Bản án số 78/2020/HSPT ngày 19/06/2020 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 78/2020/HSPT

Tên Bản án: Bản án số 78/2020/HSPT ngày 19/06/2020 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tội đánh bạc
Tội danh: 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 78/2020/HSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 78/2020/HSPT
Ngày: 19/6/2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Anh Dân.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân và Bà Trần Thị Nhài.
- Thư ký phiên tòa: Hoàng Thị Mai Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Dương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 49/2020/TLPT-HS
ngày 27 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo Phùng n C, do có kháng cáo của bị
cáo C đối với bản án hình sự thẩm số 08/2020/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
* Bị cáo kháng cáo:
Phùng Văn C; n gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 04/11/1962;
nơi sinh: Hưng Yên; nơi ĐKHK thường trú: Xóm AL, BL, huyện VN, tỉnh Thái
Nguyên; chỗ hiện nay: xóm CT, BL, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch:
Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Kng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình đ
văn hóa: 4/10; con ông: Phùng Văn K, sinh năm 1938; con : Thị B, sinh năm
1936; gia đình bị cáo 05 anh em, bị o con thứ nhất; vTrần Thị B1,
sinh năm 1960; 02 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1988; tiền án,
tiền sự: Không.
B cáo b tm gi, tm giam t ngày 15/12/2019 đến ngày 17/01/2020 được
thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh. Có mt ti phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
2
Khong 14 gi 00 ngày 15/12/2019 t công tác Công an huyn Nhai
nhận được tin báo ca qun chúng nhân dân cung cp, tại gia đình Phùng Văn C
bán hàng tp hóa xóm CT, BL, huyn VN, tnh Thái Nguyên C đang hành
vi đánh bc bng hình thc ghi s lô, s đề cho mt s đối tượng trong xã BL. Đến
hi 17 gi cùng ngày t công tác đã phát hiện bt qu tang Phùng Văn C đang bán
s đề cho Nguyn Thành T, sinh năm 1988 Nguyễn Đức K1, sinh năm 1987
cùng trú tại xóm ĐL, BL, huyn VN, tnh Thái Nguyên. C tha nhn va
thc hin vic ghi bán s lô, đề cho Nguyn Thành T và Nguyễn Đức K1 để nhn
tin thì b phát hiện đồng thi C đã t giác ly t trong túi qun bên phải đang mặc
ra tng s tiền 5.870.000 đồng tin va bán s lô, đề cho T và K1 cùng mt s
ngưi khác không biết tên, địa ch ly bậc để chân đầu tiên ca chiếc ghế g
sát giường ng ra 01 quyn v loi v hc sinh dòng k, bên trong ghi
nhiu s bng mực màu đen và màu đỏ, trang th nht có ghi ngày 14/12 nhiu con
s “đ 61 =10, 69 = 25, 27 =20, 72 = 20, đ 09 = 10, 24 = 20, 34 = 20, đu 2 = 100,
đầu 5 = 50, đầu 9 =50, 41 = 20, 65 = 20, 69 = 20, 43 = 300, 34 = 100, 22 = 50, 23 =
50, 27 = 10…”. Trang th 2 ghi ngày 15/12 02 = 200, 07 = 100, 70 = 200, 02
= 50, 20 = 50, 44 = 50, 02 = 100, 31 = 100, 11 = 100, 88 = 100, 57 = 10, L 56 = 5,
L 65 = 5, L18 = 50, L81 = 50, L09 = 20, L90 = 20…”; 01 mnh giy bìa cng loi
giy v bc ca nhng bao thuc lá môt mt in ch sn, mt mt ghi các s
khác nhau bng mực màu đen C đang cầm trong lòng bàn tay phi; 01 điện thoi di
động nhãn hiu NOKIA. Ly ra t mt bc cao nht ca chiếc ghế g 02 bút ch A
màu đen, 03 mảnh giy bìa cng giao np cho t công tác. Nguyễn Đức K1 t giao
np 01 mnh giy bìa cng loi v tút ca bao thuc lá t trong túi áo ngc bên trái
đang mặc ra mt mặt màu đen xám, mặt còn li ghi nhiu ch s màu đen. Nguyễn
Thành T ly ra t túi áo ngực bên trái đang mặc giao np 01 mnh giy loi vé máy
bay mt mt in nhiu chs, mt còn li ghi nhiu ch s bng mc màu
đen Tổ công tác đã lập biên bn bắt người phm ti qu tang đưa các đối tượng
cùng vt chng v Công an huyn Võ Nhai để gii quyết theo thm quyn.
Quá tnh điu tra phân loại đối tượng ngày 15/12/2019 Cơ quan cảnh sát
điu tra Công an huyn Nhai đã trả t do đối vi Nguyễn Đức K1 Nguyn
Thành T do hành vi không cu thành ti phm.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điu tra Công an huyn Võ Nhai tiến hành khám
xét khn cấp nơi ở, đ vật đối với Phùng Văn C, kết qu khám xét không thu gi tài
liệu đồ vt gì có liên quan đến v án.
Tại quan điều tra ban đầu Phùng Văn C đã khai nhn: C bán s lô, s đề
cho người dân sau đó chuyển li bng lô, bảng đ cho T1, thường gi T1 T2 nhà
3
DT để ng li ích chênh lệch. Quá trình xác minh, đấu tranh ghi li khai
bn thân T1 không tha nhn vic C chuyn bng lô, bảng đề cho T1. Cơ quan điều
tra đã tiến hành đối cht gia C T1, kết qu đối cht C đã thay đổi li khai
khẳng định vic C ghi s lô, s đề do bn thân C t n tr tiền cho người
mua s lô, s đề để thu li nhuận không liên quan đến T1, nên không đ căn cứ x
lý đối vi T1.
Phùng Văn C đã khai nhận lại, C bắt đầu bán số lô, số đề từ ngày 14/12/2019
cho một số người để thu lợi nhuận. Cách thức bán số lô, số đề như sau: Khi ghi bán
số đề C sử dụng hai số cuối của giải đặc biệt trong kết quả mở thưởng của Công ty
xổ số kiến thiết miền bắc hàng ngày đlàm căn cứ xác định số trúng thưởng đề
ngày hôm đó. Đối với số C sử dụng hai số cuối của tất cả các giải trong kết quả
mở thưởng của Công ty xổ số kiến thiết miền bắc hàng ngày để làm căn cứ xác
định số trúng thưởng ngày hôm đó. Khi người đến ghi số C bán g
23.000/1 điểm lô. Đối với số đtùy theo khách hàng muốn mua gbao nhiêu tiền
thì C thu tiền tương ứng và ghi bán cho khách số đã chọn, khi bán số lô, số đề C ghi
các số của từng khách hàng đã chọn vào một mảnh giấy gọi (cáp lô, cáp đề)
giao cho người chơi giữ làm căn cứ đối chiếu khi trúng thưởng, đồng thời C cũng
ghi lại các số khách đã mua vào 01 tờ giấy kẹp bên trong quyển vở học sinh có sẵn
tại quán nhà C để theo dõi. C sử dụng tiền mà khách đã đưa cho C khi mua số đề và
tiền của C để trả cho khách khi người trúng thưởng, nếu không ai trúng
thưởng thì C sẽ được hưởng toàn bộ số tiền mà người mua số lô, số đề đã trả cho C.
Trường hợp khách trúng số lô, C trả cho khách 80.000 đồng/1 điểm lô, nếu con số
khách mua trúng thưởng được xuất hiện nhiều lần trong các giải khác nhau
Công ty xổ số đã mở thưởng thì sẽ được tính tiền số lần xuất hiện lặp lại của sđó
nhân với số điểm đã mua. Trường hợp trúng số đề thì mỗi 1.000 đồng đã sử dụng
để mua số đề thì người chơi sẽ nhận lại được 70.000 đồng.
Với hình thức đánh bạc như trên, ngày 14/12/2019 C đã ghi số lô, số đề cho
một số người không rõ họ tên, địa chỉ với tổng số tiền C nhận được do bán số lô, số
đề 1.550.000 đồng (49 số đề = 1.205.000 đồng, 03 số = 345.000 đồng). Ngày
hôm đó trong bảng đề một người không họ, tên trúng một con đvới giá
5.000 đồng, số 94 của giải đặc biệt (5.000 x 70.000 đồng = 350.000 đồng) C đã
thanh toán cho người này không rõ họ tên. Ngoài ra không ai trúng thưởng.
Đến ngày 15/12/2019 vào khoảng gần 17 giờ khi C đang quán bán hàng thì
có 01 nam thanh niên khoảng 30 tuổi C không biết tên, địa chỉ đến quán và hỏi mua
số lô, số đề. C đã bán cho nam thanh niên này 06 số đề và 02 số lô với tổng giá tiền
880.000 đồng, C đã ghi các số lô, số đề người đó mua ra 01 mảnh giấy bìa cứng
4
giao cho người đó làm căn cứ rồi ghi lại các số lô, số đề đã bán vào 1 tờ giấy kẹp
trong quyển vở học sinh mặt sau của tờ giấy C ghi lại các số lô, số đđã bán ngày
14/12/2019, số tiền nam thanh niên đưa cho C, do lúc đó khách đến mua hàng
nên C không kiểm tra lại mà cất vào trong túi quần bên trái C đang mặc nên C
không biết số tiền này đủ 880.000 đồng hay không. Tuy nhiên khi bị bắt C đã
giao nộp cho tổ công tác tổng số tiền bán cho nam thanh niên này chỉ 370.000
đồng. T đó đến khoảng 17 giờ Nguyễn Đức K1 nhà ở xóm ĐL đã đến quán mua
của C các số lô, số đề: s30 là 30 điểm; số đề 01, 10,15, 51, 08, 80 mỗi số giá
200.000 đồng, K1 đọc cho C đã ghi chi tiết kèm hiệu chữ “L” số chữ
“đ” là số đề ra một tờ cáp làm bằng bìa tút thuốc lá đưa cho K1 và chép lại vào một
tờ cáp khác bằng bìa tút thuốc để theo dõi. Sau ghi ghi xong cho K1, C đã tính
tổng số tiền K1 phải trả C 1.890.000 đồng, C nhận kiểm đếm số tiền K1 trả
xong cất vào trong túi quần bên trái C đang mặc, còn K1 đi ra phía ngoài bàn uống
nước tại quầy bán hàng. Lúc này Nguyễn Thành T nhà xóm ĐL đến hỏi mua
số lô, số đề, T đã mua 04 số đề và 04 số với số điểm khác nhau: số đề: 02, 31,
11 mỗi s100.000 đồng, số đề 88 80.000 đồng; số lô: 18, 81 mỗi số 50 điểm, số
09, 90 mỗi số 20 điểm, khi T đọc các con số số đề đã mua thì C ghi những
số này vào một tờ vé máy bay và tính tổng số tiền mà T đã mua các số lô, số đề này
là 3.600.000 đồng, sau đó C ghi lại những số lô, số đề T đã mua vào một quyển
sổ riêng của C. T lấy số tiền 3.600.000 đồng trả C, C nhận tiền xong đưa tờ cáp
bằng tờ máy bay đưa cho T. Lúc y K1 lại vào bảo C ghi T cho K1 một số đề
57 với giá 10.000 đồng, C đã dùng bút ghi T vào cáp lô, đề K1 đang giữ số 57
giá 10.000 đồng và cất toàn bộ số tiền vừa bán số lô, số đề cho T và K1 cùng với số
tiền trước đó bán cho nam thanh niên không họ tên, địa chỉ vào túi quần bên ti
C đang mặc thì bị Tổ công tác Công an huyện Nhai phát hiện bắt giữ như đã
nêu trên.
Tại bản án hình sthẩm số 08/2020/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2020 của
Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Tuyên b: B cáo Phùng Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dng: khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, x khon 1 khoản 2 Điều 51,
Điu 38 ca B lut hình s;
X pht: Phùng n C 06 (Sáu) tháng tù, thi hạn được tính t ngày b cáo
vào tri thi hành án, đưc tr đi thời gian b cáo b tm gi, tm giam t ngày
15/12/2019 đến ngày 17/01/2020.
Pht b sung b cáo Phùng Văn C 10.000.000 đng (mười triệu đồng) sung
vào ngân sách Nhà nước.
5
Ngoài ra bản án còn quyết định xử vật chứng, buộc bị cáo chịu án phí
thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 23/3/2020 bị cáo Phùng Văn C kháng cáo xin được hưởng án treo cải
tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Phần kết luận tại phiên a đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái
Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm
tội của bị cáo các vấn đề liên quan đến kháng cáo của bị cáo C. Đại diện Viện kiểm
sát xác định: Bị cáo C nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải, b cáo người công vi cách mạng được thưởng Huy chương chiến
v vang; b cáo b đ được thưởng Huy chương kháng chiến. Do vậy xét thấy
không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa
chung. Tòa án cấp thẩm buộc bị cáo chấp hành hình phạt phần nghiêm
khắc, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền phạt bổ
sung án phí sơ thẩm, đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa
phương xác nhận bảo lãnh. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề
nghị Hội đồng xét x áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357
Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị o Phùng Văn C sửa bản án
hình sự thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nhai, tỉnh Thái Nguyên, giữ
nguyên mức án nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Bcáo không tranh tụng gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho
bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào c tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phùng n C làm trong hạn luật định được
đưa ra xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội xác định: Khong 17 gi ngày 15/12/2019 ti quán
bán hàng tp hóa của Phùng Văn C thuc xóm CT, BL, huyn VN, tnh Thái
Nguyên. T công tác Công an huyn Võ Nhai phát hin bt qu tang Phùng Văn C,
sinh năm 1962, cư trú tại xóm AL, xã BL, huyn VN, tỉnh Thái Nguyên đã có hành
vi đánh bạc bng hình thc bán s lô, s đề cho Nguyn Thành T vi s tin
3.600.000 đng, Nguyễn Đức K1 1.900.000 đồng 01 nam thanh niên khong 30
tui s tiền 880.000 đồng, nhưng thực tế khi nhn tin ca nam thanh niên này C
6
không kiểm đếm nên s tin ch có 370.000 đồng giao np cho t công tác. T công
tác đã thu giữ ca C s tin 5.870.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Vit Nam
tin C va bán s lô, s đề cho ba đối tượng nêu trên; 01 quyn v C dùng đ ghi
cáp lô, đề; 01 mnh giy bìa cng loi giy v bc ca nhng bao thuc lá môt mt
in ch sn, mt mt ghi các s bng mực màu đen. Thu gi ca Nguyn
Thành T 01 mnh giy bìa cng loi giy bng v bc ca nhng bao thuốc lá được
viết bng mực đen nhiều s giá tin T va mua s , s đề ca C. Thu gi
ca Nguyễn Đức K1 01 mnh giy loi giy máy bay mt mt in nhiu ch
s mt mặt được viết bng mực đen nhiều s giá tin K1 va mua s lô,
s đề ca C.
Với hành vi trên Tòa án cấp thẩm đã xét xcác bị cáo v tội “Đánh bạc"
theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phùng Văn C thấy rằng: Quá trình điều tra, truy
t, xét x thẩm b cáo C thành khn khai nhn hành vi phm ti, phm ti ln
đầu thuộc trường hp ít nghiêm trng, b cáo người được tặng thưởng Huy
chương chiến vẻ vang, b cáo có b đẻ được thưởng Huy chương kháng chiến
nên được hưởng các tình tiết gim nh tại điểm i, s, x khon 1 khoản 2 điều 51
BLHS. B cáo không phi chu tình tiết tăng nặng trách nhim hình s.
Bản án thẩm đã đánh giá tính chất v án, mức độ hành vi phm ti, xem
xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, gim nh trách nhim hình s để quyết đnh
hình phạt đối vi b cáo.Tuy nhiên ti mc [4] ca bản án thm nhận đnh "V
vai trò phm ti trong v án: ...b cáo C là k ch mưu", là không đúng quy định ti
Điu 17 ca B lut hình s. Bi trong v án này hành vi ca Nguyn Thành T,
Nguyễn Đức K1 mt thanh niên không rõ tên ch vi phm hành chính. Đây là
v án ch mt mình b cáo thc hin hành vi phm tội, do đó vụ án không có
đồng phm nên b cáo không phải là người ch mưu.
Xét toàn din v án thy b cáo C phm ti lần đầu thuộc trường hp ít
nghiêm trng, có nhiu tình tiết gim nh trách nhim hình sự, chưa có tiền án, tin
s, nhân thân tốt, nơi trú ràng, vic cấp thẩm x pht b cáo giam
quá nghiêm khc.Quá trình xem xét ti cp phúc thm b cáo C đã nộp toàn b
tin án phí, tin pht b sung theo như quyết đnh ti bản án sơ thẩm, điều đó cũng
th hiện thái độ chp hành pháp lut ca b cáo. Do vy b cáo C có đủ điu kiện để
được hưởng án treo theo quy đnh ti Ngh quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày
15/5/2018 ca Hội đồng thm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dn áp dng
Điu 65 BLHS.Vì vậy căn cứ để chp nhận kháng cáo xin ng án treo ca b
cáo.
7
[4] Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xét lại.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên
tòa hôm nay là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Văn C. Sửa bản án hình sự
thẩm số 08/2020/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện
Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; các đim i, s, x khon 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn C 06 (sáu) tháng cho hưởng án treo, thời gian
thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị o Phùng Văn C cho Ủy ban nhân dân BL, huyện VN, tỉnh Thái
Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo trách nhiệm
phối hợp với Ủy ban nhân dânBL giám sát và giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo
Điều 92 luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Ghi nhận bcáo Phùng Văn C đã nộp khoản tiền phạt bổ sung án phí
hình sự thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhai, tỉnh Thái Nguyên
theo biên lai số 0007967 ngày 24/4/2020 nộp số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm
nghìn đồng) và biên lai s0007968 ngày 15/6/2020 nộp số tiền 8.000.000đ (tám
triệu đồng).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14. Bị cáo Phùng Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
8
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh; Sở TP; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND huyện Võ Nhai;
- VKSND huyện Võ Nhai;
- Công an huyện Võ Nhai; (đã ký)
- THADS huyện Võ Nhai;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đỗ Anh Dân
Tải về
Bản án số 78/2020/HSPT Bản án số 78/2020/HSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất