Bản án số 78/2020/HSPT ngày 19/06/2020 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tội đánh bạc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 78/2020/HSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 78/2020/HSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 78/2020/HSPT ngày 19/06/2020 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tội đánh bạc |
|---|---|
| Tội danh: | 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 78/2020/HSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/06/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 78/2020/HSPT
Ngày: 19/6/2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Anh Dân.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân và Bà Trần Thị Nhài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà
Dương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2020/TLPT-HS
ngày 27 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo Phùng Văn C, do có kháng cáo của bị
cáo C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 08/2020/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
* Bị cáo kháng cáo:
Phùng Văn C; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 04/11/1962;
nơi sinh: Hưng Yên; nơi ĐKHK thường trú: Xóm AL, xã BL, huyện VN, tỉnh Thái
Nguyên; chỗ ở hiện nay: xóm CT, xã BL, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch:
Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
văn hóa: 4/10; con ông: Phùng Văn K, sinh năm 1938; con bà: Lê Thị B, sinh năm
1936; gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Trần Thị B1,
sinh năm 1960; có 02 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1988; tiền án,
tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến ngày 17/01/2020 được
thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
2
Khoảng 14 giờ 00 ngày 15/12/2019 tổ công tác Công an huyện Võ Nhai
nhận được tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp, tại gia đình Phùng Văn C
bán hàng tạp hóa ở xóm CT, xã BL, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên C đang có hành
vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho một số đối tượng trong xã BL. Đến
hồi 17 giờ cùng ngày tổ công tác đã phát hiện bắt quả tang Phùng Văn C đang bán
số đề cho Nguyễn Thành T, sinh năm 1988 và Nguyễn Đức K1, sinh năm 1987
cùng cư trú tại xóm ĐL, xã BL, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. C thừa nhận vừa
thực hiện việc ghi bán số lô, đề cho Nguyễn Thành T và Nguyễn Đức K1 để nhận
tiền thì bị phát hiện đồng thời C đã tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc
ra tổng số tiền 5.870.000 đồng là tiền vừa bán số lô, đề cho T và K1 cùng một số
người khác không biết tên, địa chỉ và lấy ở bậc để chân đầu tiên của chiếc ghế gỗ
kê sát giường ngủ ra 01 quyển vở loại vở học sinh có dòng kẻ, bên trong có ghi
nhiều số bằng mực màu đen và màu đỏ, trang thứ nhất có ghi ngày 14/12 nhiều con
số “đ 61 =10, 69 = 25, 27 =20, 72 = 20, đ 09 = 10, 24 = 20, 34 = 20, đầu 2 = 100,
đầu 5 = 50, đầu 9 =50, 41 = 20, 65 = 20, 69 = 20, 43 = 300, 34 = 100, 22 = 50, 23 =
50, 27 = 10…”. Trang thứ 2 có ghi ngày 15/12 “ 02 = 200, 07 = 100, 70 = 200, 02
= 50, 20 = 50, 44 = 50, 02 = 100, 31 = 100, 11 = 100, 88 = 100, 57 = 10, L 56 = 5,
L 65 = 5, L18 = 50, L81 = 50, L09 = 20, L90 = 20…”; 01 mảnh giấy bìa cứng loại
giấy vỏ bọc của những bao thuốc lá môt mặt có in chữ sẵn, một mặt có ghi các số
khác nhau bằng mực màu đen C đang cầm trong lòng bàn tay phải; 01 điện thoại di
động nhãn hiệu NOKIA. Lấy ra từ mặt bậc cao nhất của chiếc ghế gỗ 02 bút chữ A
màu đen, 03 mảnh giấy bìa cứng giao nộp cho tổ công tác. Nguyễn Đức K1 tự giao
nộp 01 mảnh giấy bìa cứng loại vỏ tút của bao thuốc lá từ trong túi áo ngực bên trái
đang mặc ra một mặt màu đen xám, mặt còn lại ghi nhiều chữ số màu đen. Nguyễn
Thành T lấy ra từ túi áo ngực bên trái đang mặc giao nộp 01 mảnh giấy loại vé máy
bay một mặt có in nhiều chữ và số, mặt còn lại có ghi nhiều chữ số bằng mực màu
đen Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đưa các đối tượng
cùng vật chứng về Công an huyện Võ Nhai để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra phân loại đối tượng ngày 15/12/2019 Cơ quan cảnh sát
điều tra Công an huyện Võ Nhai đã trả tự do đối với Nguyễn Đức K1 và Nguyễn
Thành T do hành vi không cấu thành tội phạm.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai tiến hành khám
xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật đối với Phùng Văn C, kết quả khám xét không thu giữ tài
liệu đồ vật gì có liên quan đến vụ án.
Tại Cơ quan điều tra ban đầu Phùng Văn C đã khai nhận: C bán số lô, số đề
cho người dân sau đó chuyển lại bảng lô, bảng đề cho T1, thường gọi là T1 T2 nhà
3
ở xã DT để hưởng lợi ích chênh lệch. Quá trình xác minh, đấu tranh ghi lời khai
bản thân T1 không thừa nhận việc C chuyển bảng lô, bảng đề cho T1. Cơ quan điều
tra đã tiến hành đối chất giữa C và T1, kết quả đối chất C đã thay đổi lời khai và
khẳng định việc C ghi số lô, số đề là do bản thân C tự bán và trả tiền cho người
mua số lô, số đề để thu lợi nhuận không liên quan đến T1, nên không đủ căn cứ xử
lý đối với T1.
Phùng Văn C đã khai nhận lại, C bắt đầu bán số lô, số đề từ ngày 14/12/2019
cho một số người để thu lợi nhuận. Cách thức bán số lô, số đề như sau: Khi ghi bán
số đề C sử dụng hai số cuối của giải đặc biệt trong kết quả mở thưởng của Công ty
xổ số kiến thiết miền bắc hàng ngày để làm căn cứ xác định số trúng thưởng đề
ngày hôm đó. Đối với số lô C sử dụng hai số cuối của tất cả các giải trong kết quả
mở thưởng của Công ty xổ số kiến thiết miền bắc hàng ngày để làm căn cứ xác
định số trúng thưởng lô ngày hôm đó. Khi có người đến ghi số lô C bán giá
23.000/1 điểm lô. Đối với số đề tùy theo khách hàng muốn mua giá bao nhiêu tiền
thì C thu tiền tương ứng và ghi bán cho khách số đã chọn, khi bán số lô, số đề C ghi
các số của từng khách hàng đã chọn vào một mảnh giấy gọi là (cáp lô, cáp đề) và
giao cho người chơi giữ làm căn cứ đối chiếu khi trúng thưởng, đồng thời C cũng
ghi lại các số khách đã mua vào 01 tờ giấy kẹp bên trong quyển vở học sinh có sẵn
tại quán nhà C để theo dõi. C sử dụng tiền mà khách đã đưa cho C khi mua số đề và
tiền của C để trả cho khách khi có người trúng thưởng, nếu không có ai trúng
thưởng thì C sẽ được hưởng toàn bộ số tiền mà người mua số lô, số đề đã trả cho C.
Trường hợp khách trúng số lô, C trả cho khách 80.000 đồng/1 điểm lô, nếu con số
mà khách mua trúng thưởng được xuất hiện nhiều lần trong các giải khác nhau mà
Công ty xổ số đã mở thưởng thì sẽ được tính tiền số lần xuất hiện lặp lại của số đó
nhân với số điểm đã mua. Trường hợp trúng số đề thì mỗi 1.000 đồng đã sử dụng
để mua số đề thì người chơi sẽ nhận lại được 70.000 đồng.
Với hình thức đánh bạc như trên, ngày 14/12/2019 C đã ghi số lô, số đề cho
một số người không rõ họ tên, địa chỉ với tổng số tiền C nhận được do bán số lô, số
đề là 1.550.000 đồng (49 số đề = 1.205.000 đồng, 03 số lô = 345.000 đồng). Ngày
hôm đó trong bảng đề có một người không rõ họ, tên trúng một con đề với giá
5.000 đồng, số 94 của giải đặc biệt (5.000 x 70.000 đồng = 350.000 đồng) C đã
thanh toán cho người này không rõ họ tên. Ngoài ra không ai trúng thưởng.
Đến ngày 15/12/2019 vào khoảng gần 17 giờ khi C đang ở quán bán hàng thì
có 01 nam thanh niên khoảng 30 tuổi C không biết tên, địa chỉ đến quán và hỏi mua
số lô, số đề. C đã bán cho nam thanh niên này 06 số đề và 02 số lô với tổng giá tiền
là 880.000 đồng, C đã ghi các số lô, số đề người đó mua ra 01 mảnh giấy bìa cứng
4
giao cho người đó làm căn cứ rồi ghi lại các số lô, số đề đã bán vào 1 tờ giấy kẹp
trong quyển vở học sinh mặt sau của tờ giấy C ghi lại các số lô, số đề đã bán ngày
14/12/2019, số tiền nam thanh niên đưa cho C, do lúc đó có khách đến mua hàng
nên C không kiểm tra lại mà cất vào trong túi quần bên trái C đang mặc nên C
không biết số tiền này có đủ 880.000 đồng hay không. Tuy nhiên khi bị bắt C đã
giao nộp cho tổ công tác tổng số tiền bán cho nam thanh niên này chỉ có 370.000
đồng. T đó đến khoảng 17 giờ Nguyễn Đức K1 nhà ở xóm ĐL đã đến quán và mua
của C các số lô, số đề: số lô 30 là 30 điểm; số đề 01, 10,15, 51, 08, 80 mỗi số giá
200.000 đồng, K1 đọc cho C đã ghi chi tiết kèm ký hiệu chữ “L” là số lô và chữ
“đ” là số đề ra một tờ cáp làm bằng bìa tút thuốc lá đưa cho K1 và chép lại vào một
tờ cáp khác bằng bìa tút thuốc lá để theo dõi. Sau ghi ghi xong cho K1, C đã tính
tổng số tiền K1 phải trả C là 1.890.000 đồng, C nhận và kiểm đếm số tiền K1 trả
xong cất vào trong túi quần bên trái C đang mặc, còn K1 đi ra phía ngoài bàn uống
nước tại quầy bán hàng. Lúc này có Nguyễn Thành T nhà ở xóm ĐL đến hỏi mua
số lô, số đề, T đã mua 04 số đề và 04 số lô với số điểm khác nhau: số đề: 02, 31,
11 mỗi số 100.000 đồng, số đề 88 là 80.000 đồng; số lô: 18, 81 mỗi số 50 điểm, số
lô 09, 90 mỗi số 20 điểm, khi T đọc các con số lô và số đề đã mua thì C ghi những
số này vào một tờ vé máy bay và tính tổng số tiền mà T đã mua các số lô, số đề này
là 3.600.000 đồng, sau đó C ghi lại những số lô, số đề mà T đã mua vào một quyển
sổ riêng của C. T lấy số tiền 3.600.000 đồng trả C, C nhận tiền xong và đưa tờ cáp
bằng tờ vé máy bay đưa cho T. Lúc này K1 lại vào bảo C ghi T cho K1 một số đề
57 với giá 10.000 đồng, C đã dùng bút ghi T vào cáp lô, đề mà K1 đang giữ số 57
giá 10.000 đồng và cất toàn bộ số tiền vừa bán số lô, số đề cho T và K1 cùng với số
tiền trước đó bán cho nam thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ vào túi quần bên trái
C đang mặc thì bị Tổ công tác Công an huyện Võ Nhai phát hiện bắt giữ như đã
nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2020/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2020 của
Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51,
Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phùng Văn C 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo
vào trại thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày
15/12/2019 đến ngày 17/01/2020.
Phạt bổ sung bị cáo Phùng Văn C 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung
vào ngân sách Nhà nước.
5
Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng, buộc bị cáo chịu án phí sơ
thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 23/3/2020 bị cáo Phùng Văn C kháng cáo xin được hưởng án treo cải
tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Phần kết luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái
Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm
tội của bị cáo các vấn đề liên quan đến kháng cáo của bị cáo C. Đại diện Viện kiểm
sát xác định: Bị cáo C có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu
và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải, bị cáo là người có công với cách mạng được thưởng Huy chương chiến sĩ
vẻ vang; bị cáo có bố đẻ được thưởng Huy chương kháng chiến. Do vậy xét thấy
không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa
chung. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù là có phần nghiêm
khắc, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền phạt bổ
sung và án phí sơ thẩm, có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa
phương xác nhận bảo lãnh. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357
Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Văn C sửa bản án
hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, giữ
nguyên mức án nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo không tranh tụng gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho
bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phùng Văn C làm trong hạn luật định được
đưa ra xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội xác định: Khoảng 17 giờ ngày 15/12/2019 tại quán
bán hàng tạp hóa của Phùng Văn C thuộc xóm CT, xã BL, huyện VN, tỉnh Thái
Nguyên. Tổ công tác Công an huyện Võ Nhai phát hiện bắt quả tang Phùng Văn C,
sinh năm 1962, cư trú tại xóm AL, xã BL, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên đã có hành
vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Thành T với số tiền
3.600.000 đồng, Nguyễn Đức K1 1.900.000 đồng và 01 nam thanh niên khoảng 30
tuổi số tiền 880.000 đồng, nhưng thực tế khi nhận tiền của nam thanh niên này C
6
không kiểm đếm nên số tiền chỉ có 370.000 đồng giao nộp cho tổ công tác. Tổ công
tác đã thu giữ của C số tiền 5.870.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là
tiền C vừa bán số lô, số đề cho ba đối tượng nêu trên; 01 quyển vở C dùng để ghi
cáp lô, đề; 01 mảnh giấy bìa cứng loại giấy vỏ bọc của những bao thuốc lá môt mặt
có in chữ sẵn, một mặt có ghi các số bằng mực màu đen. Thu giữ của Nguyễn
Thành T 01 mảnh giấy bìa cứng loại giấy bằng vỏ bọc của những bao thuốc lá được
viết bằng mực đen nhiều số và giá tiền mà T vừa mua số lô, số đề của C. Thu giữ
của Nguyễn Đức K1 01 mảnh giấy loại giấy vé máy bay một mặt có in nhiều chữ
số và một mặt được viết bằng mực đen nhiều số và giá tiền mà K1 vừa mua số lô,
số đề của C.
Với hành vi trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc"
theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phùng Văn C thấy rằng: Quá trình điều tra, truy
tố, xét xử sơ thẩm bị cáo C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phạm tội lần
đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người được tặng thưởng Huy
chương chiến sĩ vẻ vang, bị cáo có bố đẻ được thưởng Huy chương kháng chiến
nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 điều 51
BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bản án sơ thẩm đã đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, xem
xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định
hình phạt đối với bị cáo.Tuy nhiên tại mục [4] của bản án sơ thẩm nhận định "Về
vai trò phạm tội trong vụ án: ...bị cáo C là kẻ chủ mưu", là không đúng quy định tại
Điều 17 của Bộ luật hình sự. Bởi vì trong vụ án này hành vi của Nguyễn Thành T,
Nguyễn Đức K1 và một thanh niên không rõ tên chỉ là vi phạm hành chính. Đây là
vụ án chỉ có một mình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, do đó vụ án không có
đồng phạm nên bị cáo không phải là người chủ mưu.
Xét toàn diện vụ án thấy bị cáo C phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền
sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, việc cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tù giam
là quá nghiêm khắc.Quá trình xem xét tại cấp phúc thẩm bị cáo C đã nộp toàn bộ
tiền án phí, tiền phạt bổ sung theo như quyết định tại bản án sơ thẩm, điều đó cũng
thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo. Do vậy bị cáo C có đủ điều kiện để
được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày
15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
Điều 65 BLHS.Vì vậy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị
cáo.
7
[4] Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xét lại.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên
tòa hôm nay là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Văn C. Sửa bản án hình sự sơ
thẩm số 08/2020/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn C 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian
thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phùng Văn C cho Ủy ban nhân dân xã BL, huyện VN, tỉnh Thái
Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm
phối hợp với Ủy ban nhân dân xã BL giám sát và giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
Điều 92 luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Ghi nhận bị cáo Phùng Văn C đã nộp khoản tiền phạt bổ sung và án phí
hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
theo biên lai số 0007967 ngày 24/4/2020 nộp số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm
nghìn đồng) và biên lai số 0007968 ngày 15/6/2020 nộp số tiền 8.000.000đ (tám
triệu đồng).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14. Bị cáo Phùng Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
8
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh; Sở TP; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND huyện Võ Nhai;
- VKSND huyện Võ Nhai;
- Công an huyện Võ Nhai; (đã ký)
- THADS huyện Võ Nhai;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đỗ Anh Dân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/04/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 27/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 22/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 21/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 23-01-2024 của TAND huyện Cẩm Xuyên (TAND tỉnh Hà Tĩnh) về tội đánh bạc
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 19/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 16/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 10/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 27/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 21/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 19/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 15/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 06/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm