Bản án số 64/2021/HS-ST ngày 01/12/2021 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 64/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 64/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 64/2021/HS-ST ngày 01/12/2021 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tứ Kỳ (TAND tỉnh Hải Dương) |
| Số hiệu: | 64/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/12/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 64/2021/HS- ST
Ngày: 01- 12 - 2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Chu Quang Liêm.
2. Bà Vũ Thị Bền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Đình Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2021/TLST- HS ngày 25 tháng 10 năm
2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2021/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 11 năm
2021; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 06/2021/TB-TA ngày 12 tháng
11 năm 2021; Thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 08/2021/TB-TA ngày 24
tháng 11 năm 2021; đối với bị cáo:
Lê Thị Tr, sinh năm 1993 tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn K, xã N
Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao đng tự do; trình đ văn ha: 12/12; dân
tc: Kinh; giới tnh: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Vũ Thị
H; chồng Trịnh Công Đ (đã ly hôn năm 2019) có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định
số 12/2019/QĐ- TA ngày 10/5/2019 TAND Quận Hải An, thành phố Hải Phòng áp dụng biện
pháp xử lý hành chnh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buc đối với Tr, thời hạn chấp hành tại cơ sở
cai nghiện bắt buc là 12 tháng. Tr chấp hành xong ngày 18/4/2020. Bị tạm giữ, tạm giam từ
ngày 26/7/2021 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương). C mặt.
Người làm chứng: Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Ô, xã H, huyện
Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, ni dung vụ án được
tm tắt như sau:
Lê Thị Tr là người nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 26/7/2021 khi Tr đang ở nhà
tại thôn K, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương thì c người đàn ông tên T khoảng 45 tuổi (là
người quen ngoài xã hi, không biết cụ thể họ, địa chỉ) đến nhà nhờ Tr đi ra cây xăng xã
2
Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ lấy ma túy tổng hợp về cùng T sử dụng. Tr đồng ý, sau đ đi b
mt mình từ nhà qua hầm chui cao tốc Hà Ni-Hải Phòng đến cây xăng Hưng Đạo thuc
thôn Ô, xã Hưng Đạo thấy c 01 nam thanh niên đeo khẩu trang, thấy Tr nam thanh niên hỏi
"Em là bạn của T à", Tr trả lời "Vâng". Sau đ nam thanh niên đưa cho Tr 01 túi nilon chứa
ma túy tổng hợp kch thước (16x2) cm bên ngoài được quấn băng dnh màu xanh. Tr cầm gi
ma túy giấu vào lòng bàn tay phải đi b theo đường cũ về nhà. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng
ngày, khi Tr đang đi trên khu vực đường bê tông khu vực cánh đồng thuc thôn Ô M, xã
Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện. Khi thấy lực
lượng Công an đến Tr ném túi ma túy từ lòng bàn tay phải xuống vị tr rãnh nước bên cạnh
đường. Cơ quan điều tra thu giữ tại vị tr rãnh nước cách vị tr Tr đang đứng 01 m, 01 túi
nilon màu trắng, bên ngoài túi nilon được quấn băng dnh màu xanh. Tr khai nhận đây là túi
nilon chứa ma túy đá mà trước đ Tr được T nhờ lấy, mục đch về cùng T sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 470/KLGĐ-PC 09 ngày 29-7-2021 của Phòng kỹ thuật hình
sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng ghi thu của Lê Thị
Tr gửi đến giám định c khối lượng 0,288 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 65/CT - VKSTK ngày 22-10-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ
Kỳ truy tố Lê Thị Tr về ti “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249
của B luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm ti của mình, công nhận
quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng, bị cáo xác định đã có hành vi tàng trữ
trái phép chất ma túy như đã nêu trên và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp
nhất.
Anh Nguyễn Hoàng V là người làm chưng vắng mặt, c lời khai tại Cơ quan CSĐT
Công an huyện Tứ Kỳ xác định: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 26/7/2021 được chứng kiến
việc lực lượng Công an thu giữ tại mương nước cạnh đường cách vị tr Tr đứng khoảng 1m
01 túi nilon kch thước (1,6x2) cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng dạng đá, Tr khai
nhận là ma túy được người đàn ông tên T nhờ đến lấy h về để cùng nhau sử dụng.
VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hi đồng xét xử
(HĐXX) tuyên bố bị cáo Lê Thị Tr phạm ti "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm
c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Thị Tr từ 14
tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tnh từ ngày bắt tạm giữ, ngày 26/7/2021; không áp dụng
hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a
khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy đối với 0,252 gam ma túy, loại
Methamphetamine, vỏ bao gi, băng dnh màu xanh là mẫu vật hoàn lại sau giám định; bị cáo
phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở ni dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng
tại phiên tòa, Hi đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát
nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
3
thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của B luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị
cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với chnh lời khai của bị cáo trong quá
trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm ti quả tang, người chứng kiến, vật chứng
đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập c trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hi đồng
xét xử c đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 26-7-2021, tại đường bê tông cánh
đồng thôn Ô, xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Lê Thị Tr c hành vi cất giấu trái
phép 0,288 gam ma túy, loại Methamphetamine để tại lòng bàn tay phải, thì bị Cơ quan CSĐT
Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, khi bị phát hiện Tr đã vứt số ma túy nêu trên mương nước
cạnh nơi Tr đứng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ đã thu giữ vật chứng.
[3] Bị cáo là người c đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi
tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện tàng trữ 0,288
gam ma túy, là loại Methamphetamine để sử dụng, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành
ti "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Như
vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hi, xâm phạm đến quy định của nhà nước
về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hi, nên cần phải được xử lý nghiêm
minh theo quy định của pháp luật.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo c 01 tiền sự
Năm 2019 bị TAND quận Hải An, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chnh
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buc thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buc là 12 tháng,
Tr chấp hành xong ngày 18/4/2020; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự nào; Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm ti
của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
[6] Căn cứ quy định của B luật Hình sự, cân nhắc tnh chất, mức đ nguy hiểm cho xã
hi của hành vi phạm ti, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự,
HĐXX cần áp dụng hình phạt tù c thời hạn đối với bị cáo mt thời gian thì mới c tác dụng
giáo dục bị cáo trở thành người tốt và đấu tranh phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị nghiện ma túy, không c tài sản riêng nên không áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,252 gam ma túy, loại Methamphetamine (do cơ quan
giám định hoàn lại) là vật nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu cho tiêu huỷ vỏ bao gi,
băng dnh màu xanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.
[9] Trong vụ án này, theo lời khai của Tr được Đoàn Văn T, sinh năm 1973 ở Thôn Ô, xã
Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ nhờ đến gặp nam thanh niên không rõ tên tuổi địa chỉ để lấy ma túy. Cơ
quan CSĐT tiến hành các hoạt đồng điều tra đối với T, tuy nhiên T xác định không quen biết Tr,
không nhờ Tr đi lấy ma túy, ngoài lời khai của Tr không còn chứng cứ nào khác xác định T nhờ
Tr đi lấy ma túy nên không c căn cứ xử lý đối với T.
4
[10] Về án phí: Bị cáo phạm ti nên phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS;
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Tr phạm ti "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị
cáo Lê Thị Tr 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành phạt tù tnh từ ngày bắt tạm giữ,
ngày 26/7/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều
106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,252 gam ma túy, loại Methamphetamine và vỏ bao gói,
băng dnh màu xanh (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan
CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 04-11-2021).
3. Về án ph: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hi về mức
thu, miễn, giảm, thu, np, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Toà án. Xử buc bị cáo Lê Thị
Tr phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án ph hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm
ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
-VKSND huyện Tứ Kỳ;
- Cơ quan CSĐT, Cơ quan T.H.A. HS - Công an
huyện Tứ Kỳ;
- Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
- Hồ sơ nghiệp vụ- Công an huyện Tứ Kỳ;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Tú
5
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng