Bản án số 73/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 73/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 73/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 73/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung
Bà Đặng Thị Ánh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Thị
Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 523/2025/TLPT-DS ngày 07 tháng 11
năm 2025 về việc “Tranh chp hợp đồng vay”.
Do bản án dân sự thẩm số: 53/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 9 Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 711/2025/QĐ-PT ngày 09
tháng 12 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số: 477/2025/ PT ngày 29
tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Đinh Văn B, sinh năm 1962 (vắng mặt)
2. Bà Huỳnh Thị Tứ T, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre, nay là xã Đ, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của ông B, bà T: ông Phạm Kim C, sinh năm 1972
(xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long. Theo
văn bản ủy quyền ngày 19/11/2024.
3. Ông Huỳnh Văn B1, sinh năm 1968 (vắng mặt)
4. Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre, nay là xã Đ, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của ông B1, bà N: Ông Lê Hữu T1, sinh năm 1984
(có mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 73/2026/DS - PT
Ngày 23 - 01 - 2026
V/v Tranh chp hợp đồng
vay.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Địa chỉ: số E ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, nay là phường A, tỉnh
Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 31/10/2024.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre, nay là xã Đ, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bà T2: Bà Võ Thị Minh T3, sinh năm 1982 (có
mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Vinh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 15/10/2025.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn T4 (Trèo), sinh
năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre nay là xã Đ, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo:Nguyễn Thị T2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai của nguyên đơn ông Đinh Văn B Huỳnh
Thị Tứ T, lời khai của ông Phạm Kim C người đại diện hợp pháp của nguyên đơn
trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Năm 2011, vợ chồng ông Đinh Văn B,
Huỳnh Thị Tứ T cho Nguyễn Thị T2 vay tiền nhiều lần vối tổng số tiền
205.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1.500 đồng/1.000.000 đồng mỗi ngày, tức là
4.5%/tháng, việc trả lãi được thực hiện theo từng ngày, còn tiền vốn thì khi nào ông
B, T cần thì T2 sẽ trả lại. Cụ thể, ông B bà T đã cho T2 vay stiền
205.000.000 đồng thành các lần như sau:
Lần 1: ngày 16/10/2011, T2 vay của ông B, bà T số tiền 40.000.000 đồng;
Lần 2: ngày 20/10/2011, T2 vay của ông B, bà T số tiền 22.000.000 đồng;
Lần 3: ngày 24/10/2011, T2 vay của ông B, bà T số tiền 100.000.000 đồng;
Lần 4: ngày 29/10/2011, T2 vay của ông B, bà T số tiền 40.000.000 đồng;
Lần 5: ngày 07/11/2011, T2 vay của ông B, bà T số tiền 3.000.000 đồng;
Tất cả các khoản tiền vay nêu trên, T2 trả tiền lãi đến ngày 01/12/2011
thì không trả nữa nên sau đó ông B, bà T đã nhiều lần yêu cầu bà trí trả nợ nhưng bà
T2 không trả.
Việc ông Đinh Văn B, Huỳnh Thị Tứ T cho Nguyễn Thị T2 vay tiền
không lập thành hợp đồng chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Ngoài vay tiền của ông B,
T thì T2 còn vay tiền của vợ chồng ông Huỳnh Văn B1, Đỗ Thị N cũng
không trả tiền nên ông B, T ông B1, N cùng đến nhà T2 đòi tiền ghi
âm, ghi hình việc bà T2 thừa nhận việc vay tiền này. Chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là lời thừa nhận nợ của T2 trong đoạn ghi âm, ghi
hình đã giao nộp cho tòa án thời lượng 01 phút 21 giây đoạn ghi âm có thời
lượng 26 phút 07 giây. Cụ thể T2 thừa nhận nợ trong đoạn ghi âm, ghi hình
3
thời lượng 01 phút 21 giây từ đoạn 00 phút 40 giây tới đoạn 00 phút 50 giây nội
dung như sau:
- Bà tuyết nói: không có, bây giờ như vầy nè, bây giờ bà thiếu tui bao nhiêu bà
nhớ không?
- T2 nói: thì 200 lẻ my triệu đó
- T nói: tui là 205 triệu
- T2 nói: ừa”
Nay nguyên đơn ông Đinh Văn B Huỳnh Thị Tứ T yêu cầu Nguyễn
Thị T2 trả cho ông B, bà T số tiền tổng cộng 407.950.000 đồng. Trong đó gồm
tiền nvay gốc 205.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 22/7/2014 tạm tính đến
ngày 22/7/2025 với mức lãi suất 0.75%/tháng là 202.950.000 đồng.
Theo đơn khởi kiện, các lời khai của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B1, Đỗ
Thị N, lời khai của Lê Hữu T1 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong quá
trình giải quyết vụ án trình bày: Vào ngày 21/9/2011, vợ chồng ông Huỳnh Văn B1,
Đỗ Thị N cho Nguyễn Thị T2 vay số tiền 351.000.000 đồng, lãi suất thỏa
thuận 1.500 đồng/1.000.000 đồng mỗi ngày, tức 4.5%/tháng, việc trả lãi được
thực hiện theo từng ngày, còn tiền vốn thì khi nào ông B, T cần thì T2 sẽ trả
lại. Khi ông B1 N yêu cầu T2 chồng của T2 ông Phạm Văn T5 trả
tiền vốn, tiền lãi thì T2, ông T5 chỉ trả được 1.000.000 đồng tiền vốn. Việc ông
Huỳnh Văn B1, ĐThị N cho Nguyễn Thị T2 vay tiền không lập thành hợp
đồng chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Ngoài vay tiền của ông B1, N thì bà T2 còn
vay tiền của vợ chồng ông Đinh Văn B, Huỳnh Thị Tứ T cũng không trả tiền
nên ông B1, N và ông B, T cùng đến nhà T2 đòi tiền ghi âm, ghi hình
việc bà T2 thừa nhận việc vay tiền này. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn lời thừa nhận nợ của T2 trong đoạn ghi âm, ghi hình đã nộp
cho Tòa án thời lượng 01 phút 21 giây đoạn ghi âm thời lượng 26 phút 07
giây. Cụ thể là bà T2 thừa nhận nợ trong đoạn ghi âm, ghi hình có thời lượng 01 phút
21 giây từ đoạn 00 phút 57 giây tới đoạn 01 phút 18 giây có nội dung như sau:
- N nói: nè bà thy không, nè, 300 nè
- T nói: đó, để lâu quá rồi quên
- N nói: đây 351, bà trả 1 triệu lẻ nè
- T2 nói: trả 1 triệu lẻ chưa gạch phải không
- N nói: thì đây nè, ghi 1 triệu nè, ghi trong miếng giy nè, thy không
- T2 nói: ừa
- N nói: trả 1 triệu nè, còn 350 nè, thy không, này 300 nè, này 351
trả 1 triệu còn 350 nè
- T2 nói: ừa, mà giờ bà chịu lên trển thì tui…
4
Nay nguyên đơn ông Huỳnh Văn B1, Đỗ Thị N khởi kiện yêu cầu
Nguyễn Thị T2 chồng bà T2 ông Phạm Văn T5 liên đới trả nợ. Tuy nhiên, theo
đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đề ngày 25/8/2025 của ông Hữu T1 thì nguyên
đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Phạm Văn T5 (Tèo) liên đới
trả nợ. Ông Huỳnh Văn B1 Đỗ Thị N yêu cầu Nguyễn Thị T2 trả số tiền
tổng cộng 696.500.000 đồng. Trong đó gồm tiền nợ vay gốc 350.000.000
đồng tiền lãi từ ngày 22/7/2024 tạm tính đến ngày 22/7/2025 với mức lãi suất
0.75%/tháng là 346.500.000 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T2 trình bày:Bà và vợ chồng ông B, bà T, vợ chồng ông
B1, bà N quen biết do đi chợ gặp nhau. Vchồng ông B1, N kinh doanh giày
dép, quần áo còn vợ chồng ông B, T kinh doanh tiệm vàng chợ B2, huyện M,
giữa hai bên không có quan hệ vay mượn gì cả. Cụ thể là không có nợ của ông B,
T số tiền 205.000.000 đồng, cũng không nợ ông B1, N số tiền 350.000.000
đồng vì vậy bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Đối với đoạn ghi âm thời lượng 26 phút 07 giây đoạn ghi hình, ghi âm
thời lượng 01 phút 21 giây nguyên đơn cung cấp đã được nghe bà công
nhận là đoạn nói chuyện giữa bà và ông Đinh Văn B, bà Huỳnh Thị Tứ T, bà Đỗ Thị
N cho nên không cần thiết phải giám định giọng nói của bà, cũng không yêu cầu
giám định đoạn ghi âm thời lượng 26 phút 07 giây đoạn ghi hình, ghi âm
thời lượng 01 phút 21 giây nêu trên cắt ghép, chỉnh sửa hay không.Việc các
nguyên đơn khởi kiện bà không giấy nợ, không có chứng cứ nào khác thể hiện
có nợ các nguyên đơn số tiền trên. Vì vậy, bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
các nguyên đơn. Nếu các nguyên đơn chứng minh được trực tiếp nhận tiền,
hình ảnh bà nhận tiền, có giấy tờ rõ ràng thì bà mới đồng ý.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T6 (Trèo) trình bày:
Ông hoàn toàn không biết gì về việc vay mượn giữa vợ ông là bà Nguyễn Thị T2 với
các nguyên đơn Đinh Văn B, Huỳnh Thị Tứ T Huỳnh Văn B1, Đỗ Thị N nên ông
không đồng ý đối với các yêu cầu của các nguyên đơn.
Tại bản án dân sự thẩm số: 53/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 Quyết
định sửa chữa, bổ sung bản án số: 44/2025/QĐ SCBSBA ngày 17/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 9 – Vĩnh Long đã quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Đinh Văn B,
Huỳnh Thị Tứ T ông Huỳnh Văn B1, Đỗ Thị N đối với bị đơn Nguyễn
Thị T2 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, cụ thể tuyên:
Buộc Nguyễn Thị T2 trả ông Đinh Văn B, Huỳnh Thị Tứ T số tiền vay
còn ntổng cộng 407.950.000 đồng. Trong đó gồm: tiền nợ gốc 205.000.000
đồng và tiền lãi là 202.950.000 đồng.
5
Buộc Nguyễn Thị T2 trả ông Huỳnh Văn B1, Đỗ Thị N số tiền vay còn
nợ tổng cộng là 696.500.000 đồng. Trong đó gồm: tiền nợ gốc là 350.000.000 đồng
và tiền lãi là 346.500.000 đồng.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B1,
Đỗ Thị N về việc yêu cầu ông Phạm Văn T6 (Trèo) nghĩa vụ liên đới trả nợ
cùng bà Nguyễn Thị T2.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ chậm thi hành
án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, bị đơn Nguyễn Thị T2 kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Hữu T1 người đại diện hợp pháp
của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B1, Đỗ Thị N không rút yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn; bị đơn Nguyễn Thị T2, Thị Minh T3 người đại diện hợp
pháp của T2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của T2. Các đương sự không thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư đã tiến hành đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: Tại đoạn video thời lượng
01 phút 21 giây trong đĩa CD đoạn ghi âm thời lượng 26 phút 07 giây trong
USB thể hiện nội dung Nguyễn Thị T2 thừa nhận nợ ông Đinh Văn B,
Huỳnh Thị Tứ T số tiền vay 205.000.000 đồng; nợ ông Huỳnh Văn B1, bà Đỗ Thị N
số tiền vay 350.000.000 đồng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/10/2024, biên bản
lấy lời khai ngày 24/7/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay T2 thừa nhận các
đoạn ghi âm, ghi hình trên cuộc nói chuyện giữa T2 với vợ chồng ông B, T,
vợ chồng ông B1, bà N. Do đó, có cơ sở khẳng định bà T2 có nợ ông Đinh Văn B, bà
Huỳnh Thị Tứ T số tiền vay 205.000.000 đồng; nợ ông Huỳnh Văn B1, bà Đỗ Thị N
số tiền vay 350.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của bà T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hsơ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Phạm Kim C người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn ông Đinh Văn B, Huỳnh Thị Tứ T vắng mặt nhưng đơn
6
xin xét xử vắng mặt; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T4
vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ. Phiên tòa hôm nay phiên tòa mở lần thứ
hai nên căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng
mặt đương sự trên.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T2, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại
biên bản lấy lời khai ngày 18/10/2024 (BL 374), biên bản lấy lời khai ngày
24/7/2025 (BL 456) tại phiên tòa phúc thẩm m nay, T2 thừa nhận đã được
xem nghe đoạn video thời lượng 01 phút 21 giây trong đĩa CD (bên ngoài đĩa
có hiệu CD-R 700MB/80min, có ghi chữ Đinh Văn B), đoạn ghi âm có thời lượng 26
phút 07 giây trong USB (bên ngoài ch4GB TOSHIBA) do nguyên đơn cung
cấp, T2 thừa nhận các đoạn ghi âm, ghi hình trên cuộc nói chuyện giữa T2
với vợ chồng ông B, T, vợ chồng ông B1, N. Tại đoạn video thời lượng 01
phút 21 giây trong đĩa CD (bên ngoài đĩa hiệu CD-R 700MB/80min, ghi chữ
Đinh Văn B) và đoạn ghi âm có thời lượng 26 phút 07 giây trong USB (bên ngoài
chữ 4GB TOSHIBA) có nội dụng:
“…
- T nói: không có, bây giờ như vầy nè, bây giờ bà thiếu tui bao nhiêu
nhớ không?
- T2 nói: thì 200 lẻ my triệu đó
- T nói: tui là 205 triệu
- T2 nói: ừa”
- N nói: nè bà thy không, nè, 300 nè
- T nói: đó, để lâu quá rồi quên
- N nói: đây 351, trả 1 triệu lẻ nè
- T2 nói: trả 1 triệu lẻ chưa gạch phải không
- N nói: thì đây nè, ghi 1 triệu nè, ghi trong miếng giy nè, thy không
- T2 nói: ừa
- N nói: trả 1 triệu nè, là còn 350 nè, thy không, này 300 nè, này 351 nè
trả 1 triệu còn 350 nè
- T2 nói: ừa, mà giờ bà chịu lên trển thì tui
…”
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Thị Minh T3 người đại diện hợp
pháp của T2 cho rằng chữ số 350 350.000 đồng; 351 351.000 đồng; 300
300.000 đồng nên cho rằng bà T2 không nợ tiền vay của các nguyên đơn như các
nguyên đơn yêu cầu.
7
Hội đồng xét xử xét thấy, qua nội dung các đoạn ghi âm, ghi hình thể hiện như
trên đã sở khẳng định bà Nguyễn Thị T2 thừa nhận nợ Huỳnh Thị Tứ T
số tiền 205.000.000 đồng thừa nhận nợ Đỗ Thị N số tiền 350.000.000 đồng.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị T2 trả ông Đinh Văn B, Huỳnh Thị
Tứ T số tiền nợ vay 205.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 22/7/2014 đến ngày
22/7/2025 với số tiền 202.950.000 đồng; buộc Nguyễn Thị T2 trả ông Huỳnh
Văn B1, Đỗ Thị N số tiền nợ vay 350.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày
22/7/2014 đến ngày 22/7/2025 với số tiền 346.500.000 đồng căn cứ đúng
pháp luật. Do đó, kháng cáo của bà T2 là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích phần trên, Hội đồng xét
xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Nguyễn Thị T2 phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm T2 đã nộp theo biên lai số 0002818 ngày 16/9/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T2.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 53/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm
2025 Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số: 44/2025/QĐ SCBSBA ngày
17/9/2028 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 Vĩnh Long.
Áp dụng các điều 471, 474, 476 và Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Áp dụng các điều 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dng Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
ca Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý
và s dng án phí và l phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Đinh Văn B,
Huỳnh Thị Tứ T, ông Huỳnh Văn B1, bà Đỗ Thị N.
Buộc Nguyễn Thị T2 trả cho ông Đinh Văn B, Huỳnh Thị TT số tiền
nợ vay 407.950.000 đồng. Trong đó gồm: Tiền nợ gốc 205.000.000 đồng tiền
lãi là 202.950.000 đồng.
Buộc Nguyễn Thị T2 trả cho ông Huỳnh Văn B1, Đỗ Thị N số tiền nợ
vay 696.500.000 đồng. Trong đó gồm: Tiền nợ gốc là 350.000.000 đồng và tiền lãi là
346.500.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi
8
hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tướng ứng với thời gian chưa thi
hành án.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Nguyễn Thị T2 phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm T2 đã nộp theo biên lai số 0002818 ngày 16/9/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị,
không bị cải sửa có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 9 – Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Tải về
Bản án số 73/2026/DS-PT Bản án số 73/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 73/2026/DS-PT Bản án số 73/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất