Bản án số 71/2020/HS-ST ngày 21/08/2020 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 71/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 71/2020/HS-ST ngày 21/08/2020 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Quỳnh Phụ (TAND tỉnh Thái Bình)
Số hiệu: 71/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 71/2020/HS-ST
Ngày 21-8-2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Túy
2. Bà Nguyễn Thị Huề
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi Thư ký
Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham
gia phiên toà: Nguyễn Thị Vân Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ,
tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2020/TLST-HS
ngày 31 tháng 7 năm 2020, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2020/QĐXXST-
HS ngày 10 tháng 8 năm 2020 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh ngày 23/6/1996 tại T, huyện H1, tỉnh Thái Bình;
nơi trú: Thôn N, xã T, huyện H1, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do;
học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1972 bà: Lưu Thị N1, sinh năm
1973; b cáo chưa v, con; tiền sự: Không; tiền án: Bn án s 92/HSST ngày
01/12/2016 Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phạt 01 năm 6 tháng
v tội “Trộm cp tài sản” theo khon 1 Điều 138 B lut Hình s 1999, ngày
11/02/2018 chp hành xong hình pht tù; bn án s 19/2019/HSST ngày 29/3/2019
Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phạt 01 m 3 tháng về ti
“Trộm cp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 B lut Hình s 2015, ngày 19/3/2020
chp hành xong hình pht tù; nhân thân: Ngày 14/7/2011 Công an huyện Mai Sơn,
tỉnh Sơn La pht hành chính v hành vi trm cp tài sn; ngày 22/10/2013 Công an
huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình pht hành chính v hành vi trm cp tài sn; bn
án s 25/HSPT ngày 08/4/2014 Tòa án nhân dân tnh Thái Bình pht 06 tháng
v tội Trộm cp tài sản”; bị bắt tạm giam từ ngày 24/5/2020 cho đến nay, hiện
đang btạm giam tại Nhà tạm giCông an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (có mt).
2
- Bhại: Ch Thị N2, sinh năm 1983; i trú: Thôn Đ, Q, huyện P,
tỉnh Ti Bình (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 16/5/2020, Nguyễn Văn H điều
khiển xe nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen - vàng, không đeo biển
kiểm soát, đi từ nhà sang xã Q, huyện P, tỉnh Thái Bình mục đích trộm cắp tài sản.
Khi đi qua nhà chị Vũ Thị N2 thôn Đ, xã Q thấy cổng khép không khóa, cửa nhà
mở, trong nhà không người, xung quanh vắng vẻ, Nguyễn Văn H nảy sinh ý
định vào nhà chị N2 trộm cắp i sản. H dựng xe ngoài cổng, mở then cổng đi
vào trong nhà, thấy trên mặt bàn học trong phòng ngủ để 01 chiếc máy tính xách
tay nhãn hiệu Lenovo, màu đen đang sạc pin; 01 chuột quang dây màu đen - da
cam được cắm với máy tính, liền dùng tay phải rút dây sạc pin ra khỏi điện,
cuộn lại cùng với chuột máy tính để lên mặt máy tính rồi bê ra cổng ngồi lên xe,
đặt bộ máy tính lên đùi trái, tay trái giữ máy tính, tay phải đề nổ máy và điều khiển
xe đi đến quán sửa chữa điện thoại di động của anh Nguyễn Văn Đ1thôn
T1, L, huyện H1gửi chiếc máy tính trộm cắp được. Sau đó, H đi tìm người mua
máy tính nhưng chưa tìm được thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ triệu tập lên làm
việc.
Ny 20/5/2020, Cơ quan cnh sát điều tra Công an huyn Quỳnh Phụ đã quản lý
01 chiếc máy nh ch tay nn hiệu Lenovo màu đen, 01 dây sạc pin màu đen, 01
chuột quang máy tính có dây màu đen - da cam do anh Nguyễn Văn Đ1giao nộp.
Biên bản kết luận định giá tài sản ngày 22/5/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự huyện Quỳnh Phụ kết luận: 01 chiếc máy tính xách tay,
nhãn hiệu Lenovo màu đen trị giá 2.500.000 đồng; 01 dây sạc máy tính xách tay trị
giá 160.000 đồng; 01 chuột máy tính có dây màu đen - da cam trị giá 40.000 đồng,
tổng cộng là 2.700.000đ (Hai triu bảy trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo khai: Do nghiện ma túy nên sáng ngày 16/5/2020, bị
cáo đã vào nhà chị Thị N2 lấy một máy nh xách tay cùng sạc pin chuột
quang máy tính, mục đích mang bán lấy tiền chi tiêu nhân, nhưng chưa tìm
được người mua thì bị phát hiện. B cáo nhất trí kết luận của Hội đồng định giá tài
sản định giá máy tính, sạc pin chuột quang 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm
nghìn đồng).
Lời khai của bị hại chị Thị N2 có trong hồ vụ án thể hiện: Chiều
ngày 16/5/2020, chị đi làm về thì thấy bị mất 01 máy tính xách tay, sạc pin
chuột máy tính chị để trong phòng ngủ. Chị mở camera giám sát của gia đình kiểm
tra thì phát hiện: Hồi 10 giờ 05 phút cùng ngày một nam thanh niên đã vào nhà
3
chị lấy đi số tài sản trên; chị đã trình báo sự việc với Công an huyện Quỳnh Phụ.
Ngày 25/5/2020, chị đã được quan Điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ trả lại
toàn bộ số tài sản trên, chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về trách nhiệm
dân sự và đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 73/CT-VKSQP ngày 30/7/2020 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm
cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên
quyết định truy tố đối với bị o về tội Trộm cắp tài sảnđề nghị: Áp dụng
điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 Điều 38 B luật
Hình sự, phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tính từ ngày
24/5/2020; không áp dng hình pht b sung là phạt tiền đi vi bị cáo; về tch nhim
dân sự kng đặt ra gii quyết; v án p: Bị cáo phải chu án phí nh sự sơ thm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình xin
giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan Cảnh sát Điều tra Công an
huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật Ttụng hình sự. Bị o bhại không có ý kiến
hoặc khiếu nại vnh vi, quyết định của quan tiến nh ttụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận
sáng ngày 16/5/2020, bị cáo đã vào nhà chVũ Thị N2 trộm cắp 01 máy tính xách
tay, 01 dây sạc máy tính và 01 chuột máy tính; bị cáo nhất trí với kết luận của Hội
đồng định gtài sản vtrị giá bmáy nh bcáo đã lấy của chị N2. Bị cáo đã đủ
tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình
vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm
quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm
trật tự an toàn xã hội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của
bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã tả
được chứng minh bằng lời khai của bị hại; trích xuất camera lắp đặt tại nhà ch
4
Thị N2; đồ hiện trường; biên bản tạm giữ đồ vật; biên bản định gtài sản
cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 16/5/2020, lợi dụng sự sơ hở của chị Vũ Thị N2 đi làm không
khóa cổng, cửa, bị cáo đã vào nhà chN2 tn Đ, Q, huyện P lấy đi 01 chiếc
máy tính xách tay, nhãn hiệu Lenovo màu đen trị giá 2.500.000 đồng; 01 dây sạc máy
nh xách tay trị giá 160.000 đồng; 01 chuột máynh có dây màu đen - da cam trị giá
40.000 đồng, tổng giá trị tài sản 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đng). Do bị
o đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cý,
do đó hành vi của bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sảnvới tình tiết định khung
Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến
dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm
đến 07 năm:
...
g) Tái phạm nguy hiểm”
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố và kết
luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sảntheo quy định tại điểm g
khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Lợi
dụng sự sơ hở chsở hữu trong việc quản tài sản, bị cáo đã thực hiện hành vi
trộm cắp tài sản, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày, trong khu vực
dân điều đó cho thấy stáo bạo, liều lĩnh; tuy tuổi đời còn trẻ nhưng bị cáo là
đối tượng nghiện ma túy, không chịu lao động, mặc dù đã nhiều lần bị kết án và xử
phạt hành chính cùng về hành vi trộm cắp tài sản, được pháp luật giáo dục, cải tạo
nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để sửa đổi, lại tiếp tục phạm tội, hành vi của
bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp
dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báotheo quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
5
[5] Qua phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình s thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù thời hạn, cách
ly bị cáo khỏi đời sống hội với mức án tương xứng hành vi bị cáo đã gây ra để
pháp luật cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân ích cho xã hội
tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
Ngưi phm ti còn có th b pht tin t 5.000.000 đng đến 50.000.000 đng.”, như vậy
bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài
liệu, chứng cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo lao động tự do
thu nhập thấp, không tài sản riêng, vậy Hội đồng xét x quyết định không áp
dụng nh pht bổ sung là phạt tiền đi với bcáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị o trộm cắp của chị Vũ Thị N2 01 máy tính
ch tay, 01 dây sạc y nh 01 chuột máy tính. quan điều tra đã ra quyết
định xử vật chứng trả lại tài sản trên cho chị N2, chị N2 đã nhận lại tài sản,
không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác, do đó về trách nhiệm
dân sự trong vụ án này không đặt ra giải quyết.
[8] Đối với chiếc xe nhãn hiệu Yamaha Sirius không đeo biển kiểm
soát, không giấy đăng xe mà bị cáo sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài
sản, bị cáo khai mua của một người không biết tên, địa chỉ vào tháng 5/2020 tại
khu vực cầu D, huyện H1giá 3.000.000 đồng. Kết quả điều tra không xác định
được số khung, số máy của xe, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử
lý sau.
[9] Đối với anh Nguyễn Văn Đ1, khi cho bị cáo gửi chiếc máy tính xách tay,
chuột máy nh bộ sạc anh không biết đó tài sản do bị cáo trộm cắp có.
Sau khi biết những i sản trên tài sản trộm cắp, anh đã tự nguyện giao nộp cho
quan điều tra, quan điều tra không xử đối với anh phù hợp với quy
định của pháp luật.
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Bcáo và bhại đưc quyền kháng o bn án theo quy định của pháp lut.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50
Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng
tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2020.
6
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị oquyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án; bị hại quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể tngày
nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
Nơi nhận
- Bị cáo;
- Bị hại;
- VKSND huyện Quỳnh Phụ;
- VKSND tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan CSĐT CA huyện Quỳnh Phụ;
- Cơ quan THAHS CA huyện Quỳnh Phụ;
- Sở Tư pháp Thái Bình;
- Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
- UBND xã T, huyện H1;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hƣơng Liên
Tải về
Bản án số 71/2020/HS-ST Bản án số 71/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất