Bản án số 78/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 78/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 78/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 78/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Yên Dũng (TAND tỉnh Bắc Giang) |
| Số hiệu: | 78/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/12/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HuyÖn yªn dòng
TØNH B¾C GIANG
Bản án số: 78/2020/HS-ST
Ngày 23/12/2020.
céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kiên và bà Thân Thị Lụa.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Linh Chi- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tham gia
phiên toà: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh
Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2020/TLST-
HS ngày 18 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
73/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Đào Thanh B, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Trú tại: Tổ dân phố Đ,
thị trấn B, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn
hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con
ông: Đào Duy H, sinh năm 1951 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957; Vợ, Phạm
Thị T, sinh năm 1987 (Đã ly hôn năm 2014) và có 1 con sinh năm 2005.
- Nhân thân:
+ Ngày 26/10/2005, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang ra Quyết định đưa vào
Cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 30/8/2007;
+ Ngày 15/9/2010, bị Công an huyện Yên Dũng xử phạt vi phạn hành chính về
hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền. Ngày 15/9/2010 chấp hành xong.
+ Ngày 10/6/2015 bị Toà án huyện Yên Dũng, Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù
treo về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong bản án;
+ Ngày 14/5/2020, bị cơ quan điều tra Công an Thành Phố Chí Linh, Hải
Dương khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 24/9/2020, bị Toà án nhân dân huyện Quế Võ, Bắc Ninh xử phạt 48
tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”;
- Tiền sự: Không.
2
- Tiền án: Có 02 tiền án:
+ Bản án số 86/2017/HSST ngày 01/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Bản án số 35/2019/HSST ngày 06/03/2019 của Tòa án nhân dân thành phố
Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh theo
lệnh giam của các cơ quan tố tụng huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có mặt tại phiên tòa.
2.Nguyễn Văn C, sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không; Trú tại: Khu Y, phường
C, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá:
9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông:
Nguyễn Văn Khải, sinh năm 1965 (Đã chết) và con bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm
1962; Vợ, con: chưa có.
- Nhân thân:
+ Ngày 14/5/2020, bị cơ quan điều tra Công an Thành Phố Chí Linh, Hải
Dương khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 24/6/2020, bị cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Bắc Giang
khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 24/9/2020, bị Toà án nhân dân huyện Quế Võ, Bắc Ninh xử phạt 16
tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”;
- Tiền án, tiền sự: Không;
Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương
theo lệnh tạm giam của các cơ quan tiến hành tố tụng Thành phố Chí Linh,
tỉnh Hải Dương.
- Người bị hại:
1. Anh Ngụy Văn Tr, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Th, xã L, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
2. Chị Phùng Thị Như Q, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Ch, xã P, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phùng Đức T, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư Y, phường K, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
2. Anh Trần Văn M, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: khu Z, phường C, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
3
Đào Thanh B, và Nguyễn Văn C, quen biết nhau qua các mối quan hệ xã hội và
thường qua lại chơi bời với nhau và cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền
chi dùng cá nhân. Trong khoảng thời gian từ ngày 26/4/2020 đến ngày 30/4/2020, B
và C liên tục thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản của nhiều cá nhân trên địa bàn huyện
Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. B và C đi xe mô tô đèo nhau đi trên đường quan sát, nếu
thấy nhà nào sơ sở, quản lý lỏng lẻo tài sản thì đỗ xe rồi cùng nhau vào trộm cắp. Cụ
thể đã xác định và làm rõ B và C đã thực hiện các vụ trộm cắp tài trên địa bàn huyện
Yên Dũng tỉnh Bắc Giang như sau:
Vụ thứ nhất:
Chiều ngày 25/4/2020, Đào Thanh B hẹn Nguyễn Văn C đi lên nhà anh Phạm Văn
S, sinh năm 1986 ở tổ dân phố X, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang chơi. Đến
khoảng 00 giờ ngày 26/4/2020 B rủ C đi xem có ai để tài sản là xe mô tô sơ hở thì trộm
cắp, C đồng ý. Do anh S là thợ sửa chữa xe mô tô, thấy có một chiếc xe mô tô của khách
gửi để sửa không có biển kiểm soát, B liền hỏi mượn xe mô tô không biển kiểm soát đó
để đi có việc thì được anh S đồng ý. Mượn được xe mô tô, C điều khiển xe mô tô chở B
ngồi phía sau đem theo chiếc ba lô bên trong đựng 01 kìm thủy lực, 01 tô vít, 01 chiếc
vam phá khoá làm phương tiện trộm cắp đi trên đường hướng về thành phố Bắc Giang.
Khi đi đến Cầu Th, xã L, huyện Yên Dũng, B thấy có nhiều nhà ở ven đường. Trong đó
có nhà anh Ngụy Văn Tr ở Thôn Th, xã L, huyện Yên Dũng. B bảo C dừng xe để B đi
vào xem có tài sản thì trộm cắp. Khi B vào đến cổng nhà anh Tr thì phát hiện trong sân
nhà anh Tr có để 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Exciter, BKS 98B2- 383.27
dựng ở ngoài sân. thấy đêm khuya, ít người qua lại, gia đình anh Tr đã đóng cửa và khoá
cổng, B đi ra bảo C cùng vào trộm cắp xe mô tô của anh Tr. B dùng kìm thủy lực đem
theo cắt khóa cổng, mở cổng vào thì thấy bánh xe trước được khóa bằng 01 chiếc khóa
chữ U, B nhấc bánh trước xe lên để C đẩy xe đem ra ngoài cổng sau đó B dùng kìm thủy
lực cắt được khoá để C ngồi lên xe còn B đi xe mô tô mượn của anh S dùng chân đẩy ở
phía sau đi lên hướng huyện Lục Nam. Đi được khoảng 03 Km thì dừng lại cùng nhau
đấu điện, rồi đem chiếc xe mô tô trộm cắp được đến nhà anh Phùng Đức T, ở Khu dân cư
Y, phường K, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương bán cho anh T 10.000.000đ, nhưng
anh T mới trả cho C 2.000.000đồng. Toàn bộ số tiền này B, C đã chi tiêu hết.
Sau khi phát hiện bị mất trộm xe mô tô, anh Tr đã làm đơn trình báo gửi Cơ quan
cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng để điều tra giải quyết.
Tại bản kết luận số 75 ngày 08/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng
huyện Yên Dũng kết luận: Trị giá chiếc xe mô tô B và C trộm cắp của anh Tr trị giá là:
23.345.000đ.
Sau khi mua chiếc xe mô tô của C đem đến bán, anh T mới biết đó là xe do C
trộm cắp mà có nên đã nộp về cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh,
tỉnh Hải Dương để bàn giao cho cơ quan điều tra Công an huyện Yên Dũng tỉnh Bắc
Giang.
Vụ thứ hai:
4
Khoảng 15 giờ ngày 29/4/2020, B đem theo 01 kìm thủy lực, 01 tô vít, 01 vam
phá khoá đựng trong túi dạng ba lô đi từ nhà đến nhà C để rủ C đi trộm cắp xe mô tô,
C đồng ý. C điều khiển chiếc xe mô tô loại xe Exciter là xe trước đó B và C trộm cắp
được ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh kèm B ngồi phía sau đi từ nhà C về huyện Yên
Dũng, Bắc Giang để tìm xem có ai để xe mô tô sơ hở thì vào trộm cắp. Đến khoảng 4 giờ
30 phút ngày 30/4/2020, C và B đi đến khu vực nhà ông Phùng Văn ch, ở thôn Nội, xã Nội
Hoàng, huyện Yên Dũng. Quan sát thấy gia đình ông ch đang sửa chữa nhà, không có
cổng, B bảo C dừng xe đi vào kiểm tra thì C phát hiện thấy trong nhà ngang có dựng 01
chiếc xe mô tô hiệu HONDA - SH Mode, BKS 98B2- 765.05 của chị Phùng Thị Như Q là
con gái ông ch. Thấy cửa nhà ngang khoá, B bảo C lấy 01 thanh sắt cài vào cửa nhà chính
của gia đình ông ch, nhằm mục đích nếu gia đình ông ch có phát hiện thì không ra được,
để B, C có thời gian tẩu thoát, rồi B đứng ở ngoài cảnh giới. C lấy chiếc kìm thủy lực đem
vào cắt khóa cửa nhà ngang vào trong dắt xe ra ngoài ngồi lên xe, còn B điều khiển xe mô
tô của B đi phía sau dùng chân đẩy chiếc xe mô tô đi đến khu vực xã Song Khê, thành phố
Bắc Giang thì B và C dừng lại đấu điện để chiếc xe nổ máy. Sau đó đem xe trộm cắp được
đến bán cho anh Trần Văn M ở khu Z, phường C, thị xã Đông Triều, tỉnh Quang Ninh
được 25.000.000đồng, chia nhau dùng chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất trộm xe mô tô, chị Phùng Thị Như Q đã làm đơn trình
báo gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng để điều tra giải quyết.
Tại bản kết luận số 74 ngày 08/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng
huyện Yên Dũng, kết luận: Trị giá chiếc xe mô tô B và C trộm cắp của chị Q trị giá là
44.237.000đ.
Sau khi mua chiếc xe mô tô của C đem đến bán, anh M biết đó là xe do C trộm cắp
mà có nên đã nộp về cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải
Dương để bàn giao cơ quan điều tra Công an huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.
Ngoài 2 vụ trộm cắp trên, Đào Thanh B và Nguyễn Văn C còn thực hiện nhiều
vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương và tỉnh Bắc Ninh và đã bị cơ quan
điều tra Công an Thành Phố Chí Linh, Hải Dương và cơ quan điều tra Công an huyện
Quế Võ, Bắc Ninh khởi tố. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an Thành Phố
Chí Linh, Hải Dương còn thu giữ được 01 xe mô tô hiệu Honda - Wave alpha, màu
xanh, đen biển kiểm soát 98B2- 740.75 mang tên Phạm Văn Dũng, sinh năm 1976 ở
Liên Sơn, xã Lão Hộ, huyện Yên Dũng. Bản thân anh Dũng khai bị mất trộm từ năm
2019, nhưng anh không trình báo. Quá trình điều tra, Đào Thanh B và Nguyễn Văn C
khai có mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 740.75 của một người không quen
biết, khi mua có giấy đăng ký xe, sau đó đem đến nhà anh M ở khu Y, phường Đ, thị
xã Đông Triều, tỉnh Quang Ninh cắm lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đến tháng 01/2020
anh M đã bán cho anh Cao Văn H, sinh năm 1989 ở khu 1, phường tràng An, thị xã
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Ngoài lời khai chưa có chứng cứ khác, nên cơ quan
điều tra đã tách ra điều tra làm rõ có căn cứ xử lý sau.
5
Trong vụ án này, đối với anh Phùng Đức T và anh Trần Văn M có hành vi mua
xe mô tô trộm cắp của B và C đem đến bán, nhưng khi mua, anh T và anh M không biết
đó là tài sản do C, B trộm cắp mà có. Ngoài lời khai không có chứng cứ khác, nên cơ quan
điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô B và C dùng làm phương tiện đi trộm cắp vụ thứ 2 và
01 kìm thủy lực, 01 tô vít, 01 chiếc vam lục lăng, B và C dùng làm phương tiện trộm
cắp đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thu giữ và
xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Q, anh Tr đã nhận lại toàn bộ tài sản không yêu cầu
bồi thường gì khác. Anh T cũng không yêu cầu bồi thường gì, anh Trần Văn M yêu cầu
bồi thường 25.000.000đ, B và C chưa bồi thường.
Tại cơ quan điều tra Đào Thanh B, Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 63/CT-VKSYD ngày 10 tháng 11 năm
2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Đào Thanh B đã
phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình
sự. Hành vi của Nguyễn Văn C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c
khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ quyền công
tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội mà bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đào Thanh B, Nguyễn Văn C
phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm c, g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1
điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố
tụng hình sự;
Xử phạt: Đào Thanh B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày chấp hành quyết định thi hành án.
Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1
điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố
tụng hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ
ngày chấp hành quyết định thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản đề
nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng vụ án: Tang vật đã trả cho người bị hại, phương tiện và công cụ phạm
tội do cơ quan tiến hành tố tụng huyện Quế Võ thu giữ và xử lý theo quy định do vậy
không đặt ra giải quyết giải quyết.
6
Về trách nhiệm dân sự: Chị Q, anh Tr đã nhận lại toàn bộ tài sản không yêu cầu
bồi thường gì khác. Anh T cũng không yêu cầu bồi thường gì, anh Trần Văn M yêu cầu
các bị cáo bồi thường 25.000.000đ, do vậy cần buộc bị cáo B và C phải liên đới trả cho
anh M 25.000.000đ.
Án phí: Áp dụng: Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a, c khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đào Thanh B và Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí
hình sự sơ thẩm và 625.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Sau khi nghe bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo
không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Yên Dũng, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đảm bảo theo trình tự tố tụng hình sự.
[2] Bằng thủ đoạn đi xe mô trên đường, Trong hai ngày 26/4/2020 và ngày
30/4/2020 trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, Đào Thanh B và Nguyễn
Văn C cùng nhau quan sát, nếu thấy nhà nào sơ sở không có người trông coi, quản lý
tài sản thì dùng kìm cộng lực, tô vít, vam phá khoá đem theo vào cắt khoá cổng, khoá
nhà để thực hiện 02 vụ trộm cắp. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 00 giờ ngày 26/4/2020 B và C dùng xe mô tô đi đến
Thôn Th, xã L, huyện Yên Dũng phát hiện trong sân nhà anh Ngụy Văn Tr có 01
chiếc xe mô tô. Quan sát thấy đêm đã khuya, ít người qua lại, gia đình anh Tr đã đóng
cửa và khoá cổng, B, C cùng đã lén lút dùng kìm thủy lực đem theo cắt khóa cổng, cắt
khoá càng xe chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Exciter, BKS 98B2-
383.27 trị giá 23.345.000đ rồi đem đến nhà anh Phùng Đức T, ở Khu dân cư Y,
phường K, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương bán cho anh T 10.000.000đ, nhưng
anh T mới trả cho C 2.000.000đồng. Toàn bộ số tiền này B, C đã chi tiêu hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 30/4/2020, C và B đi đến khu vực nhà ông
Phùng Văn ch, sinh năm 1960 ở thôn Nội, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc
Giang đã lén lút. Chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô hiệu HONDA - SH Mode, biển BKS
98B2- 765.05 trị giá 44.237.000đ của chị Phùng Thị Như Q là con gái ông ch rồi đem bán
7
cho anh Trần Văn M, ở khu Z, phường C, thị xã Đông Triều, tỉnh Quang Ninh được
25.000.000đồng, chia nhau dùng chi tiêu cá nhân hết.
Tổng trị giá tài sản B và C trộm cắp là 67.582.000đ. Cơ quan điều tra đã thu hồi
được 02 xe mô tô trả lại bị hại;
[3] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với: Thời gian, không
gian, địa điểm xảy ra tội phạm, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các
chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận bị
cáo Đào Thanh B phạm tội: “Trộm cắp tài sản", tội được quy định tại điểm c, g khoản
2 điều 173 của Bộ luật hình sự, Nguyễn Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản", tội
được quy định tại điểm c khoản 2 điều 173 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của
Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến
quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa
phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, các bị cáo đã thực hiện hành vi
với lỗi cố ý trực tiếp, liên tục, ngoài lần phạm tội này các bị cáo còn thực hiện hành vi trộm cắp
ở các địa bàn huyện tỉnh lân cận và đã bị cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, truy tố. Các bị cáo
cùng thực hiện về hành vi chiếm đoạt, bị cáo B đã nhiều lần bị kết án nhưng không lấy đó làm
bài học để cải sửa bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, Điều đó thể hiện các bị cáo coi thường
pháp luật. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ,
hành vi phạm tội của từng bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã
hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân của từng bị cáo thì thấy:
Bị Cáo Đào Thanh B có nhân thân xấu: Ngày 26/10/2005, bị Chủ tịch UBND
tỉnh Bắc Giang ra Quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng. Chấp hành
xong ngày 30/8/2007; Ngày 15/9/2010, bị Công an huyện Yên Dũng xử phạt vi phạn
hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền. Ngày 15/9/2010 chấp hành
xong; Ngày 10/6/2015 bị Toà án huyện yên Dũng, Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù treo
về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong bản án; Ngày 14/5/2020, bị cơ quan điều tra
Công an Thành Phố Chí Linh, Hải Dương khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày
24/9/2020, bị Toà án nhân dân huyện Quế Võ, Bắc Ninh xử phạt 48 tháng tù tội
“Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 02 tiền án: Bản án số 86/2017/HSST ngày 01/12/2017 của Tòa án
nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài
sản”; Bản án số 35/2019/HSST ngày 06/03/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc
Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy lần phạm tội này của bị
cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và là tình tiết định khung được quy định tại
điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn C có nhân thân xấu: Ngày 14/5/2020, bị cơ quan điều tra
Công an Thành phố Chí Linh, Hải Dương khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày
8
24/6/2020, bị cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Bắc Giang khởi tố về tội
“Trộm cắp tài sản”; Ngày 24/9/2020, bị Toà án nhân dân huyện Quế Võ, Bắc Ninh xử
phạt 16 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”.
Xét tính chất, vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm
giản đơn, không có sự phân công, câu kết chặt chẽ với nhau, tuy nhiên bị cáo B là
người dủ rê lôi kéo bị cáo C là người thực hành. B cũng là người thực hành rất tích
cực trong việc thực hiện hành vi phạm tội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo B, C cùng thực hiện 02 hành vi
phạm tội, do vậy các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm
tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên
toà các bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, do vậy cần cho các bị
cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1
điều 51 Bộ luật hình sự khi xem xét lượng hình đối với các bị cáo.
[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công ăn việc làm, không có tài sản,
do vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp
luật.
[6] Xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô B và C dùng làm phương tiện đi trộm cắp vụ thứ 2 và
01 kìm thủy lực, 01 tô vít, 01 chiếc vam lục lăng B và C dùng làm phương tiện trộm
cắp đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thu giữ và
xử lý theo quy định nên không đặt ra giải quyết.
[7] Trách nhiệm dân sự: Chị Q, anh Tr đã nhận lại toàn bộ tài sản không yêu cầu
bồi thường gì khác. Anh T cũng không yêu cầu bồi thường gì, anh Trần Văn M yêu cầu
bồi thường 25.000.000đ, do vậy buộc Đào Thanh B và Nguyễn Văn C phải liên đới bồi
thường cho anh Trần Văn M 25.000.000đ, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh M
12.500.000đ.
[8] Liên quan trong vụ án này có anh Phùng Đức T và anh Trần Văn M có hành
vi mua xe mô tô trộm cắp của B và C đem đến bán, nhưng khi mua, anh T và anh M
không biết đó là tài sản do C, B trộm cắp mà có. Ngoài lời khai không có chứng cứ khác,
nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
[9] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền
kháng cáo theo luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo: Đào Thanh B, Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
9
Áp dụng: Điểm c, g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1
Điều 52; Điều 17; Điều 58, điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố
tụng hình sự;
Xử phạt: Đào Thanh B 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành quyết
định thi hành án.
Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1
Điều 52; Điều 17; Điều 58, điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố
tụng hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày
chấp hành quyết định thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị
cáo.
Vật chứng vụ án: không giải quyết.
Trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 46, 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 589
Bộ luật dân sự.
Buộc Đào Thanh B và Nguyễn Văn C phải liên đới bồi thường cho anh Trần Văn
M 25.000.000đ, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh M 12.500.000đ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án bên phải thi hành
án còn phải chịu lãi suất theo lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ Luật dân sự
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7
a
, 7
b
và 9 Luật thi hành án
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Về án phí: Áp dụng: Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a, c khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án;
Bị cáo Đào Thanh B và Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí
hình sự sơ thẩm và 625.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt
được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
10
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện Yên Dũng;
- Chi cục THA DS huyện Yên Dũng;
- UBND thị trấn Nham Biền;
- UBND P Đức Chính, TX Đồng Triều;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: HSVA- VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Vũ Tân Thịnh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng