Bản án số 69/2020/HSST ngày 23/12/2020 của TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước về tội cố ý gây thương tích

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 69/2020/HSST

Tên Bản án: Bản án số 69/2020/HSST ngày 23/12/2020 của TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước về tội cố ý gây thương tích
Tội danh: 104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phú Riềng (TAND tỉnh Bình Phước)
Số hiệu: 69/2020/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/12/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN PHÚ RIỀNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH PHƢỚC
Bản án số: 69/2020/HSST
Ngày: 23/12/2020
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thanh Nam
Ông Nguyễn Duy Khải
Thư ghi biên bản phiên tòa: Ông i Hoàng Long Thư Tòa án
nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước tham gia phiên
tòa: Ông Trịnh Duy Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh
Bình Phước xét xử thẩm vụ án hình sự thụ số 06/2020/HSST ngày 27 tháng
10 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Văn H Tên gọi khác: H K, sinh năm 1994 tại Bình
Phước; HKTT: Thôn 2, L, huyện P, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Thôn 4, L,
huyện P, tỉnh Bình Phước. Nghề nghiệp: Làm ng; Trình độ văn hóa: 7/12; con
ông Nguyễn Văn K - sinh năm 1974 và Hồ Thị L sinh năm 1978; vợ
Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 2001 01 người con sinh năm 2019; Tiền án,
tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/12/2012, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước
ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử hành chính đưa vào sở giáo
dụng số 2613/QĐ-UBND ngày 26/12/2012 đưa vào sở giáo dục Phú Hòa, tỉnh
Bình Dương về hành vi “đánh người gây thương tích”. Đến ngày 08/11/2014 chấp
hành xong.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/7/2020 tại Nhà tạm giữ Công an huyện P. Có
mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Lê Văn S sinh năm 1982. mặt
Địa chỉ: Thôn 4, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Dương Thị T sinh năm 1987. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn 4, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước
Bà Vương Thị L, sinh năm 1983
2
Địa chỉ: Thôn 4, L, huyện P, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 08/5/2020, H cùng Phan Viết C đến quán bia hơi của bà
Dương Thị T để ăn uống cùng vợ Nguyễn Thị Kim H, Phan Văn Đ, Văn Đ
Phạm Tuấn A đều trú tại thôn 4, L, huyện P. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày,
S cũng đến quán uống bia với mọi người và hát karoke (trước đó S đã uống rượu).
Do S giành micro với H nên S H xảy ra mâu thuẫn, xô xát lẫn nhau thì mọi
người can ngăn, kéo S về nhà (nhà S đối diện quán bia hơi) nhưng S và H vẫn tiếp
tục chửi bởi thách thức nhau. Lúc này, S về nhà đi ra phía sau tìm lấy được một
máy cưa đứng trước cổng, H thấy một xe không của ai dựng trong
quán (chìa khóa xe vẫn cắm trong khóa xe) nên điều khiển xe về nhà lấy 01 con
dao. Thấy S cầm máy cưa đứng cổng thì H cầm dao lao đến, S giật máy cưa
nhưng không nổ nên lui vào bên trong sân nhà, H lao đến đứng đối din cầm dao
bằng tay trái chém từ trên xuống trúng vào cằng tay phải và đầu của S làm rớt máy
cưa xuống đất. S bỏ chạy về phía sau nhà lấy 01 con dao, còn H cầm dao quay lại
quán bia hơi ngồi. Sau đó, S cầm dao chạy qua quán bia hơi, giơ dao lên chém thì
H cầm 02 ghế nhựa màu đỏ lên đỡ làm 02 ghế đỏ bị gẫy. S tiếp tục gdao lên
chém thì H lao đến dùng chân đạp vào người S làm S bị ngã xuống nằm nghiêng
người sang bên trái, H cầm dao bằng tay trái đứng bên hông S chém từ trên xuống
trúng 01 cái vào cánh tay phải, S úp người xuống để đứng lên tH chém tiếp 01
cái trúng vào vai phải. Thấy S chảy máu thì H không chém nữa, người nhà đưa S đi
bệnh viện cấp cứu còn H vứt dao ở hiện trường và bỏ trốn. Tại cơ quan điều tra, H
khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 162/2020/TgT của
Trung tâm pháp y-Sở Y tế tỉnh Bình Phước ngày 30/6/2020, kết luận thương ch
của bị hại Lê Văn S như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo dọc vai phải kích thước 12 x 0,5cm gọn, gãy xương vai phải.
Tổn thương đặc điểm của tổn thương do vật cạnh sắc tác động theo
hướng từ sau ra trước (so với cơ thể bị hại).
- Sẹo cánh tay phải 1/3 giữa - ngoài kích thước 5,5 x 0,5cm gọn mềm.
Tổn thương đặc điểm của tổn thương do vật cạnh sắc tác động theo
hướng từ ngoài vào trong (so với cơ thể bị hại).
- Sẹo 1/3 dưới - trước - ngoài cắng tay phải hình T kích thước 3 x 0,3cm
2 x 0,2cm lồi, hạn chế gấp và dạng ngón I.
3
Tổn thương đặc điểm của tổn thương do vật cạnh sắc tác động theo
hướng từ ngoài vào trong (so với cơ thể bị hại).
- Sẹo dọc đỉnh bên trái kích thước 4 x 0,3cm gọn, mềm.
Tổn thương đặc điểm của tổn thương do vật cạnh sắc tác động theo
hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau (so với cơ thể bị hại).
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 20%.
3. Kết luận khác: không”.
Tại Bản cáo trạng số 63/CTr-VKS ngày 26 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm
sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội Cố
ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với
bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 512 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 30 đến 36 tháng tù
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự trong vụ án.
Tại phiên tòa, người bị hại Văn S yêu cầu Hội đồng xét xử xử phạt
bị cáo mức án nghiêm khắc theo quy định pháp luật yêu cầu bị cáo bồi
thường tổng số tiền 37.745.000đ (Ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi lăm
nghìn đồng).
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh lun ti phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ,
ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra, Điều tra viên; Viện
kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra tại phiên tòa, bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ khác trong hồ vụ án. Trên sở đó đã xác định được: Khoảng 19
giờ ngày 08/5/2020, tại quán bia hơi thuộc thôn 4, L, huyện P, do mâu thuẫn về
việc giành micro để hát karaoke giữa S H nên H đã sử dụng 01 con dao dài 49
cm, cán hình tròn bằng gỗ, lưỡi dao kim loại đầu nhọn dài 33cm, là hung khí nguy
hiểm, chém vào đầu, vai phải, cánh tay phải, cẳng tay phải gây thương tích cho S,
theo kết luận giám định tỷ lệ tổn thương thể do thương tích gây nên hiện tại
20%.
4
Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội
phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.
Hành vi này cần bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 26/12/2012, bị Ủy ban nhân dân tỉnh
Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2613/QĐ-UBND đưa
vào sở giáo dục Phú Hòa, tỉnh Bình Dương về hành vi “đánh người gây thương
tích”, thời hạn 24 tháng. Ngày 08/11/2014 chấp hành xong. Đến ngày 08/5/2020,
bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho người bị hại Văn
S. Sau khi phạm tội, bị cáo không đến quan công an đầu thú bỏ trốn, đến
ngày 30/7/2020 thì bị bắt. Chứng tỏ bị cáo là người tính côn đồ, hung hăng, coi
thường pháp luật, do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai
báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nguyên nhân xảy ra xát
giữa hai bên một phần do lỗi của người bị hại; bị cáo hn cảnh kinh tế khó
khăn, con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét
giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời
gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo tại phiên
tòa là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 con dao dài 65cm, cán gỗ, lưỡi dao kim loại dạng móc u và 01
máy cưa màu đỏ S sử dụng làm công cụ đánh nhau với H, 01 đôi dép nhựa màu
đen hiệu “DUWA”, 01 nón lưới trai bằng vải màu đen, hiệu “LS” thu giữ tại hiện
trường xác định là của S, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 con dao dài 49 cm, lưỡi dao kim loại đầu nhọn xác định là tài sản
của H và sử dụng làm công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 ghế nhựa của bà Dương Thị T đã bán ve chai không thu hồi được
nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 xe H sử dụng để đi về nhà lấy dao xe của khách đến
uống bia, sau khi lấy dao H để lại quán đến nay không xác định được là xe nào,
trong quá trình điều tra không xác định được ai là chủ sở hữu nên không đề cập xử
lý.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, người bhại Văn S yêu cầu bị cáo phải bồi thường
tổng số tiền 37.745.000đ (Ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn
5
đồng). Bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền trên. Do đó, Hội đồng xét xử ghi
nhận sự thỏa T bồi thường giữa người bị hại và bị cáo.
Đối với 02 cái ghế nhưa bị bể, Dương Thị T không yêu cầu nên Hội
đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38;
Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (ba mƣơi) tháng tù. Thời hạn tính từ
ngay bắt tạm giam 30/7/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 2 Điều 468; Điều 584, Điều 585 Điều 590 Bộ luật dân sự
năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho ông Văn S số tiền
37.745.000đ (Ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật ông S đơn yêu cầu thi hành
án, nếu bị cáo H chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường như trên thì còn phải chịu lãi
suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền
và thời gian chưa thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dng Điu 47 Bộ lut nh s; Điu 106 B lut tố tụng nh sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 65cm, cán gỗ, lưỡi dao kim loại dạng móc
câu; 01 máy cưa màu đỏ đen, lưỡi cưa bằng kim loại; 01 đôi dép nhựa màu đen
hiệu “DUWA”; 01 nón lưỡi trai bằng vải màu đen, hiệu “LS”; 01 con dao dài 49
cm, lưỡi dao kim loại đầu nhọn.
(Theo Biên bn giao nhn vt chng s 0011702 ngày 05/11/2020 giữa
Chi cc Thi hành án dân s huyn P và Công an huyn P).
4. Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án
phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự
thẩm 1.887.000đ (mt triệu tám trăm m ơi bảy nghìn đồng) tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hi mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án này
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan quyền kháng cáo bản án này trong thời hn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
6
- TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện P;
- Chi cục THADS huyện P;
- CA huyện P;
- Bị cáo; người tham gia tố tụng
- Lưu.
Đinh Thị Hải
7
Tải về
Bản án số 69/2020/HSST Bản án số 69/2020/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất