Bản án số 66/2019/HS-PT ngày 04/09/2019 của TAND tỉnh Bến Tre về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 66/2019/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 66/2019/HS-PT ngày 04/09/2019 của TAND tỉnh Bến Tre về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bến Tre
Số hiệu: 66/2019/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 66/2019/HS-PT
Ngày 04-9-2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Tôn Văn Thông
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- T phn tòa: Bà ThYến Nhi - Thư a án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thsố: 43/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 6
năm 2019 đối với bị cáo Phạm Văn B đồng phạm do kháng cáo của các bị
cáo đối với Bản án hình sự thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Văn B, sinh năm 1985 ti tnh Bến Tre, nơi trú: p MH, LM,
huyn GT, tnh BT ; ngh nghip: mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; gii tính: nam;
dân tc: Kinh; quc tch: Vit Nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn S và bà
Trần Thị Ng; vợ: Đoàn Thị Ngọc Tr; 02 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh
năm 2011. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
2. Thành C (Năm Già), sinh năm 1989 ti tỉnh Bình Phước, nơi trú:
ấp H, xã L, huyện LN, tỉnh BP ; ngh nghip: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; giới
tính: nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông
Văn T Nguyễn Thị Th; vợ: Hoàng Kim H ; 01 người con, sinh năm 2013.
Tiền sự: không; Tiền án: Tại Bản án số 40/2015/HSST ngày 31/8/2015 của Tòa án
nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt Vũ Thành C 06 tháng về
tội “Trộm cắp tài sản” 02 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng
hợp hình phạt chung 02 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày
10/8/2017. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/5/2018 cho đến nay; có mt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thành C : Ông Trần Minh Vũ Luật sư Văn
phòng luật sư Trần Minh Vũ thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre (có mặt).
(Ngoài ra, trong vụ án còn các bị cáo Trường Phong L, Trịnh Phương
2
B, Dương Minh S1, Nguyễn Anh H1, Thành K, Nguyễn Văn L1, Nguyễn
Dương K1, Trần Văn Qu, Trần Phi L2 Trần Thành L3 nhưng không kháng
cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình làm thuê tại tỉnh Bình Phước và tại kho trấu của Phạm Văn B
ở ấp MH xã LM, huyện GT, Võ Trường Phong L (Phú) quen biết với Trần Văn Qu,
Trịnh Phương B, Nguyễn Văn L1, Thành C (Năm Già), Trần Phi L2 (Tý
Lương), Nguyễn Anh H1, Thành K (K Lớn ), Nguyễn Dương K1 (K Nhỏ ),
Dương Minh S1, Trần Thành L3. Trong thời gian làm thuê tại nhà Phạm Văn B, L
nảy sinh ý định trộm cắp xe để bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, L
hỏi mượn kho trấu chuồng heo của Phạm Văn B xã LM, huyện GT để làm nơi
cất giấu xe trộm rồi sau đó mang đi tiêu thụ, mỗi chiếc xe trộm được mang về L trả
cho Phạm Văn B 500.000 đồng hoặc xe nào không bán được thì L cho hoặc bán
cho Phạm Văn B sử dụng thì được Phạm Văn B đồng ý; đồng thời, L thỏa thuận
với Nguyễn Anh H1, Dương Minh S1, Thành K, Nguyễn Dương K1, Trần
Thành L2 nếu ai trộm được xe thì báo cho L để L kêu người điều khiển xe trộm
được về nơi cất giấu hoặc điều khiển xe đi bán, những người được L kêu thì
nhiệm vụ điều khiển xe trộm về nơi cất giấu hoặc đi bán. Mặt khác, việc xử xe
trộm là do L quyết định. Sau khi thỏa thuận và mượn kho trấu và chuồng heo xong,
trong khoảng thời gian từ ngày 21/02/2018 đến ngày 15/5/2018, L cùng đồng bọn
thực hiện 17 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn tỉnh Bến Tre và thành phố Trà Vinh,
cụ thể:
- Vụ xảy ra vào đêm 21 rạng sáng ngày 22/02/2018: Võ Trường Phong L rủ và
chở Nguyễn Anh H1 bằng xe biển số 71F5-1445 (biển số giả) của L mua
tỉnh Long An đi tìm xe mô tô lấy trộm, được H1 đồng ý. Khi đến ấp G, xã T, huyện
GT, tỉnh BT, L phát hiện xe Sirius biển số 71H7- 9913 của anh Ngô Trung N để
hàng rào trước cửa nhà, L dừng xe kêu Hào vào lấy trộm, còn L ngoài giữ xe
cảnh giới; Hào đi vào trộm xe dẫn ra lộ khởi động rồi cùng L điều khiển về chuồng
heo của Phạm Văn B cất giấu. Sau đó, L H1 điều khiển xe lên tỉnh Bình Phước
bán cho một người không rõ lai lịch được 4.000.000 đồng, L chia cho H1
2.000.000đ, cho Phạm Văn 500.000 đồng, còn 1.500.000 đồng L tiêu xài hết.
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình shuyện GT định giá chiếc xe mô
biển số 71H7-9913 giá trị là 4.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra, L , Hào,
Phạm Văn B thỏa thuận bồi thường cho anh NTrung N số tiền 4.000.000 đồng,
trong đó: L 1.334.000 đồng, Phạm Văn B H1 mỗi người 1.333.000 đồng; đã
bồi thường cho anh Nguyên số tiền 1.333.000 đồng, còn L, H1 chưa bồi thường.
- Vụ xảy ra vào đêm 08 rạng sáng ngày 09/3/2018: Trường Phong L rủ
Nguyễn Dương K1, Nguyễn Anh H1 đi trộm xe tô thì tất cả đồng ý. Khi đi, L
điều khiển xe biển số 71F5-1445, Nguyễn Dương K1 (K Nhỏ ) chở H1 bằng xe 67
biển số 60-3420A (biển số giả) của Phạm Văn B cho mượn đi từ kho trấu đến ấp B,
xã C , huyện GT, tỉnh BT thì H1 phát hiện chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu BEST
3
biển số 71F7-2223 của Phạm Thị H2 dựng hàng rào cây xanh gần nhà nên
thông báo cho L biết, L kêu H1 vào trộm xe còn L Nguyễn Dương K1 ngoài
cảnh giới; Hào đi vào bẻ khóa trộm xe dẫn ra lộ khởi động máy rồi cùng với L,
Nguyễn Dương K1 điều khiển về chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. Do xe
không bán được nên L cho Thành K chiếc xe biển số 71F7-2223 để sử
dụng, do xe nên Thành K tháo máy xe gắn vào xe Wave trộm Châu a
đêm 20 rạng sáng ngày 21/4/2018, còn các bộ phận khác thì quăng bỏ mất. Cơ quan
điều tra đã thu giữ được máy xe tại nhà của Thành K, còn các bộ phận khác đã
truy m nhưng không thu được. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự
huyện GT định giá chiếc xe biển số 71F7-2223 giá trị 2.500.000 đồng. Trong
quá trình điều tra, L , Phạm Văn B, Nguyễn Dương K1, H1 thỏa thuận bồi thường
cho Phạm Thị H2 mỗi người 625.000 đồng. Phạm Văn BNguyễn Dương K1
mỗi người bồi thường 625.000 đồng cho bị hại, còn L , H1 chưa bồi thường.
- Vụ xảy ra vào rạng sáng ngày 11/3/2018: Trường Phong L rủ Dương
Minh S1, Nguyễn Dương K1, Nguyễn Anh H1, Trần Thành L3 đi trộm cắp xe mô
tô, tất cả đồng ý. Khi đi L chở S1 bằng xe biển số 71F5-1445, Nguyễn Dương K1
chở H1 và L3 bằng xe 67 biển số 60-3420A của Phạm Văn B đi từ kho trấu đến ấp
BP, C , huyện GT, tỉnh BT thì L phát hiện chiếc xe Dream biển số 62F5-2586
của anh Phạm Văn Trung dựng trước cửa nhà, L kêu Nguyễn Dương K1, L3, H1và
S1 ở ngoài cảnh giới còn L đi vào thấy xe không khóa nên trộm xe dẫn ra lộ rồi đưa
xe cho Lộc điều khiển về kho trấu cất giấu. Sau đó, L bán xe 62F5-2586 cho
1.000.000 đồng để trừ tiền L nợ Phạm Văn B trước đó; xe bị hỏng nên Phạm
Văn B tháo lấy sườn xe gắn vào máy chiếc xe biển số 71H1-2983 (vụ xảy ra vào
đêm 26 rạng sáng ngày 27/3/2018) làm xe đầu kéo, còn các bộ phận khác thì quăng
bỏ mất. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện GT định giá chiếc xe
biển số 62F5-2586 giá trị 2.500.000 đồng. quan điều tra đã thu giữ được
phần sườn xe tại kho trấu của Phạm n B, còn các bộ phận khác đã truy m
nhưng không thu giữ được. Trong quá trình điều tra, L, Phạm Văn B, S1, L3, H1,
Nguyễn Dương K1 thỏa thuận bồi thường cho anh Phạm Văn Tr, trong đó: L bồi
thường 420.000 đồng, Phạm Văn B, S1, L3, H1, Nguyễn Dương K1 mỗi người bồi
thường 416.000 đồng. Phạm Văn B, Nguyễn Dương K1, S1, L3 đã bồi thường cho
bị hại mỗi người 416.000 đồng, còn H1, L chưa bồi thường.
- Vụ xảy ra ng ngày 11/3/2018, sau khi Lộc điều khiển xe biển số 62F5-
2586 đi về trước (L3 không biết L, Nguyễn Dương K1, H1, S1 tiếp tục đi trộm), L
kêu H1 S1đứng đợi cảnh giới cho L Nguyễn Dương K1 tiếp tục đi trộm. Khi
đến ấp BP, C , huyện GT, tỉnh BT, tỉnh Bến Tre, L phát hiện chiếc xe biển số
71K8-0144 của anh Nguyễn Minh Ch đang dựng bên hông nhà, L ngoài cảnh
giới, Nguyễn Dương K1 vào bẻ khóa trộm xe dẫn ra lộ rồi cùng L, Sang, Hào điều
khiển xe về kho trấu của Phạm Văn B. Do xe không bán được, L cho Phạm Văn B
chiếc xe biển số 71K8-0144 để sử dụng. Hội đồng định gtài sản trong tố tụng
hình s huyện GT định giá chiếc xe biển s 71K8-0144 giá trị là 3.500.000
đồng. Trong quá trình điều tra, quan Công an đã thu giữ được chiếc xe biển số
71K8-0144 tại nhà Phạm Văn B đã giao trả anh Nguyễn Minh Ch , anh Ch
không yêu bồi thường.
4
- Vụ vào đêm 18/3/2018, Trường Phong L rủ Dương Minh S1, Nguyễn
Anh H1, Võ Thành K, Nguyễn Dương K1, Trần Thành L3 đi trộm. Khi đi Phú chở
S1 bằng xe 71F5-1445, Hào chở Thành K bằng xe Best (trộm xã C ngày
09/3/2018), Nguyễn Dương K1 chở L3 bằng xe 67 của đi từ kho trấu đến p H,
TPĐ, huyện GT, tỉnh BT, L phát hiện chiếc xe mô tô biển số 71H8-6256 của anh
Lê Văn H dựng trước cửa Đại lý thức ăn gia súc Gia Bảo nên L kêu S1, H1, Dương
K, K1, Lộc ngoài canh giới, còn L đi vào lấy xe có gắn chìa khóa nên dẫn xe ra
ngoài khởi động rồi cùng Hào, Sang, Lộc, K1, K điều khiển về chuồng heo của
cất giấu. Do xe không bán được nên L đưa xe 71H8-6256 cho Dương Minh S1 sử
dụng. Sau đó, S1 mang xe đi sửa tại tiệm sửa xe của anh Huỳnh Đ MH,
huyện BT, tỉnh BT. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện GT đnh
giá chiếc xe 71H8-6256 giá trị 2.500.000 đồng. quan điều tra đã thu giữ xe
71H8-6256 do anh Huỳnh Đ giao nộp (anh Đ không biết xe do Sang trộm cắp
mà có) và trả xe cho anh Lê Văn H, anh H không yêu cầu bồi thường.
- Vụ ngày 20/3/2018: Khoảng 04 giờ, Nguyễn Văn L1 rủ Trường
Phong L, Trịnh Phương B, Nguyễn Anh H1, Dương Minh S1 Đỗ Đức Hoàng
đến nhà Linh ở ấp Lê Văn Quới, xã Tập Ngãi, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh chơi.
Khi đi, L chở B bằng xe biển số 71F5-1445, H1 chở L1 bằng xe SYM (trộm
CB ngày 11/3/2018) đi trước, còn Dương Minh S1 Đỗ Đức H đi sau. Đến
khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến thành phố TV, do xe SYM bị hỏng nên L1 và H1
đi vào tiệm sửa xe, còn L điều khiển xe biển số 71F5-1445 chở Bắc đi tìm xe lấy
trộm (L1 và Hào không biết L và Bắc đi trộm xe). Khi đi ngang nhà trọ Mỹ Anh tại
số 853, khóm 4, phường 1, thành phố Trà Vinh thì B phát hiện chiếc xe mô
AirBlade biển số 84E1-120.75 của anh Sơn Chanh ĐR dựng trước phòng trọ số 1
nhà trọ Mỹ Anh nên B kêu L dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới cho B đi vào bẻ
khóa trộm xe dẫn ra ngoài khởi động máy cùng L chạy xe ra Cầu Phú Hòa II điện
thoại cho L1, Hào đến cùng chạy về nL1. Khi về tới nhà, Sang Hoàng cũng
đến nơi. Khi nhà L1 thì H, Sang, L1, Nguyễn Anh H1 đều biết xe biển số 84E1-
120.75 do B L trộm được. Đến 16 giờ cùng ngày, H và B thay phiên điều khiển
xe biển số 84E1-120.75 cùng với S1, L1, Nguyễn Anh H1, L đi về chuồng heo của
Phạm Văn B cất giấu. Đến sáng ngày 21/3/2018, H điều khiển xe biển số 84E1-
120.75 lên tỉnh BP giao cho L1 mang xe biển số 84E1-120.75 cầm cho anh Phạm
Đình H, ấp 7, LT, huyện LN, tỉnh BP được 8.500.000 đồng. H nhận tiền và chia
cho B 3.000.000 đồng, L được 2.000.000 đồng, L trả Phạm Văn 500.000 đồng,
L1 1.000.000 đồng. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận chiếc
xe biển số 84E1-120.75 trị giá 15.000.000 đồng. Quá trình điều tra, quan điều
tra đã thu giữ xe biển số 84E1-120.75 do anh Phạm Đình H đã tnguyện
giao nộp đã giao trả xe cho anh Sơn Chanh ĐR; bị hại anh H không yêu cầu
các bị cáo bồi thường.
- Vụ xảy ra vào đêm 20/3/2018: Trường Phong L rủ Trịnh Phương B đi
trộm cắp xe , Bắc đồng ý. Khi đi L chở B bằng xe biển số 71F5-1445 đi từ
kho trấu đến ấp MT, PL, huyện GT, tỉnh BT, L B phát hiện chiếc xe
PCX biển số 71B2-119.08 của chị Thị Gàng đang dựng bãi vật liệu xây dựng
của anh Quang Th, L dừng xe lại đứng ngoài cảnh giới, B vào bẻ khóa trộm xe
dẫn ra lộ khởi động máy rồi cùng L điều khiển về chuồng heo của Phạm Văn Bé cất
5
giấu. Đến sáng ngày 21/3/2018, L cùng B điều khiển xe biển số 71B2-119.08 lên
tỉnh BP bán cho người thanh niên không rõ lai lịch được 8.500.000đ, L chia cho B
2.000.000đ, trả Phạm Văn B 500.000đ, còn lại 6.000.000 L tiêu xài hết. Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận chiếc xe PCX biển số 71B2-119.08
giá 33.500.000đ. Trong quá trình điều tra, L, B, Phạm Văn B thỏa thuận bồi thường
với chị Thị G như sau: L bồi thường 11.166.000 đồng, B và Phạm Văn B mỗi
người bồi thường 11.167.000 đồng. Phạm Văn B B đã bồi thường số tiền
11.167.000 đồng; L chưa bồi thường.
- Vụ xảy ra vào đêm 26 rạng sáng ngày 27/3/2018, Trường Phong L rủ
Nguyễn Anh H1, Thành K, Nguyễn Dương K1 đi trộm cắp xe tô, tất cả
đồng ý. Khi đi, L chở H1 bằng xe biển số 71F5-1445, Thành K chở Nguyễn
Dương K1 bằng xe Best (trộm CB ngày 09/3/2018) đi từ kho trấu đến ấp BK,
CB, huyện GT, tỉnh BT thì H1 phát hiện chiếc xe mô tô biển số 71H1-2989 của anh
Võ Minh C dựng ở hông nhà nên báo cả nhóm biết; L và Võ Thành K ở ngoài cảnh
giới cho H1và Nguyễn Dương K1 vào trộm xe dẫn ra lộ nhưng không khởi động
được nên Nguyễn Dương K1 cầm lái xe biển số 71H1-2989 cho L Thành K
thay phiên đẩy về chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. Sau đó, L tháo máy của xe
biển số 71H1-2989 rồi gắn vào xe đầu kéo cho Phạm Văn B sử dụng (xe Dream
trộm CB ngày 11/3/2018), các bộ phận khác của xe thì ném bỏ, Cơ quan điều tra
đã truy tìm nhưng không thu giữ được. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình
sự huyện GT định giá chiếc xe trên giá tr3.000.000 đồng. quan điều tra
khám xét thu giữ được máy xe biển số 71H1-2989 tại kho trấu của Phạm Văn B.
Quá trình điều tra, L, H1, Phạm Văn B, Nguyễn Dương K1, Thành K thỏa
thuận bồi thường cho anh Võ Minh C mỗi người 600.000 đồng. Bé, Nguyễn Dương
K1, Thành K đã bồi thường mỗi người 600.000 đồng, còn L H1 chưa bồi
thường.
- Vụ ngày 18/4/2018: vào lúc 09 giờ, khi đang chơi tại kho trấu của Bé,
Trường Phong L Thành C rủ Nguyễn Văn Vũ L1, Trần Phi L2 (Tý Lương),
Thành K Dương Minh S1 đi trộm cắp xe mô thì tất cả đồng ý. Sau đó, C
chở Linh bng xe Exciter không biển số của Công, L chở L2 bằng xe biển số
71F5-1445, S1 chở Thành K bằng xe Best (trộm CB ngày 09/3/2018), đi từ
kho trấu đến xã TLT để tìm xe mô tô lấy trộm. Khi vừa đến ngã ba rẽ về xã TLT, L
kêu Sang Thành K chạy xe lên pa trước cảnh giới đợi để chạy xe trộm
về, còn L, C, L2 L1 rẽ vào ngã ba bên phải để tìm xe lấy trộm. Khi đến ấp GS,
TLT, huyện GT, tỉnh BT thì phát hiện chiếc xe Exciter biển số 71B2-
965.39 của anh Võ Văn S đang dựng trước cửa nhà, nên L dừng xe cùng với Công,
L1 đứng ngoài cảnh giới cho L2 vào lấy trộm; nhưng do cây đoản bị gãy L2
không mkhóa xe được L2 trộm xe dẫn ra lộ cho C câu điện để khởi động nhưng
không được nên L2 lên cầm lái xe biển số 71B2-965.39 cho C đẩy xe đi. Sau đó, cả
nhóm đi đến gặp S và Thành K đang đợi bên ngoài, lúc này C kêu Thành K
lên xe biển số 71B2-965.39 cầm lái cho C đẩy rồi cùng cả nhóm mang xe
vừa trộm được về nThành K cất giấu. Sau đó, L S điều khiển xe
biển số 71B2-965.39 lên tỉnh BP bán cho người thanh niên không lai lịch được
10.000.000 đồng; L cho S1 1.500.000 đồng, còn lại L tiêu xài nhân hết. Hội
6
đồng định giá tài sn trong tố tụng hình sự huyện GT định giá chiếc xe trên giá
trị là 39.700.000 đồng.
- Vụ vào đêm 18 rạng sáng ngày 19/4/2018 Trần Phi L2 ( Lương) rủ
Nguyễn Anh H1 đi trộm xe do L2 thấy trước đó, H1 đồng ý. L2 H1ch Hào
bằng xe biển số 71F5-1445 của L đến p LĐ, xã PL, huyện GT, BT tL2 chỉ cho
H1 chiếc xe Wave S biển số 79H3-3579 của anh Quốc V dựng trong cây xăng
Dương Linh, rồi L2 dừng kêu H1 đứng bên ngoài cảnh giới cho L2 đi vào bẻ khóa
trộm xe dẫn ra lộ khởi động rồi cùng Hào điều khiển xe về kho trấu cất giấu. Sau
đó, H1 báo cho L biết, L kêu DK điều khiển xe biển số 79H3-3579 lên tỉnh BP giao
cho vợ Năm Già (chưa làm việc được) vợ Năm Già trả công cho DK 2.000.000
đồng. Hội đồng định giá kết luận xe biển số 79H3-3579 giá 5.500.000 đồng. Trong
quá trình điều tra, DK tự nguyện bồi thường cho bị hại 1.375.000 đồng, L, H1, L2
chưa bồi thường.
- Vụ xảy ra vào đêm 18 rạng ngày 19/4/2018: L rủ Vũ Thành C, Nguyễn Văn
Vũ L1 đi trộm xe mô tô do L phát hiện trước đó thì C và Linh đồng ý. C điều khiển
xe Exciter không biển số của Công chở L L1 do L dẫn đường đi đến nhà kho
vật liệu xây dựng của chị Nguyễn Thị Ánh T tại ấp Bình Đông B, Châu Bình,
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi đến nơi, L ngoài cảnh giới, C L1 vào
lấy trộm xe FZ biển s71B2-420.42 đem ra lộ điều khiển đến vòng xoay rồi L
điện thoại cho Võ Thành K Nguyễn Anh H1 đến điều khiển xe trộm về kho trấu
cất giấu. Khi H1 đem xe về kho trấu, Trần Phi L2 mở cốp xe biển số 71B2-420.42
lấy 2.500.000đ rồi chia cho Hào 500.000 đồng, còn lại Long cất giữ rồi cho
Nguyễn Dương K1 500.000 để đổ xăng (Long không biết số tiền 2.500.000 đồng là
do trộm mà có). Sau đó, L kêu Nguyễn Anh H1 điều khiển xe biển số 71B2-420.42
lên tỉnh BP giao cho Vợ Năm Già (chưa làm việc được) Vợ Năm Già trả công
cho Hào 2.000.000 đồng. Hội đồng định giá tài sản kết luận xe biển số 71B2-
420.42 giá 45.900.000 đồng. Hào tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị AT
5.000.000 đồng.
- Vụ xảy ra cùng ngày 19/4/2018: Sau khi L1, H1 Thành K điều khiển
xe biển số 71B2-420.42 về, Trường Phong L chở Thành C bằng xe Exciter
của C tiếp tục đi trộm cắp xe tô. Khi đến ấp BL, CB, huyện GT, tỉnh BT, cả
hai phát hiện chiếc xe mô nhãn hiệu KENPO biển số 63L1-5473 của Nguyễn
Thị Ng ở Trại mua dừa; L đứng ở ngoài đường cảnh giới cho C đi vào bẻ khóa trộm
xe dẫn ra lộ khởi động máy chạy một đoạn rồi đổi xe cho L chạy xe trộm được về
kho trấu cất giấu. Chiếc xe biển s 63L1-5473 do không bán được nên L cho
Dương Minh S1 sử dụng (S1 không biết xe trộm). Sau đó, S1 bán cho anh Nguyễn
Quang Th, ấp Nhơn Thuận, xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (Th không
biết xe trộm) được 1.000.000 đồng. Hội đồng định giá tài sản kết luận xe biển số
63L1-5473 giá 3.500.000 đồng. quan công an đã thu giữ xe biển số 63L1-5473
do anh Nguyễn Quang Th tự nguyện giao nộp và đã trả xe cho Nguyễn Thị Ng.
Bị hại và anh Th không yêu cầu bồi thường.
- Vụ xảy ra đêm 20 rạng sáng ngày 21/4/2018, Trường Phong L rủ
Thành K, Nguyễn Anh H1, Dương Minh S1 đi trộm cắp xe tô, tất cả đồng ý.
Khi đi, L chở Thành K bằng xe biển số 71F5-1445, H1 chở S1 bằng xe Dream
7
(trộm CB ngày 19/4/2018) từ kho trấu đến khu vực ấp Phú Hòa, Châu Hòa,
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre thì L Thành K phát hiện chiếc xe biển số
71B3-270.25 của anh Trịnh Hữu D dựng trước tiệm Net Minh Đăng nên L kêu S1
H1 chạy trước đợi, còn L dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới cho Thành K
vào trộm xe đem ra lộ bẻ khóa khởi động điều khiển một đoạn rồi đưa cho Sang
điều khiển cùng nhau về kho trấu cất giấu. Sang Thành K tháo bửng, mặt nạ
đem đốt. Do xe bán không được nên L đưa xe cho Thành K sử dụng. Sau đó,
Thành K tháo các bộ phận lấy sườn xe gắn vào xe Best (trộm ngày 09/3/2018),
các bphận khác bỏ mất quan điều tra truy tìm nhưng không được. Hội đồng
định gtài sản kết luận xe biển số 71B3-270.25 giá 4.500.000 đồng. Trong
quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ được sườn xe tại nhà Võ Thành K. L,
Phạm Văn B, S1, H1, Thành K thỏa thuận bồi thường cho Trịnh Hữu D: mỗi
người 900.000 đồng. Phạm Văn B, Thành Kiệt, S1 đã bồi thường mỗi người bồi
thường 900.000 đồng.
- Vụ ngày 22/4/2018: Vào khoảng 10 giờ 15 phút, Trần Văn Qu, Trịnh
Phương B rủ Võ Trường Phong L, Nguyễn Anh H1 đi trộm cắp tài sản, tất cả đồng
ý. Khi đi Qu chở Bắc bằng xe Winer biển số 93C1-153.19 (Qu mượn xe của
Nguyễn Ngọc Y quê ở BP Y không biết Qu mượn xe đi trộm cắp tài sản), L chở
H1 bằng xe Exciter (trộm TLT ngày 18/4/2018) để dẫn đường đi từ kho trấu qua
Bình Đại để tìm xe trộm. Khi đi đến ấp TL, , huyện , tỉnh BT, B phát hiện
chiếc xe biển số 71C1-338.92 của chị Thị ML, B kêu Qu, H1, L đứng
ngoài cảnh giới cho B1 vào lấy trộm xe dẫn ra lộ đưa xe cho L điều khiển về
chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. Tại kho trấu, L kiểm tra cốp xe phát hiện số
tiền 1.750.000 đồng, cùng Giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe, giấy đăng
xe, L lấy 500.000 đồng, L chia cho Qu B 1.250.000 đồng, giấy tờ L đem đi
đốt bỏ. Ngày 23/4/2018, L kêu Võ Thành K chạy xe trộm được lên BP đưa Qu bán
được 10.000.000 đồng. L được chia 1.000.000 đồng, L trả cho Phạm Văn B
500.000 đồng, Võ Thành K được chia 2.000.000 đồng, còn lại Qu, B chia nhau tiêu
xài. Hội đồng định giá tài sản huyện định giá chiếc xe biển số 71C1-338.92
giá trị 14.800.000 đồng. Trong quá trình điều tra, L , H1, B, Qu, Thành K đã
thỏa thuận bồi thường cho chị Thị ML: Ph bồi thường 500.000 đồng, B Qu
mỗi người bồi thường số tiền 8.025.000 đồng. B đã bồi thường số tiền 8.025.000
đồng, Qu bồi thường số tiền 3.000.000 đồng, còn L chưa bồi thường.
- Vụ ngày 27/4/2018: Khoảng 08 giờ, Trường Phong L, Trịnh Phương B ,
Dương Minh S1, Võ Thành K rủ nhau đi qua Bình Đại để trộm xe mô tô để bán lấy
tiền tiêu xài, cả nhóm đồng ý. Khi đi, L chở B bằng Exciter (xe trộm ngày
18/4/2018 ở xã TLT), S1 chở Võ Thành K bằng xe Dream biển số 71F5-1445 của L
đi từ GT đến cầu Cống Đá thuộc huyện thì S1 Thành K không đi trộm
nữa chạy về Ba Tri. Còn L B điều khiển xe đến ấp BT 3, TT, huyện ,
tỉnh Bến Tre thì phát hiện xe Exciter biển s71B2-760.13 của anh Huỳnh Khắc H
nên L dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới, B đi vào trong lấy trộm xe dẫn ra khởi
động máy điều khiển cùng L về chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. Sau đó, L
mở cốp xe lấy bóp da bên trong giấy chứng minh nhân dân, thẻ ATM mang đi
đốt, rồi kêu Nguyễn Anh H1 điu khiển xe trộm được lên tỉnh Bình Phước đưa Bắc
bán cho một người không lai lịch được 11.000.000 đồng, Hào được chia
8
2.000.000 đồng, L được chia 5.000.000 đồng, L trả cho 500.000 đồng, Bắc
được 4.000.000 đồng. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình
Đại định giá xe biển số 71B2-760.13 giá trị 35.700.000 đồng. Trong quá
trình điều tra, Ph, Phạm Văn B, B, H1 thỏa thuận bồi thường cho anh Huỳnh Khắc
H: mỗi người bồi thường số tiền 8.925.000 đồng. Bé, Bắc đã bồi thường mỗi người
số tiền 8.925.000 đồng, H1 tự nguyện bồi thường cho anh H 4.587.000 đồng, H1
còn tiếp tục bồi thường 4.338.000 đồng, còn L chưa bồi thường.
- Vụ vào đêm 27/4/2018, Trường Phong L rủ Dương Minh S1, B đi trộm
xe do S1 thấy trước đó, thì tất cả đồng ý. Khi đi, S1 chở Cu (chưa lai lịch) bằng
xe 71F5-1445, L ch Bbằng xe Exciter bin số 71B2-965.39. Khi còn cách nơi
trộm xe khoảng 01 km, S1 dừng xe cùng Cu đứng đợi chỉ đường B L đi
trộm xe. L B chạy đến ấp BT, BT, huyện GT, tỉnh BT thì thấy xe mô tô hiệu
Suzuki biển số 95B1-131.13 của anh Trần Văn S đang để trước như lời S1 chỉ, L
dừng xe lại đứng cảnh giới cho B vào trộm dẫn ra lộ khởi động rồi cùng L , S1, Cu
chạy về chuồng heo cất giấu. Sau đó, B điều khiển xe biển số 95B1-131.13 về tỉnh
BP sử dụng và trả cho L 500.000 đồng. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình
sự huyện Giồng Trôm định giá chiếc xe trên có giá trị là 68.000.000 đồng. Cơ quan
công an thu giữ và đã trả xe biển số 95B1-131.13 cho anh Trần Văn Svà anh S
không yêu cầu bồi thường.
Ngoài các vật chứng là xe mô tô Cơ quan điều tra đã thu giữ và giao trả cho bị
hại trong từng vụ án như đã nêu trên, Cơ quan điều tra còn tạm giữ:
- 01 (một) xe hai bánh, số loại Dream, màu sơn nâu, xe số máy
C100ME-0074890, không có số khung và biển số.
- 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Wave, màu sơn xanh, không có số khung, số
máy.
- 01 chiếc xe máy (xe 67) số máy C50E-8620813, không số khung thu giữ
tại kho trấu của Bé.
- 01 xe mô làm đầu kéo số máy GUMYR150FMH250136, không số
khung, không biển số.
- 01 chiếc xe máy làm đầu kéo thu giữ tại kho trấu của Phạm Văn B, không
liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo Phạm Văn B.
- Bị cáo Phạm Văn B giao nộp 01 điện thoại Nokia vỏ màu đen, xám do Phạm
Văn B sử dụng liên lạc vào việc phạm tội.
- 06 xe, 01 ba ga giữ, 01 chụp đèn trước, 01 cục đề, 01 cái chống nghiêng,
01 cái chống đứng, 01 khung ba ga sau, 01 bộ lộc gió, 01 đồng hồ, 01 khung biển
số, 02 bửng xe bằng nhựa màu xanh, 01 chắn bùn phía trước, tất cả đã qua sử dụng,
hư hỏng và không xác định là bộ phận của xe nào.
- 01 cây đoản 08 mũi đoản dùng để b khóa xe mô tô thu giữ tại nhà Bé
bị can L giao nộp.
- 05 biển số giả: s71FE-2546, 71K4-4567, 62B1-440.04, 71K1-8501, 60-
3420A.
9
Ngoài ra, Bản án thẩm n nêu v trm cp tài sn khác do Trường
Phong L thc hin vào ngày 15/5/2018 hành vi tiêu th tài sn ca Nguyễn Văn
Vũ L1;
* Tại Bản án hình sthẩm số 13/2019/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện GT, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B, Vũ Thành C phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng đim a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khon 1, khoản 2 Điều 51;
đim g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điu 17; Điu 38 B lut Hình s năm 2015 đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2017. X pht b cáo Phạm Văn B 03 (Ba) năm tù. Thi
hn tù tính t ngày bt b cáo chp hành án.
- Áp dng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điu 17; Điều
38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị o
Vũ Thành C 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2018.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các
bị cáo khác; phần trách nhiệm dân sự, xử vật chứng, án phí và quyền kháng cáo
theo luật định.
Ngày 09/5/2019, bị cáo Thành C kháng cáo cho rằng bị cáo không thực
hiện hành vi trộm cắp tài sản, không phạm “Tội trộm cắp tài sản”;
Ngày 10/5/2019, bị cáo Phạm Văn B kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và
cho bị cáo được hưởng án treo.
Ti phiên tòa phúc thm, các b cáo không thay đi yêu cu kháng cáo, b cáo
Phạm Văn B khai nhn hành vi phù hp ni dung Bn án thẩm, b cáo C không
tha nhn hành vi trm cp tài sn mà bản án sơ thẩm đã nêu.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm t viên thể hiện như sau: V th tc t
tng: Đơn kháng cáo của b cáo gửi đến Tòa án trong thi hn kháng cáo theo quy
định tại Điều 333 ca B lut T tng Hình s. V ni dung: Tòa án cp sơ thm xét
x Tuyên bc bo Phạmn B và Tnh C phạm “Ti trm cp tài sản
là có căn cứ đúng người, đúng tội. Xét b cáo Phạm Văn B sau khi xét x thm b
cáo np tin để bi thường thit hi cho b hi b o nhiu nh tiết gim
nh theo nTòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng, gia đình ca b cáo có nhiều ngưi tn
có công với đất nưc,n cn gim nh thêm mt phn hình pht cho b cáong đ
ci to giáo dc b cáo. V u cầu hưởng án treo b cáo không đủ điu kin hưởng
án treo. Đối vi b cáo C không chng c mi để chng minh cho li trình bày
ca b cáo v vic b cáo không thc hin hành vi phm ti nên không chp nhn
kháng cáo. Đề ngh n cứ đim a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khon 1
Điu 357 B lut T tng Hình s. Không chp nhn kháng o ca b o C; chp
nhn kháng cáo ca b cáo Phạm Văn B, gim hình pht cho bo Phạmn B. Áp
dng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ
luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo
Thành C 04 (Bn) năm v Ti trộm cắp tài sản. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều
173; điểm b, s khon 1, khoản 2 Điều 51; đim g khoản 1 Điều 52; Điu 54; Điu
17; Điu 38 B lut Hình s. X pht b cáo Phạm Văn B t 02 m đến 02 năm 06
10
tháng tù về Tội trm cắp i sản. Các phn quyết định khác ca bản án thẩm
không kháng cáo, kháng ngh đã hiệu lc pháp lut k t ngày hết thi gian
kháng cáo, kháng ngh.
Người bào cha cho b cáo C cho rng: V mt chng c trong sut quá trình
điu tra xét x Thành C đều khai thng nht không thc hin hành vi
trm cp tài sn nhng tài liu trong h v án cũng chưa chng minh
hành vi trm cp tài sn ca Công. Theo Bản án sơ thẩm nêu Vũ Thành C 03 v
trm cp, b cáo C được chia như thế nào hưởng li bao nhiêu trên s tài sn
trm cắp được chưa đưc rõ. Do đó, Vũ Thành C có thc hin hành vi trm cp hay
không cũng chưa rõ. Mc khác, ti Biên bản đối cht ngày 26/5/2018 gia Vũ
Thành C vi Nguyễn Dương K1 Biên bản đối cht ngày 26/5/2018 gia
Thành C vi Nguyễn Văn L1 cũng chưa chứng minh được hành vi trm cp tài
sn ca Thành C, chưa đủ chng c cu thành ti trm cp tài sn. Đề ngh
chp nhận đơn kháng cáo của Thành C .
Li nói sau cùng: B cáo Phạm Văn B yêu cầu được hưởng án treo, b cáo C
cho rng không trm cp tài sn.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng o ca các b cáo làm trong thi hn lut
định phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ti phiên tòa
phúc thm, các b cáo không ý kiến hoc khiếu ni v hành vi, quyết định ca
quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết đnh
t tng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hp
pháp.
[2] V tình tiết v án: Ti phiên tòa phúc thm b cáo Vũ Thành C không tha
nhn tham gia thc hin hành vi trm cp tài sn của người khác như bản án
thẩm nêu. Tuy nhiên qua quá trình điu tra tại phiên tòa thẩm các b cáo b
truy t và xét x cùng v có lời khai như sau:
Trường Phong L, li khai: Ti BL 921-924: khong tháng 3/2018 tôi
cùng L1, Năm Già, Tý, đến TLT trm xe Exciter màu xanh tím, xe này do Năm Già
vào ly, tôi L1 đứng ngoài cnh gii (buổi trưa 11-12h); V th 5: ngày
19/4/2018 tôi cùng Năm Già, L1 ly 2 xe CB, chiếc đầu tiên xe hiu
Yamaha FZ 150i xe không khóa, xe này Năm Già L1 vào lấy tôi đứng ngoài
cnh giới, sau khi đem xe ra ngoài tôi đin thoi cho H1 đến chy xe này về, đồng
thời trong đêm H1 cùng với nhóm Bình Phước chy xe này v Bình Phưc luôn; xe
th hai là xe Dream màu mâu sau khi giao xe cho H1 tôi Năm Già tiếp tc chy
v ng Tri giam K20 đến gn Tri giam phát hin xe Dream, Năm Già vào ly
còn tôi cnh gii sau khi ly được xe đem v nhà anh Phạm Văn B. Ti BL 998-
1012: ... - V 4: Tôi cùng Năm Già, L1, ly 01 xe FZ màu xanh-trng Ca hàng vt
liu Châu Bình, ly xe xong K Ln , H1 đem xe v bến anh Phạm Văn B, tôi
Năm Già tiếp tục đi lấy 01 xe Dream màu nâu (xe Kenpo) Tri da gn Tri
giam Châu Bình, xe Dream cho Sang chy, xe FZ v Bình Phước bán 13.000.000
đồng chưa chia tiền; ... - V 7: Tôi, S1, L1, K Ln , Tý Lương và Năm Già ly 01 xe
Exciter màu xanh tím sơn 3D Tân Li Thạnh đem Bình Phước bán 10.000.000
11
đồng; (phù hp li khai ti các BL 925-929; 937-942; 998-1012). Tại phiên tòa sơ
thm L khai: R C L1 L2 K S1 đi trộm tài sn …, khi thấy xe Exciter, b
cáo u Long vào lấy xe, khi đó C, L1 đứng ngoài ch; Công ch L1 bng xe
Exciter ca C, L2 trc tiếp ly xe; L1 cầm lái C đy xe (xe Exciter); C đẩy xe đến
ch S1 K đang đợi; K cầm lái cho C đẩy; xe Exciter bán được 10.000 000 đồng; -
V 11: Xe FZ: R Linh C đi trộm, L1, C đồng ý, thấy xe FZ C điu khin xe trm
được mt đoạn sau đó điện cho Thành Kit, Hào điều khin xe v do C không biết
đường đi; Công đưa cho Hào chạy v kho tru; b cáo kêu Hào đem xe lên Bình
Phước giao cho v C; xe này thuc v C L1; - V 12: Ngày 19-4-2018. Xe
KENPO, sau khi trn xe FZ v còn li b cáo C đi trộm tiếp, b cáo ch C
xung Châu Bình thy xe Kenpo Tri mua da b cáo kêu C vào ly; b cáo đứng
ngoài cnh gii C vào ly xe; C b khóa ly; (sau khi ly) C chy mt đoạn sau đó
đổi b cáo chy v kho tru”.
Dương Minh S1 , có li khai: Ti BL 1786: ... V th tư: khoảng 12 gi trưa,
khong tháng 4/2018 Ph r tôi đi trộm xe cùng Năm Già, Tý Lương, L1 K Ln ,
tôi đồng ý, khi đi xuất phát ti kho tru ca anh Phạm Văn B, tôi ch K Ln bng
xe Dream ca Ph, Năm Già ch Lương bằng xe Exciter của Năm Già, Ph ch
L1 không nh xe gì, khi đến cây xăng ngã ba đưng vào xã Tân Li Thnh, thì Ph
kêu tôi ngã ba đợi, còn Phú những người còn lại đi về ng Tân Li
Thnh, khong 20 phút sau thì thấy Năm Già đẩy Lương ngi trên xe Exciter
trộm được chy ngang qua ch tôi, Năm Già vy tay kêu tôi K Ln chy theo,
sau đó Ph kêu K Ln lên xe Exciter trộm được ngi Năm Già đẩy v nhà K Ln
(phù hp vi li khai ti các BL 1778; 1786).
Thành K, li khai: Ti BL 1552: V gia tháng 4/2018, tôi cùng Ph,
S1, Năm Già, Tý, L1 đến xã Tân Li Thnh trm xe Exciter màu sơn tím, tôi S1
dc cầu Hương Điểm đợi, còn Ph, Năm Già, Tý và L1 đi trộm. Sau khi trm xe do
xe không n nên Ph lái xe đẩy xe Exciter do cầm lái, khi ra đến cầu Hương
Đim tPh kêu tôi cm lái xe Exciter cho Năm Già đẩy v nhà ngoại tôi đ ct
giu xe, sau đó Phú ly s dng mt thi gian ri mang bán Bình Phước; V
chiếc xe FZ: v này do Ph, L1, Năm Già ly sau đó Ph đin thoi kêu tôi H1
đến chy xe FZ v kho nơi mua bán của B, sau đó đem bán Bình Phước do H1
đem bán; tôi biết Phú cùng Năm Già, Linh đi trộm khi xut phát ti kho cha
hàng ca Phạm Văn B, khi đi họ nói chuyn bàn bạc đi về ng Châu Hòa,
Phú có để ý trước đó rồi, tôi có mt ti kho nên tôi biết. Ti BL 1556: Xe Exciter tôi
cm xe cho Năm Già đẩy xe v nhà ngoi tôi ct giu”; Ti BL 1560: “khi đi trộm
xe S1 ch tôi, Phú (L ) ch L1, Năm Già ch Lương, khi đến ngã ba cây
xăng, Ph kêu tôi Sang đợi còn Phú cùng Năm Già, Tý Lương L1 r vào ngã
ba v Tân Li Thnh, khong 20 phút tthấy Năm Già ch L1 đẩy Lương
ngi trên xe Exciter trộm được chy ngang ch tôi, đi gần đến vòng xoay đầu tiên
thì Năm Già và Tý Lương dng lại, Năm Già kêu Ph chy xe trm v thì Ph u tôi
ngi lên xe cm lái cho Năm Già đẩy m Già ch Lương L1đẩy tôi v
đến nhà ti M Hòa Ba Tri, còn Sang Phú điều khiển xe đi một mình; Ti
BL 1565: Ph kêu tôi và Hào chy FZ mà Phú và Năm Già, L1 trộm được chy v
kho trấu”.
Nguyễn Văn Vũ L1, li khai: Ti BL 1313-1315: tôi trm xe cùng vi Ph
12
(H1), Năm Già, do Ph r (xe FZ); Sau khi phát hin xe Yamha FZ, Năm Già điều
khin xe dng kho vt liu xây dng, Năm Già vào kho phá khóa xe. Tôi và Phú
ngoài, sau đó Năm Già kêu tôi vào ph, i vào kho ph đẩy xe ra l mt đon t
Năm Già n máy và điều khin xe chạy đi; Phú đin thoi cho H1 và K Ln đến để
ly xe trm chy v kho; Ph và Năm Già giao xe cho H1 điu khin v kho anh Bé;
Ti BL 1317-1320: Khi đến xe Exciter thì tôi không thy, lúc này Năm Già ch tôi,
Phú ch Lương, Năm Già ch tôi qua khi v trí xe Exciter khong 100m, nên
không nhìn thy xe, mà khi Tý Lương dẫn xe Exciter ra l, tôi thấy Tý Lương lò mò
đầu xe, sau đó dẫn xe đi ng xe v ri Năm Già điều khin xe của Năm Già
đẩy xe Exciter trộm được do Lương (L2) ngồi điều khin; Không nh lúc trm
xe K Ln Sang đâu nhưng K Ln S1 không có khu vc xe Exciter b ly
trộm, trên đường mang xe trộm được v mt đon thì gp K Ln S1. Sau đó K
Ln ngi trên xe Exciter trộm được cho Năm Già đẩy v nhà ca K Ln ct giu”.
Trn Phi Long, li khai: Ti BL 2546: V th nht. Vào tháng 4/2018 lúc
trưa không nh ngày, tôi mt ti kho tru, lúc này Ph L1 C mt s
người bn ca Ph, người trong s người trên r đi trộm không nh ai, khi đi
trộm xe 6 ngưi gm: Ph ch tôi, C ch L1, còn hai ngưi không biết tên đi
chung, Ph dẫn đường đi tìm xe, đến ngã ba thì Ph kêu 2 người bn ca Ph li ngã
ba đợi, còn Ph ch tôi, C ch L1 chy theo Ph, t ngã ba vào mt đon tôi Ph
phát hin chiếc xe mô Exciter không người trông coi, dựng trước nhà ngưi dân
bên trái đường, lúc này C ch L1 đi tiếp vào trong, n Ph dng xe ngoài l phía
trước nhà có xe Exciter, tôi xuống xe đi vào vị trí xe Exciter dùng đoản b khóa, do
b b gãy đoản không b khóa được, nên tôi tr ra cho Ph chy theo C, khi gp C
(tên khác Năm Già) tôi nói b khóa chiếc xe b gãy đoản, C dng xe li tôi qua
xe cho C ch còn Ph ch L1, tt c quay li v trí chiếc Exciter, khi đến phía trước
nhà người n có chiếc Exciter dng, C dng xe cho tôi vào dn xe ra l, tôi lên xe
trộm đưc ngồi điều khiển tay lái cho C đẩy v, lúc này Ph ch L1 chy theo sau,
khi đi về đến ngã ba cây xăng rẽ trái đi mt đon thì gp hai người bn ca Ph đợi,
ri h chạy theo tôi và C, khi đến vòng xoay thì dừng xe, tôi đưa xe cho bạn ca Ph
ngồi trên xe điều khin cho C tiếp tục đẩy, tôi ngi sau xe C, xe trm được đẩy v
nhà bn ca Ph ct giu”.
Nguyn Anh H1 li khai: Ti BL 1651: Tôi Ph L1 Năm Già sự
tha thuận trước khi đi vào trộm được xe thì tôi s giúp đem xe về bến và đem xe đi
bán; Ti BL 1656: Sau khi v 6 khong 1-2 ngày, v này tôi không trc tiếp tham
gia, do Ph, L1 Năm Già trm xe FZ Châu Bình, sau đó Ph bo tôi K
Ln chy xe trộm được v kho anh Phạm Văn B, sau đó Ph kêu tôi chy lên tnh
Bình Phước giao cho v Năm Già, L1 sau đó chia tôi 2.000.000 đồng (phù hp li
khai ti BL 1660); BL 1671: ... Năm Già đưa tôi chiếc xe FZ va trộm được Ph
kêu tôi và K Ln chy v”.
Qua các li khai trên php nhau, Phù hp li khai tại phiên tòa thm,
phù hp vi ni dung mà Bn cáo trng và Bản án sơ thẩm đã xác định trong các v
Thành C tham gia (là ba v vi 03 xe: Xe Exciter bin s 71B2-965.39 tr
giá 39.700.000 đồng; xe FZ bin s 71B2-420.42 tr giá 45.900.000 đồng, trong
cốp xe FZ 2.500.000 đồng xe Kenpo bin s 63L1-5473 tr giá 3.500.000
đồng = 91.600.000 đồng) nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định Thành C đã có tham
13
gia thc hin các v trm các xe trên là có căn cứ.
[3] V ni dung: Tn cơ sở ni dung v án, căn c o các tài liu trong h sơ vụ
án đã đưc tranh tng tại phiên tòa, sở c định: Trong khoảng thời gian từ
ngày 21/02/2018 đến ngày 15/5/2018, Trường Phong L cùng đồng phạm thực
hiện 17 vụ trộm cắp xe trên địa bàn tỉnh Bến Tre thành phố Trà Vinh,
trong đó đem về kho trấu và chuồng heo của Phạm Văn B 15 vụ, Vũ Thành C tham
gia 03 vụ, cụ thể các vụ sau:
1- Vụ xảy ra vào đêm 21 rạng sáng ngày 22/02/2018: Trường Phong L
cùng Nguyễn Anh H1 chiếm đoạt xe Sirius biển số 71H7- 9913 của anh Ngô Trung
Nguyên, mang về chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. Cho Phạm Văn B 500.000
đồng. Xe biển số 71H7-9913 giá trị 4.000.000 đồng. Phạm Văn B đã
bồi thường cho anh N 1.333.000 đồng.
2- Vụ xảy ra o đêm 08 rạng sáng ngày 09/3/2018: Trường Phong L
cùng Nguyễn Dương K1, Nguyễn Anh H1 chiếm đoạt xe nhãn hiệu BEST biển số
71F7-2223 của Phạm Thị H mang về chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. Xe
biển số 71F7-2223 gtrị 2.500.000 đồng. Phạm Văn B đã bồi thường cho bị
hại 625.000 đồng.
3- Vụ xảy ra vào rạng sáng ngày 11/3/2018: Võ Trường Phong L cùng Dương
Minh S1, Nguyễn Dương K1, Nguyễn Anh H1, Trần Thành L2 chiếm đoạt xe
Dream biển s62F5-2586 của anh Phạm Văn Tr, L1 điều khiển về kho trấu cất
giấu. Sau đó, L bán xe 62F5-2586 cho Bé 1.000.000 đồng để trừ nợ trước đó; xe bị
hỏng nên Phạm Văn B tháo lấy sườn xe gắn vào máy chiếc xe biển số 71H1-2983
làm xe đầu kéo, còn các bộ phận khác thì quăng bỏ mất. Xe biển số 62F5-2586
giá trị là 2.500.000 đồng. Phạm Văn B đã bồi thường 416.000 đồng.
4- Vụ xảy ra cùng ngày 11/3/2018, sau khi Lộc điều khiển xe biển số 62F5-
2586 đi về trước, L cùng H1, S1 K tiếp tục đi trộm chiếm đoạt xe biển số
71K8-0144 của anh Nguyễn Minh Ch , H1điều khiển xe về kho trấu của Phạm Văn
B. Do xe không bán được, L cho Phạm Văn B chiếc xe biển số 71K8-0144 để sử
dụng. Xe biển số 71K8-0144 trị giá 3.500.000 đồng. Bé đã giao trả xe cho anh Ch.
5- Vụ vào đêm 18/3/2018, Võ Trường Phong L cùng Dương Minh S1 ,
Nguyễn Anh H1, Thành K, Nguyễn ơng K1, Trần Thành L2 chiếm đoạt xe
mô tô biển số 71H8-6256 của anh Lê Văn H mang về chuồng heo của Phạm Văn B
cất giấu. Sang sử dụng, xe đã thu hồi trả cho anh H. Xe 71H8-6256 trị giá
2.500.000 đồng.
6- Vụ ngày 20/3/2018: Nguyễn Văn L1 cùng Trường Phong L, Trịnh
Phương B, Nguyễn Anh H1, Dương Minh S1 Đỗ Đức H đến thành phố Trà
Vinh, chiếm đoạt xe mô tô AirBlade biển số 84E1-120.75 của anh Sơn Chanh ĐR ,
H1B thay phiên điều khiển xe biển s84E1-120.75 cùng với S1, L1, H1, L về
chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. L trả Phạm Văn B 500.000 đồng, xe đã thu
giữ và trả cho anh ĐR. Xe biển số 84E1-120.75 trị giá 15.000.000 đồng.
7- Vụ xảy ra vào đêm 20/3/2018: Trường Phong L cùng Trịnh Phương B
chiếm đoạt xe mô PCX biển số 71B2-119.08 của chị ThG điều khiển về
14
chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. Bán xe L trả 500.000đ, xe PCX biển số
71B2-119.08 trị giá 33.500.000đ. Phạm Văn B đã bồi thường 11.167.000 đồng.
8- Vụ xảy ra vào đêm 26 rạng ng ngày 27/3/2018, Trường Phong L
cùng Nguyễn Anh H1, Thành K, Nguyễn Dương K1 chiếm đoạt xe biển
s71H1-2989 của anh Minh Ch , thay phiên đẩy về chuồng heo của Phạm Văn
B cất giấu. Sau đó, L tháo máy của xe biển số 71H1-2989 rồi gắn vào xe đầu kéo
cho sử dụng các bộ phận khác của xe thì ném bỏ, xe trị giá 3.000.000 đồng.
Phạm Văn B đã bồi thường 600.000 đồng.
9- Vụ ngày 18/4/2018: vào lúc 09 giờ, Võ Trường Phong L cùng Vũ Thành C
, Nguyễn Văn L1, Trần Phi L2 (Tý Lương), Thành K Dương Minh S1
chiếm đoạt xe tô Exciter biển số 71B2-965.39 của anh Văn S đem về n
Võ Thành K cất giấu. Xe trị giá 39.700.000 đồng.
10- Vụ vào đêm 18 rạng 19/4/2018 Trần Phi L2 (Tý Lương) cùng Nguyễn
Anh H1 chiếm đoạt xe Wave S biển số 79H3-3579 của anh Quốc Việt rồi điều
khiển xe về kho trấu cất giấu. DK đem xe lên Bình Phước giao cho vợ Năm Già
được trả công 2.000.000 đồng. Xe biển số 79H3-3579 trị giá 5.500.000 đồng.
11- Vụ xảy ra vào đêm 18 rạng ngày 19/4/2018: L cùng Thành C, Nguyễn
Văn Vũ L1 chiếm đoạt xe FZ biển số 71B2-420.42 của chị Nguyễn Thị AT đem xe
về kho trấu, trong cốp xe 2.500.000 đồng. H1 đem xe lên Bình Phước giao cho
vợ Năm Già được trả công 2.000.000 đồng. Xe biển số 71B2-420.42 trị giá
45.900.000 đồng.
12- Vxảy ra cùng ngày 19/4/2018: Sau khi L1, H1, K1 điều khiển xe biển số
71B2-420.42 về, L cùng Thành C đi bằng xe Exciter của C tiếp tục đi trộm xe
chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu KENPO biển số 63L1-5473 của Nguyễn Thị
Ng đem về kho trấu cất giấu. Xe cho S1 sử dụng, xe đã thu hồi. Xe biển số 63L1-
5473 trị giá 3.500.000 đồng.
13- Vụ xảy ra đêm 20 rạng sáng ngày 21/4/2018, Trường Phong L cùng
Võ Thành K, Nguyễn Anh H1, Dương Minh S1 chiếm đoạt xe biển số 71B3-270.25
của anh Trịnh Hữu D đem về kho trấu cất giấu. Xe biển số 71B3-270.25 trị
giá 4.500.000đ. Phạm Văn B đã bồi thường 900.000 đồng.
14- Vụ ngày 22/4/2018: Trần Văn Qu, Trịnh Phương B cùng Trường
Phong L, Nguyễn Anh H1 chiếm đoạt xe mô tô biển số 71C1-338.92 của chị Lê Thị
Mỹ Linh đem về chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu. Trong cốp xe số tiền
1.750.000 đồng cùng Giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe.
L trả cho Bé 500.000 đồng, xe biển số 71C1-338.92 trị giá 14.800.000 đồng.
15- Vụ khoảng 08 giờ ngày 27/4/2018: Võ Trường Phong L cùng Trịnh
Phương B, Dương Minh S1 , Thành K chiếm đoạt xe Exciter biển số 71B2-
760.13 của anh Huỳnh Khắc H đem về chuồng heo của Phạm Văn B cất giấu.
Trong cốp xe có bóp da bên trong có Giấy chứng minh nhân dân, thẻ ATM mang đi
đốt, Bắc bán xe L trả cho Phạm Văn B 500.000 đồng. Xe biển số 71B2-
760.13 trị giá 35.700.000 đồng. Phạm Văn B, B đã bồi thường mỗi người số tiền
8.925.000 đồng.
15
16- Vụ vào đêm 27/4/2018, Trường Phong L cùng Dương Minh S1 , Trịnh
Phương B người n Cu chiếm đoạt xe mô hiệu Suzuki biển số 95B1-131.13
của anh Trần Văn S chạy về chuồng heo cất giấu. Xe trên giá trị 68.000.000
đồng. Xe đã được thu hồi và đã trả cho anh Trần Văn S.
Bị cáo Thành C không thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tuy
nhiên qua các chứng cứ chứng minh từ lời khai của các đồng phạm đã thực hiện các
vụ bị cáo Công tham gia như: Trường Phong L, Thành K, Dương Minh
S1, Nguyễn Anh H1, Nguyễn Văn L1, Trần Phi L2 phù hợp nhau, nên Tòa án
cấp thẩm xác định Thành C tham gia 03 vụ trong đó trực tiếp thực hành 02
vụ và giúp sức 01 vụ. Với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 91.600.000 đồng
căn cứ.
Đối với bị cáo Phạm Văn B thỏa thuận cho mượn nơi (như chuồng heo, kho)
làm nơi chứa tài sản khi chiếm đoạt được mang về cất giấu, được nhận lợi ích sau
khi chiếm đoạt được xe hoặc được cho xe đsử dụng đã tạo điều kiện cho
Trường Phong L cùng đồng phạm thực hiện nhiều vụ chiếm đoạt tài sản của người
khác, hành vi và ý thức của Phạm Văn B là đồng phạm với vai trò giúp sức cùng tội
danh trộm cắp tài sản trong 15 vụ trộm, 15 xe máy và tiền trong xe với tổng giá
trị tài sản chiếm đoạt là 248.650.000 đồng.
[4] Với ý thức, hành vi giá trị tài sản Thành C đồng phạm đã
chiếm đoạt; hành vi, ý thức của Phạm Văn B giá trị tài sản đồng phạm đã
chiếm đoạt. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Phạm Văn B , Thành
C phạm “Tội trộm cắp tài sản” trong đó Phạm Văn B theo điểm a khoản 3 Điều 173
Bộ luật Hình sự; Thành C theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự
căn cứ đúng quy định pháp luật.
đủ căn cứ xác định bị cáo Thành C phạm “Tội trộm cắp tài sản” nên
kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo không có
sở chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn B, thấy rằng Tòa án cấp thẩm đã
xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo thể hiện
như: Bcáo nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự. Tình tiết tăng nặng: Phạm
tội 02 lần trở lên. Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo
đã bồi thường cho bị hại theo thỏa thuận, bị cáo có bà nội (Nguyễn Thị T) được
Truy tặng mViệt Nam anh hùng, các bác ruột (ông Phạm Văn B1, ông Phạm
Văn L3) là liệt sĩ, cha của bị cáo (ông Phạm Văn S) là thương binh ¾ và được tặng
Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, ngoại (bà Thị C1) được tặng danh hiệu mẹ
Việt Nam anh hùng, ông ngoại được tăng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, có các cậu là
liệt sĩ và thương binh theo điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại
phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng hoàn cảnh khó khăn cha mẹ bị bệnh khp
(có giấy khám bệnh), 02 con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình để yêu
cầu được hưởng án treo. Xét yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo Bé, thấy rằng
bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” không đủ điều kiện
được hưởng án treo nên kng được chấp nhận. Xét yêu cầu giảm nhẹ hình phạt tù,
thấy rằng sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có nộp số tiền để bồi thường thiệt hại cho bị
hại theo Bản án thẩm buộc bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị AT 7.650.000
16
đồng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn cha, mẹ bị bệnh, 02 con còn nhỏ, bị
cáo lao động chính trong gia đình. Bị cáo thêm tình tiết giảm nhẹ mới
nhiều tình tiết giảm nhẹ như án sơ thẩm đã áp dụng (gia đình bị cáo có nhiều người
thân công đất nước) nên giảm thêm một phần hình phạt cho bị cáo theo đề nghị
của Kiểm sát viên cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo, chấp nhn kháng cáo giảm hình
phạt tù cho bị cáo sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Văn B.
Đối vi b cáo Thành C kháng cáo kêu oan, không yêu cu xem xét v
hình phạt tù do xác định b cáo có ti nên hình phạt đi vi b cáo được gi nguyên.
[6] V án phí: B cáo C phi chu án pphúc thẩm do kháng cáo không được
chp nhn; b cáo Bé không phi chu án phí phúc thm.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ đim a khon 1 Điu 355; Điều 356 B lut T tng Hình s i
vi b cáo Công); điểm b khoản 1 Điều 355; đim c khoản 1 Điều 357 ca B lut
T tng Hình s i vi b cáo Phạm Văn B). Không chp nhn kháng cáo ca b
cáo Công; Chp nhn mt phn kháng cáo ca b cáo Phạm Văn B, gim hình pht
cho b cáo Phạm Văn B.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B, Vũ Thành C phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng đim a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khon 1, khoản 2 Điều 51;
đim g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điu 17; Điu 38 B lut Hình s năm 2015 đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
X pht b cáo Phạm Văn B 02 (Hai) năm tù. Thi hn tính t ngày b cáo
chp hành hình pht tù.
- Áp dng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điu 17; Điều
38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử thạt bị cáo Thành C (Năm Già) 04 (Bn) năm tù. Thời hạn tính từ
ngày 26/5/2018.
[2] V án phí: Căn cứ vào Điều 136 ca B lut T tng Hình s; Điu 23 ca
Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc
hi. B cáo Thành C phi np 200.000 (Hai trăm ngàn) đng án phí hình s
phúc thm. B cáo Phạm Văn B không phi np án phí hình s phúc thm.
[3] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhn:
- V GĐKT I - Tòa án nhân dân ti cao (1b);
- VKSND tnh Bến Tre (1b);
- S Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b)
- Phòng h sơ Công an tỉnh Bến Tre (1b);
- Tòa án nhân dân huyn GT (6b);
- Công an và VKSND huyn GT (2b)
TM.HỘI ĐNG XT X PHC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
17
- Chi cc THADS huyn GT (1b);
- UBND LM- GT; LT LN Bình Phước
(2b);
- B cáo (01 tm giam, 01 ti ngoi) (2b);
- Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng
TAND tnh Bến Tre (5b);
- L h sơ vụ án (1b).
Phạm Văn Tỉnh
Tải về
Bản án số 66/2019/HS-PT Bản án số 66/2019/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất