Bản án số 78/2026/DSPT ngày 26/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 78/2026/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 78/2026/DSPT ngày 26/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 78/2026/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh N tranh chap quyen su dung dat voi anh T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 78/2026/DS-PT
Ngày: 26/01/2026
V/v tranh chấp: “Quyền sử dụng
đất; Hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất; Hợp đồng mua bán”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Giàu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Huy
Ông Trung Hiếu
- Thư phiên tòa: Phan Thị Kim Loan - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 m 2026 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 858/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 11
năm 2025 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất; Hợp đồng mua bán”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 93/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 8 tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1481/2025/QĐ-PT
ngày 26 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Trần Trọng N, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Số , ấp N Q, xã L V, tỉnh Đồng Tháp.
* Bị đơn:
1. Chị Đoàn Thị Thùy H, sinh năm 1980;
2. Anh Lê Công T, sinh năm 1976;
ng địa chỉ: Số , khóm K N, png S Đ, tỉnh Đồng Tháp.
Ngưi đi din theo y quyn ca b đơn: anh Trn Thanh H, sinh năm 1963.
Địa ch: S /26 đường s11, png L A, tỉnh y Ninh.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2
1. Thi hành án dân sự Đ T;
Trụ sở: Số A, đường R G, phường M T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Nguyễn Quang H Chức vụ: Trưởng phòng thi hành án dân sKhu
vực 8 – Đồng Tháp.
Ông Nguyễn Trúc G Chấp hành viên Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8
Đồng Tháp.
Đa chỉ: S 0 N C T, khóm C Đ, phường S Đ, Đng Tháp
2. Công ty đấu giá hợp danh T Đ Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số 382 N T M K, phường C L, Đồng Tháp.
Ngưi đi diện theo pháp luật: Bà Trn Thị Hồng G Chức vụ: Giám đốc
3. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Khu vực .
Đa chỉ: S 0 N C T, khóm C Đ, phường S Đ, Đng Tháp
Ngưi đại diện theo y quyn: Ông Đỗ Tấn L Chc vụ: Phó giám đốc Chi
nhánh n phòng đăng đất đai Khu vc .
* Ngưi kháng cáo: Bị đơn ch Đoàn ThThùy H và anh Công T.
Bn án sơ thẩm b Vin kiểm sát nhân dân Khu vc tnh Đng Tháp kháng
nghị.
Ông H có mặt tại phn toà, nhng ngưi còn li vng mt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn anh Trần Trọng N trình bày:
Đất tranh chấp nguồn gốc, vào ngày 24/11/2022 anh N trúng đấu giá
theo hợp đồng đấu giá số 68/2022/HĐMBTSĐG-TĐĐT với Chi cục thi hành án
dân sthành phố S Đ (nay Phòng thi hành án dân sự Khu vực ), theo hợp
đồng đấu giá thì anh N trúng đấu giá mua một phần thửa đất số 1492, tờ bản đồ
số 04 (bản đồ 299) được tách thành thửa 1421, tờ bản đồ số 26 (bản đồ lưới tọa
độ), diện tích 216,1m
2
, giá 1.170.750.000 đồng.
Theo đó, ngày 21/12/2022 anh N nộp đủ số tiền trúng đấu giá
1.170.750.000 đồng vào tài khoản số 3751.0.9047578.00000 của Phòng thi hành
án dân sự Khu vực .
Ngày 06/4/2023 Phòng thi hành án Khu vực bàn giao tài sản thửa đất
1421 cho anh Nanh N tiến hành làm hàng rào lưới B40, sau đó cùng ngày thì
anh T tháo dỡ hàng rào lưới B40 nhổ các trụ đá của anh N vào chiếm đất s
dụng mục đích làm giàn trồng hoa kiểng (cụ thể 33 giàn). Khi đó, Công an T
3
K Đ (nay Công an phường S Đ) lập biên bản vi phạm hành chính đối với
anh T các trụ đá, lưới B40 Công an tạm giữ, hiện tại Công an đã giao trả
các tài sản gồm lưới B40 và các trụ đá cho anh N quản lý.
Đối với các trụ đá, lưới B40 mà anh T đã tháo dỡ thì anh N đã khởi kiện vụ
án yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản được Tòa án nhân dân Khu vực giải
quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên anh N
không yêu cầu tranh chấp các trụ đá, lưới B40 anh T đã tháo dỡ của anh
N trong vụ án này.
Anh N yêu cầu chị Đoàn Thị Thùy H, anh Công T di dời tài sản đi nơi
khác trả lại anh N diện tích đất 216,1m
2
tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6,
M7, M8, M9, M10, M1 theo đồ đo đạc ngày 25/12/2024 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố S Đ (nay là khu vực ), thuộc thửa 1421, tờ bản
đồ số 26, đất tọa lạc tại phường S Đ, Đồng Tháp (do anh N đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất). Yêu cầu chị H và anh T bồi thường số tiền sử dụng đất
dựa trên số tiền trúng đấu giá 1.170.750.000 đồng với mức lãi suất 0,83%/tháng,
tính từ ngày 06/4/2023 đến 06/5/2025 là 25 tháng, thành tiền 242.930.000 đồng.
Đối với yêu cầu (phản tố) của chị H, anh T yêu cầu hủy hợp đồng đấu giá
và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh Trần Trọng N đối với
thửa 1421, tờ bản đồ 26, diện tích 216,1m
2
do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai khu vực cấp ngày 23/5/2023 thì anh N không đồng ý, do anh N thực hiện
quy trình đấu giá đúng theo quy định, nộp đầy đủ số tiền trúng đấu giá và anh N
được bàn giao đất ngày 06/4/2023 cũng như được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 23/5/2023.
Trong trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh N thì anh T, chị H tự
di dời các giàn hoa kiểng đi nơi khác, anh N không hỗ trợ chi phí di dời, do anh
T và chị H tự chiếm đất sử dụng, không được sự đồng ý của anh N.
Ngoài ra, không có yêu cầu nào khác.
* Tại đơn khởi kiện phản tố ngày 04/12/2024, bản tự khai, các biên bản lấy
lời khai tại phiên tòa, bị đơn chị Đoàn Thị Thùy H, anh Công T người
đại diện theo ủy quyền anh Trần Thanh H trình bày:
Đất tranh chấp nguồn gốc của cha mẹ anh T tên Văn H, sinh năm
1927 (chết năm 2005), Nguyễn Thị L, sinh năm 1936 (chết năm 2011) quản
sử dụng. Sau khi cha mẹ anh T chết, anh T được thừa kế anh T được Ủy ban
nhân dân thành phố S Đ (nay là Ủy ban phường S Đ) cấp giấy chứng nhận QSD
đất ngày 06/3/2017, thửa 1421, tờ bản đồ số 26, diện tích 216,1m
2
, đất tọa lạc tại
phường S Đ.
Năm 2018 - 2019 anh T có nợ tiền vay của ông Quách Chấn N theo bản án
số 26/2020/DS-ST ngày 11/8/2020 của Tòa án dân nhân Khu vực bản số
120/2021/DS-ST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp theo bản
án phúc thẩm buộc anh T trả cho ông N số tiền vốn vay và lãi suất 934.989.000đ
và bản án có hiệu lực thi hành.
4
Năm 2022, Chi cục thi hành án dân sự thành phố S Đ (nay Phòng thi
hành án dân sự Khu vực ) biên n đấu giá thửa đất 1421 để thi hành số tiền
anh T nợ ông N theo bản án số 120 của Tòa án tỉnh Đồng Tháp người trúng
đấu giá là anh Trần Trọng N, nên số tiền của anh T nợ ông N thi hành án đã thi
hành xong, số tiền sau khi thi hành án còn lại hiện quan thi hành án đang
giữ, anh T, chị H không đồng ý nhận và không yêu cầu tranh chấp số tiền dư
trong vụ án này.
Phòng thi hành án Khu vực biên phát mãi bán đấu giá thửa đất 1421 đ
thi hành khoản nợ anh T nợ ông N là không đúng quy định pháp luật, vì thửa đất
1421 tài sản chung của vợ chồng anh T, chị H nhưng nợ thì theo bản án số
120 của Tòa án Tỉnh thì anh T trách nhiệm trả cho ông N, chH không
trách nhiệm liên đới quan thi hành án lại thi hành phát mãi bán đấu giá
hết thửa đất 1421 tài sản chung của anh T, chị H trong khi chị H không
nghĩa vụ phải liên đới trả nợ với anh T. Theo chị H thì theo quy định chỉ kê biên
phát mãi bán đấu giá ½ thửa đất 1421.
Anh T, chị H không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, thửa 1421
tài sản chung của vợ chồng anh T, chị H mặc anh T nhận thừa kế từ cha mẹ
của anh T nhưng năm 2008 khi chị H sống chung anh T thì chị H trả khoản
nợ của cha mẹ chồng là 10 lượng vàng 24K nên thực tế cha mẹ anh T cho đất vợ
chồng anh T sử dụng chung.
Chị Đoàn Thị Thùy H, anh Lê Công T yêu cầu (phản tố) hủy hợp đồng mua
bán tài sản đấu giá số 68/2022/HDDVĐG-TĐĐT ngày 24/11/2022 giữa Chi cục
thi hành án dân sự thành phố S Đ (nay Phòng thi hành án dân sự Khu vực )
với Công ty đấu giá hợp danh T Đ Đồng Tháp; hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số bìa DK964402 thửa đất 1421, tờ bản đồ số 26, diện tích 216,1m
2
do
Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố S Đ (nay Chi nhánh văn
phòng đăng đất đai Khu vực ) cấp cho anh Trần Trọng N, trả lại đất cho anh
T, chị H.
Ngoài ra, không có ý kiến gì khác.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thi hành án dân sự tỉnh Đồng
Tháp có đơn xin vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến:
Về trình tự thủ tục thực hiện việc kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản
của anh Lê Công T cho người mua trúng giá anh Trần Trọng N đúng quy
định. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
* Công ty đấu giá hợp danh T Đ Đồng Tháp có đơn xin vắng mặt nhưng có
văn bản trình bày ý kiến:
Quy trình tổ chức đấu giá tài sản để thi hành án tài sản do ông Công T
đứng tên, tọa lạc T K Đ, thành phố S Đ (do Chi cục thi hành án dân sự thành
phố S Đ ủy quyền bán đấu giá) thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo Luật Đấu
giá tài sản cụ thể:
5
Ngày 26/10/2022 công ty đấu giá hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản s
75/2022/HĐDVĐG-TĐĐT với Chi cục thi hành án thành phố.
Công ty phát hành thông báo số 71/2022/TBĐGTS-TĐĐT ngày
28/10/2022 trong quá trình thông báo đấu giá thì 02 khách hàng nộp hồ
tham gia đấu giá, kết quả ông Trần Trọng N là khách ng trúng đấu giá tài sản
của anh T một phần thửa đất số 1492, tờ bản s04 tách thành thửa 1421, tờ
bản đồ 26, diện tích 216,1m
2
(CLN) do ông T đứng tên, giá 1.170.750.000 đồng.
Công ty đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra, không
có ý kiến gì khác.
* Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Khu vực đơn xin vắng mặt
nhưng có văn bản trình bày ý kiến:
Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1421, tờ
bản đồ 26, diện tích 216,1m
2
cho anh Trần Trọng N đúng quy định. Ngoài ra,
không có ý kiến gì khác.
* Tại Bản án dân sự thẩm số: 93/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân Khu vực 8 tỉnh Đồng Tháp căn cứ khoản 1 Điu 26,
khon 1 Điu 35, khoản 1 Điu 39, Điu 147, Điu 227, Điu 228 ca Blut t
tng dân sự; Điều 117, Điều 119, Đều 133, Điều 166, Điều 221, Điều 223
Điu 430 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH12 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Tuyên xử:
1- Chấp nhn một phần u cầu khi kin ca nguyên đơn anh Trần
Trọng N.
Buc anh Lê Công T, ch Đoàn Th Thùy H di dời tài sản đi i khác
trả lại diện tích đt 216,1m
2
tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8,
M9, M10, M1 theo đồ đo đạc ngày 25/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai Khu vực XV, thuộc thửa 1421, tbản đồ số 26, đất tọa lạc tại
phường Sa Đéc, Đồng Tháp (do anh N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất) cho anh N quản lý, sử dụng.
(Có biên bn xem xét thm định ti ch đồ đo đạc ngày 25/12/2024
ca Chi nhánh văn phòng đăng đất đai Khu vc kèm theo).
2- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Công T chị Đoàn Thị
Thùy H.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự
theo quy định pháp luật.
* Ngày 01/10/2025 bị đơn chị Đoàn Thị Thùy H anh Công T đơn
kháng cáo yêu cầu:
+ Chị H anh T đồng ý trả nợ cho ông Quách Chấn N, không đồng ý trả
lại đất quan Thi hành án đã biên phần đất diện tích 216,1m2 tại các
mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, 10, M1 theo đồ đo đạc của
6
Chi nhánh văn phòng đất đai khu vực XV thuộc thửa 2421, tờ bản đồ số 26, đất
tọa lạc tại phường S Đ tỉnh Đồng Tháp.
+ Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị H anh T; hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho anh Trần Trọng N.
+ Hủy kết quả bán đấu giá tài sản số 68/2022/HDDVĐG-ĐT ngày
24/11/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự TP. S Đ với Công ty đấu giá hợp
danh T Đ.
+ Chị H yêu cầu làm trác nhiệm của Chi cục thi hành án dân sự TP. S Đ
trong việc kê biên bán đấu giá tài sản mà không mời chị làm việc.
Ngày 07/10/2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 tỉnh Đồng Tháp
quyết định kháng nghị đối với Bản án số 93/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8 tỉnh Đồng Tháp, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa một phần Bản án s
93/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 Đồng Tháp:
+ Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Trần Trọng N về việc yêu cầu ông
Công T Đoàn Thị Thùy H bồi thường số tiền sử dụng đất 242.930.000
đồng.
+ Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Công T bà Đoàn Thị Thùy H về
việc yêu cầu hủy Hợp đồng mua bán đấu giá tài sản số 68/2022/HĐMBTSĐG-
TĐĐT ngày 24/11/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố S ĐCông
ty đấu giá hợp danh T Đ Đồng Tháp.
+ Buộc ôngng T bà Đn Thị Thùy H nộp 300.000 đồng án phí dân
sự sơ thẩm đối với phn yêu cầu của ngun đơn đưc chấp nhn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà; bị đơn giữ
yêu cầu kháng cáo; yêu cầu chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên tòa giữ nguyên
kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư những người tham gia tố tụng từ khi thụ vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu tại
giai đoạn thẩm không đình chỉ không đúng, bị đơn phản tyêu cầu huỷ
hợp đồng mua bán đấu giá tài sản là không có quyền yêu cầu, cần thiết phải đình
chỉ, tính án ptranh chấp quyền sử dụng đất giá ngạch không đúng. Đề
nghị chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn; sữa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, lời trình bày của các đương svà kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
7
ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Hội đồng
xét xử nhận định:
[I]- Diện tích đất tranh chấp có số thửa 1421 diện tích 216,1m
2
do anh Trần
Trọng N đứng tên quyền sử dụng ngày 25/3/2023, do anh N trúng đấu giá theo
hợp đồng đấu giá số 68/2022/HĐMBTSĐG-TĐĐT với Chi cục thi hành án dân
sự thành phố S Đ. Diện tích này được tách ra một phần của thửa đất số 1492
diện tích theo giấy chứng nhận là 1.976m
2
, do anh Lê Công T đứng tên quyền sử
dụng ngày 03/11/2016; sau khi tách ra thì được xác nhận ngày 05/5/2023 có diện
còn lại 636,9m
2
. Nguyên nhân biên đấu giá do anh T phải thi hành bản
án số: 120/2021/DSPT ngày 13/4/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp,
theo đó anh T nghĩa vụ thi hành số tiền 934.989.000 đồng; thủ tục biên,
đấu giá theo quy định.
[II]- Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn kháng nghị của Viện kiểm
sát nhân dân Khu vực 8 cho thấy:
[II.1]- Anh T chị H yêu cầu phản tố tranh chấp Hợp đồng mua bán tài
sản đấu giá giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố S Đ với Công ty đấu giá
hợp danh T Đ, do ảnh hưởng đến quyền lợi đối với diện tích đất bán đấu giá,
không yêu cầu Huỷ kết quả bán đấu giá nên được Tòa án cấp thẩm xem xét
thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật dân sự. Đồng thời, qua xem xét
yêu cầu của anh T và chị H yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp
cho anh N, thì anh N người mua được tài sản đấu giá, diện tích đất chỉ 01
phần của diện tích anh T đứng tên quyền sử dụng, quan thi hành án chỉ
biên 01 phần cho phù hợp tương ứng với số tiền anh T phải nghĩa vụ
thi hành, không biên bán đấu giá toàn bộ, thể hiện qua việc diện tích còn lại
của anh T 636,9m
2
, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị H là vợ của anh
T tài sản chung vợ chồng (nếu có) vẫn còn; trong quá trình thực hiện biên
bán đấu giá chị H không có tranh chấp, không yêu có yêu cầu chia tài sản chung
thi hành án; anh N mua được tài sản đấu giá, được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng phù hợp pháp luật, không có vi phạm của Chi cục thi hành án dân sự
thành phố S Đ. Từ đó, cấp thẩm chấp nhận yêu cầu của anh N, không chấp
nhận yêu cầu phản tố, buộc anh T chị H giao trả diện tích 216,1m
2
cho anh N
là có cơ sở và phù hợp pháp luật.
[II.2]- Đối với kháng nghị về đề nghị Đình chỉ đối với yêu cầu của ông
Trần Trọng N về việc yêu cầu ông Công T bà Đoàn Thị Thùy H bồi
thường số tiền sử dụng đất 242.930.000 đồng: Xem xét anh N có yêu cầu số tiền
này trên sở tính lãi suất 0,83%/tháng của số tiền mua tài sản đấu giá
1.170.750.000 đồng, nhưng do anh N rút lại yêu cầu, cấp thẩm không xem
xét; qua xem xét về nội dung thì số tiền mua tài sản đấu giá có liên quan đến yêu
cầu khởi kiện của anh N quyền sử dụng đất được chấp nhận yêu cầu giao
đất cho anh N, anh N không bị ảnh hưởng quyền lợi, việc ra quyết định Đình chỉ
phần rút yêu cầu số tiền tính lãi suất hay không cũng không làm thay đổi bản
chất nội dung vụ án, pháp luật tố tụng không quy định cấp phúc thẩm phải đình
8
chỉ khi đương sự rút yêu cầu tại giai đoạn thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm
không Đình chỉ đối với phần này.
[II.3]- Đối với yêu cầu kháng cáo của anh T chị H, yêu cầu Huỷ kết quả
bán đấu gtài sản nhưng khi khởi kiện không yêu cầu này, anh T chị H
cũng không quyền khởi kiện yêu cầu Huỷ kết quả bán đấu giá tài sản. Bên
cạnh yêu cầu kháng cáo làm trác nhiệm của Chi cục thi hành án dân sự TP. S
Đ không thuộc trường hợp quy định về quyền khởi kiện, không có cơ sở nên cấp
phúc thẩm không xem xét.
[II.4]- Đối với phần án phí tranh chấp quyền sdụng đất không giá
ngạch, cấp sơ thẩm tính giá ngạch không đúng; theo đó anh T chị H
phải chịu án phí thẩm không giá ngạch vtranh chấp quyền sử dụng đất,
ngoài ra còn phải chịu án phí thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu huỷ
hợp đồng mua bán không được chấp nhận.
[III]- Ý kiến và quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đồng Tháp giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Hội
đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần.
Chị H và anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo qui định.
[III]- Những quyết định khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khon 2 Điều 308; Điêu 309 Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chĐoàn Thị Thùy H
anh Công T uỷ quyền cho ông Trần Thanh H. Chấp nhận một phần kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - tỉnh Đồng Tháp.
Sữa một phần bản án dân sự thẩm số: 93/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 8 - tỉnh Đồng Tháp.
Căn cứ Điều 117, Điều 119, Đều 133, Điều 166, Điều 221, Điều 223
Điu 430 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết s: 326/2016/NQ-
UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
2- Chấp nhn một phần u cầu khi kin ca nguyên đơn anh Trần
Trọng N.
Buc anh Lê Công T, ch Đoàn Th Thùy H di dời tài sản đi i khác
trả lại diện tích đt 216,1m
2
tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8,
M9, M10, M1 theo đồ đo đạc ngày 25/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai Khu vực XV, thuộc thửa 1421, tbản đồ số 26, đất tọa lạc tại
phường S Đ, Đồng Tháp (do anh N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất) cho anh N quản lý, sử dụng.
(Có biên bn xem xét thm định ti ch đồ đo đạc ngày 25/12/2024
9
ca Chi nhánh văn phòng đăng đất đai Khu vc XV kèm theo).
3- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Công T chị Đoàn Thị
Thùy H về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số
68/2022/HDDVĐG-TĐĐT ngày 24/11/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự
thành phố S Đ (nay Phòng thi hành án dân sự Khu vực ) với Công ty đấu giá
hợp danh T Đ Đồng Tháp; Hủy giấy chứng nhận quyền s dụng thửa đất số
1421, diện tích 216,1m
2
do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố S Đ
(nay Chi nhánh văn phòng đăng đất đai Khu vực XV) cấp cho anh Trần
Trọng N, trả lại đất cho anh T, chị H.
4. Về án phí:
4.1- Dân sự sơ thẩm:
Anh Trần Trọng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số
tiền 4.373.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007887 ngày
08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
ChĐoàn Thị Thùy H anh Công T chịu 600.000 đồng án phí dân s
thẩm. được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên
lai thu số 0008027 ngày 09/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố
Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp nên còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
4.2- Dân sự phúc thẩm:
Ch Đoàn Thị Thùy H và anh Công T mỗi người phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm. được cấn trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 0016837 ngày 17/9/2024 của Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp nên xem như thi hành xong về án phí phúc thẩm.
5. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định
của pháp luật tố tụng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trưng hợp bn án đưc thi hành theo quy đnh tại Điu 2 Lut Thi hành án
dân sự, thì ngưi đưc thinh án n sự, người phi thi hành ánn sự có quyền
tho thun thi nh án, quyền u cầu thi hành án, tự nguyn thi nh án hoặc b
cưng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án
dân s; thi hiu thi nh án đưc thc hin theo quy đnh tại Điu 30 Lut Thi hành
án dân s.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 8 Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN-CH TA PHIÊN TÒA
10
Võ Ngc Giàu
Tải về
Bản án số 78/2026/DSPT Bản án số 78/2026/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 78/2026/DSPT Bản án số 78/2026/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất