Bản án số 69/2022/HS-PT ngày 22/04/2022 của TAND tỉnh Long An về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 69/2022/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 69/2022/HS-PT ngày 22/04/2022 của TAND tỉnh Long An về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Long An
Số hiệu: 69/2022/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/04/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
Bản án số: 69/2022/HS-PT
Ngày: 22-4-2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Huỳnh Thị Phượng
Các Thẩm phán: Ông Dương Ngọc Thành
Ông Nguyễn Thiện Tâm
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Dương Phát Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại điểm cầu của Toà án nhân dân tỉnh Long
An và điểm cầu của Tòa án nhân dân huyện C xét xử trực tuyến công khai vụ án
hình sự phúc thẩm thụ số 33/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2022, do
kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số
01/2022/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh
Long An.
- Bo kháng cáo: Nguyễn Văn Ngọc L, sinh ngày 20/10/2000. Nơi
trú: Số nhà 102/2 ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm T2ê; trình
độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:
Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T Đào Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án,
tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
Người bào chữa cho bị o Nguyễn Văn Ngọc L: Ông Nguyễn Trung Trực -
Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh Long An,
có mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T,
sinh năm: 1970. Cư trú tại: Số 102/2 ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.
Những người tham gia ttụng khác không kháng cáo, không liên quan
đến kháng nghị không triệu tập:
- Bị hại: Lưu Thị T2, sinh năm: 1962. trú tại: Ấp Đ, A, huyện C,
tỉnh Long An, đã chết.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lưu Thị T2:
2
1. Ông Nguyễn Thành P, sinh năm: 1980. trú tại: Ấp Đ, A, huyện C,
tỉnh Long An.
2. Nguyễn Thị K, sinh năm: 1937. trú tại: Khu phố 2, thị trấn V,
huyện C, tỉnh Long An.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hsơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 16/5/2021, sau khi uống bia cùng bạn xong, bị o
Nguyễn Văn Ngọc L, không giấy phép lái xe theo quy định đã tự lấy chìa khoá
xe biển số 62K1-283.99 của ông Nguyễn Văn T (cha ruột của bị cáo L),
điều khiển xe lưu thông trên đường tỉnh 827A theo hướng từ xã P1 đi thị trấn V.
Khi đến Km 13 + 100 mét, thuộc ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Long An, cùng lúc này
xe đạp do Lưu Thị T2, điều khiển chạy cùng chiều phía trước đang chuyển
hướng sang bên trái đường và bánh trước đã sang trái đường, do không chú ý quan
sát nên bị cáo L điều khiển xe chuyển hướng theo, dẫn đến xe của bị
cáo L va chạm vào xe đạp của T2 gây ra vụ tai nạn giao thông trên phần đường
bên trái hướng đi của bị cáo L. Hậu quả Lưu Thị T2 bị thương được đưa đi cấp
cứu, đến 22 giờ 30 phút cùng ngày T2 tử vong tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Long
An.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 19 giờ 15 phút, ngày 16/5/2021,
do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thực hiện ghi nhận như sau:
Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đường rải nhựa,
đường thẳng, chiều rộng mặt đường 6,6 mét được phân chia thành hai chiều
đường riêng biệt bằng vạch kẻ đường đứt quảng, mỗi bên có chiều rộng là 3,3 mét.
Hiện trường nhìn từ hướng P1 về thị trấn V, huyện C, tỉnh Long An, lấy lề
chuẩn lề bên trái theo chiều đi từ hướng xã P1 về thị trấn V thì các vết cày, vết
trượt để lại hiện trường cũng như xe tô, xe đạp đều nằm bên lề trái hướng đi
của bị cáo.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 120/TT ngày 01 tháng 6
năm 2021, của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Long An, đối với nạn nhân
Lưu Thị T2 tvong do chấn thương bụng nặng, vỡ gan gây sốc chấn thương và
sốc mất máu/ đa chấn thương.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số HST 466/ĐC.2021 ngày
14 tháng 6 năm 2021, của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Sở Y
tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu máu của Nguyễn Văn Ngọc L nồng
độ Ethanol là: 80,21 mg/100ml.
Tại Bản án hình s thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An đã xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L phạm tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”.
3
Áp dụng điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, điểm
s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị o Nguyễn Văn
Ngọc L 02 (Hai) năm tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 591, 601 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L và người có quyền L nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Văn T phải liên đới bồi thường các khoản thiệt hại do tính mạng b
xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Thành P số tiền
còn lại là 19.044.000 đồng.
- Về tài sản tạm giữ: Tiếp tục tạm giữ xe mô tô bin số 62K1-283.99 và giấy
chứng nhận đăng xe tô, xe máy số 016001 của ông Nguyễn Văn T đđảm
bảo việc thi hành án. Hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang tạm giữ,
theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện C.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí về quyền thời hạn
kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 21/01/2022 bcáo Nguyễn Văn Ngọc L kháng cáo yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bcáo thừa nhận hành vi phạm tội nán
thẩm đã nêu, Tòa án thẩm xét xử đối với bị cáo về tội “Vi phạm qui định về
tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều
260 Bộ luật Hình s đúng, không oan. Do mức hình phạt Tòa án cấp sơ
thẩm xét xử đối với bị cáo nặng nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Người quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T
trình bày: Tòa án cấp thẩm tuyên buộc ông bị cáo liên đới bồi thường
khắc phục thiệt hại cho phía bị hại số tiền 19.044.000 đồng và tạm giữ tài sản
chiếc xe biển số 62K1-283.99 giấy chứng nhận đăng xe của
ông để đảm bào thi hành phần trách nhiệm dân sự. Hiện nay ông đã bồi thường
xong cho gia đình bị hại nên ông yêu cầu hoàn trả lại tài sản trên cho ông.
Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L kháng cáo trong thời
hạn luật quy định nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ xét xử vụ án theo
thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
- Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L thừa nhận hành
vi phạm tội nnội dung bản án thẩm đã nêu, phù hợp với các chứng cứ
trong hồ vụ án, nên đsở kết luận bcáo đã phạm tội Vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật
Hình sự, nên Tòa án cấp thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật trên
đúng, không oan. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp thẩm đã xác định bị
cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra bị
4
cáo thật thà khai báo, ăn năn hối lỗi; bị cáo đã thỏa thuận bồi thường được hơn
2/3 các khoản thiệt hại cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có
đơn xin bãi nại cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của xã, những tình
tiết giảm nhđược quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự. Do bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Tòa án cấp thẩm áp
dụng Điều 54 Bộ luật Hình sđể giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xphạt bị
cáo 02 năm . Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hưởng án treo. Xét
thấy: Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là tương xứng
với hành vi của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo bổ sung thêm tình tiết đã bồi
thường số tiền 19.044.000 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm gia đình
bị cáo người thân công với Cách Mạng, người đại diện hợp pháp của bị
hại đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ quy
định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ giảm nhẹ một phần hình
phạt cho bị cáo. Do dó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều
357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án nh sự thẩm số 01/2022/HS-ST
ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, giảm cho bị cáo t
03 đến 04 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng o, kháng nghị
hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật
như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Khi quyết định hình phạt đnghị Hội đồng
xét xử xem xét các tình tiết mới bị cáo bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm như bị
cáo người thân công với Cách Mạng; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho
người đại diện hợp pháp của bị hại, những nh tiết giảm nhẹ quy định tại
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị
cáo từ 6 tháng đến 12 tháng tù. Đối với bị cáo nhân thân tốt, nơi trú
ràng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho
bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình vi phạm pháp luật, đề nghị Hội
đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L trong thời hạn quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ
tục phúc thẩm.
[2] Bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L khai nhận hành vi phạm tội của mình như
nội dung bản án thẩm đã nêu phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có
trong hồ vụ án đã được thẩm tra trước phiên tòa phúc thẩm, thể hiện: Vào
khoảng 19 giờ ngày 16/5/2021 sau khi đã uống bia bị cáo tự ý lấy chìa khoá xe mô
biển số 62K1-283.99 (của cha ruột bị cáo) lưu thông trên đường tỉnh lộ 827A,
hướng từ P1 đi thị trấn V, do không chú ý quan sát, đi không đúng làn đường
5
quy định đã gây tai nạn giao thông với xe đạp do bà Lưu Thị T2 điều khiển chạy
cùng chiều phía trước, đang chuyển hướng sang bên trái đường. Hậu quả làm
Lưu Thị T2 tvong tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An do chấn thương bụng
nặng, vỡ gan gây sốc chấn thương và sốc mất máu/ đa chn thương. Như vậy, hành
vi của bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L điều khiển xe biển số 62K1-283.99,
không giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe nồng độ cồn trong u
vượt quá mức quy định (nồng độ Ethanol trong u 80,21 mg /100 ml), điều
khiển xe không chú ý quan sát, đi không đúng làn đường quy định đã gây tai nạn
giao thông với xe đạp chạy cùng chiều phía trước, đang chuyển hướng sang bên
trái đường, đã vi phạm vào khoản 8, khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao
thông đường bộ, dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng làm một
người chết, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định vtham gia giao thông
đường bộ” theo qui định điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh
điều luật trêncó căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L: Khi quyết
định hình phạt, Tòa án cấp thẩm đã xác định bị cáo không tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự. Trong qtrình điều tra bị cáo thật thà khai báo, ăn
năn hối lỗi; bcáo đã thỏa thuận bồi thường được hơn 2/3 các khoản thiệt hại
cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị
cáo, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của xã, là những tình tiết giảm nhẹ được quy
định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Tòa án
cấp thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị o
và xử phạt bị cáo 02 năm tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng
án treo. Xét thấy: Mức hình phạt Tòa án cấp thẩm áp dụng đối với bị cáo
là tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị
cáo bổ sung tình tiết mới bị cáo người thân ông Phạm Văn T2
Lương Thị C (Ông cố) công với Cách Mạng, bị cáo đã bồi hoàn xong số
tiền Tòa án cấp thẩm buộc phải bồi thường, người đại diện hợp pháp của
bị hại đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình scấp thẩm
chưa áp dụng đối bị cáo, nên căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị
cáo theo yêu cầu của bị cáo. Đối với hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội,
khi tham gia giao thông không chấp hành những quy định của Luật giao thông
đường bộ gây ra tai nạn giao thông, làm cho một người chết, lỗi hoàn toàn thuộc
về bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm vào khoản 8, khoản 23 Điều
8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, nên đối với hành vi của bị cáo cần
phải xử thật nghiêm bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt mới răn đe, cải
tạo, giáo dục bị cáo phòng ngừa chung. Do , không căn cứ cho bị cáo
được hưởng án treo theo yêu cầu của bị cáo đề nghị của người bào chữa cho
bị cáo tham gia phiên tòa.
[4] V áp dụng biện pháp tư pháp: Tòa án cấp sơ thẩm có tuyên buộc ông
Nguyễn Văn T bị cáo liên đới bồi thường khắc phục thiệt hại cho phía bị hại
số tiền 19.044.000 đồng tạm giữ tài sản là chiếc xe biển số 62K1-
6
283.99 giấy chứng nhận đăng xe của ông T để đảm bào thi hành
phần trách nhiệm dân sự. Hiện nay ông Tám đã bồi thường xong cho gia đình bị
hại, xác nhận của bị hại, nên ông T yêu cầu hoàn trả lại tài sản trên cho
ông T. Xét thấy, ông T đã bồi thường xong số tiền theo quyết định của Tòa án
cấp thẩm, nên không cần thiết tạm giữ tài sản chiếc xe biển số 62K1-
283.99 để đảm bảo về thi hành vtrách nhiệm dân sự. Do đó, ông T yêu cầu
nhận lại xe là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì bcáo Nguyễn Văn Ngọc L không phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L. Sửa Bản
án hình sự thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện C, tỉnh Long An về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Ngọc
L và áp dụng các biện pháp tư pháp.
Áp dụng điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, điểm
s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi,
bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng , thời
gian tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về biện pháp tư pháp: Hoàn trả cho Nguyễn Văn T chiếc xe mô tô biển số
62K1-283.99, số máy JC76E0053207, số khung 7616GZ03488, nhãn hiệu
HONDA, số loại FUTURE, màu sơn: đỏ ghi xám Giấy chứng nhận đăng xe
tô, xe y số 016001 (Tên chxe Nguyễn Văn T). Tài sản do Chi cục Thi
hành án dân sự huyện C đang tạm giữ, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày
22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 136 Bộ luật Tố tụng hình sự Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn Ngọc L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
7
4. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm hiu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDCC tại TPHCM (01b);
- VKSNDCC tại TPHCM (01b);
- VKSND tỉnh Long An (01b);
- Sở Tư pháp tỉnh Long An (01b);
- TAND huyện (02b);
- VKSND huyện (01b);
- CQĐT Công an cấp huyện (01b);
- Chi cục THADS huyện (01b);
- Bị cáo (01b);
- UBND xã nơi bị cáo cư trú (01b);
- Người TGTT khác;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Phượng
Tải về
Bản án số 69/2022/HS-PT Bản án số 69/2022/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất