy rằng, nguyên đơn bà L có cung cấp giấy đăng hụi do bà L tự ghi nhưng
bà C không ký tên. Lời khai của bà S, bà H1 xác nhận bà C có tham gia chơi hụi
7
nhưng cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh. Trong khi đó danh sách hụi
viên do bà L tự lập, tự theo dõi không phát cho các hụi viên, nội dung sổ hụi cũng
không thể hiện rõ ràng tên, địa chỉ cư trú của từng hụi viên nên không đủ cơ sở bà
C có tham gia chơi hụi do bà L làm thảo. Những chứng cứ do bà L cung cấp không
đủ chứng minh bà C có tham gia chơi hụi và còn nợ 03 kỳ hụi chết với số tiền
30.000.000 đồng (3x10.000.000 đồng) như bà L trình bày. Do đó không có cơ sở
để buộc bị đơn trả tiền hụi còn nợ của dây này.
[3.2] Xét dây hụi 30.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/4/2022 âm lịch:
Bà L cho rằng hụi gồm 35 phần, bà C và ông T tham gia 01 phần với tên “C
T” và hốt hụi ở kỳ thứ 5. Khi giao hụi bà L có làm giấy giao hụi bà C ký tên ghi rõ
họ tên người hốt. Sau đó, bà C, ông T đã đóng lại được 16 kỳ hụi chết; kỳ hụi thứ
17 bà C chỉ đóng 13.000.000 đồng, còn nợ lại 17.000.000 đồng thì bà C ngưng
không đóng hụi nữa, còn nợ lại dây hụi này thêm 13 kỳ hụi chưa đóng, thành tiền
13 kỳ x 30.000.000 đồng + 17.000.000 đồng = 407.000.000 đồng.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị H trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày
22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu thể hiện (BL 40): Bà có tham gia
hụi do bà L làm thảo. Cùng tham gia với bà C dây hụi 30.000.000 đồng/tháng, khui
ngày 15/4/2022 âm lịch gồm 35 phần và hụi 5.000.000 đồng/tháng, khui ngày ngày
20/10/2023 âm lịch gồm 29 phần, bà lấy tên “Hường”. Bà C có nhờ bỏ thăm hụi, ít
khi đến bỏ thăm.
Xét giấy giao hụi ngày 15/8/2022 số tiền 814.700.000 đồng thể hiện, người
hốt bà Nguyễn Thị Băng C ký tên. Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện
theo ủy quyền của bà C không thừa nhận chữ ký trong giấy giao tiền hụi. Thấy
rằng, bà L là người khởi kiện có nghĩa vụ chứng minh chữ ký xác nhận nhận tiền
giao hụi là của bà C, tuy nhiên bà L không yêu cầu giám định nên không đủ cơ sở
xác định chữ ký trong giấy đăng hụi là của bà C. Mặc khác, giấy đăng hụi này cũng
không có ý nghĩa chứng minh rằng bà C nợ tiền hụi chết 407.000.000 đồng như bà
L trình bày. Người làm chứng bà H xác nhận bà C có tham gia chơi hụi nhưng
không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Trong khi đó danh sách hụi viên do
bà L tự lập, tự theo dõi không phát cho các hụi viên, nội dung sổ hụi cũng không
thể hiện rõ ràng tên, địa chỉ cư trú của từng hụi viên nên không đủ cơ sở bà C có
tham gia chơi hụi do bà L làm thảo. Do đó, không có cơ sở để buộc bị đơn trả tiền
hụi của dây này.
[3.3] Xét dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, khui ngày 20/10/2023 âm lịch:
Bà L cho rằng gồm 29 phần, bà C và ông T tham gia 02 phần với tên “C T”
và đã hốt 02 phần này vào kỳ đầu tiên, đã đóng lại được 5 kỳ hụi chết thì ngưng
không đóng nữa, còn nợ lại 23 kỳ x 5.000.000 đồng x 02 phần = 230.000.000 đồng.
Bà L có viết giấy đăng hụi nhưng do tin tưởng nên chỉ đưa bà C ghi để nhớ ngày
đóng hụi bà C và ông T không có ký tên vào nhưng có những người tham gia hụi
làm chứng
Thấy rằng, bà L có cung cấp giấy đăng hụi nhưng bà C không ký tên, bà C
không thừa nhận. Lời khai người làm chứng không thể hiện việc bà C bỏ thăm hụi,
8
hốt hụi, nhận tiền hụi, cũng không xác định được bà C hốt hụi vào thời gian nào,
bà L không cung cấp được căn cứ nào chứng minh bà C còn nợ tiền hụi như bà L
trình bày. Do đó không có cơ sở để buộc bị đơn trả tiền hụi của dây này.
Từ những phân tích nêu trên, nguyên đơn bà L khởi kiện cho rằng bà C, ông
T còn nợ tiền hụi chết với tổng số tiền 667.000.000 đồng nhưng không được bị đơn
bà C, ông T thừa nhận. Bà L là người khởi kiện nên phải có nghĩa vụ chứng minh
nhưng bà không cung cấp được chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nên
không đủ cơ sở vững chắc để xác định bà C, ông T có tham gia chơi hụi và còn nợ
tiền như nguyên đơn trình bày. Kháng cáo của bị đơn bà C là có cơ sở chấp nhận,
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận một phần đề nghị
của Kiểm sát viên, sửa bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 34.208.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do
yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
Bà Nguyễn Thị Băng C và ông Lê Đức T không phải chịu án phí.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà Nguyễn Thị Băng C được
chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Băng C.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.
Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 147, của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày
19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L về việc
yêu cầu bà Nguyễn Thị Băng C và ông Lê Đức T trả tiền nợ hụi với tổng cộng
755.208.000 (bảy trăm năm mươi lăm triệu hai trăm lẻ tám nghìn) đồng (gồm tiền
hụi 667.000.000 đồng và 88.208.000 đồng tiền lãi).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 34.208.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm. Khấu trừ 15.640.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Ngọc L đã
nộp theo biên lai thu số 0003094 ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành
9
án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Bà L còn phải nộp tiếp 18.568.000 đồng
tiền án phí.
Bà Nguyễn Thị Băng C và ông Lê Đức T không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Băng C không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà C 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006313 ngày 08 tháng 10 năm 2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự:
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 11 - Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 11 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng