Bản án số 64/2020/HS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội về tội cướp giật tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 64/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 64/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 64/2020/HS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội về tội cướp giật tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ứng Hòa (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 64/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/09/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
inhTÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI
Bản án số: 64/2020/HS-ST
Ngày: 29-9-2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà
Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2020/TLST-HS
ngày 15 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
70/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:
Dƣơng Văn M, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã L1, huyện M,
TP. Hà Nội; nghề ngH: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H1
(đã chết), bà Trương Thị L3; vợ, con: chưa có;
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt theo Lệnh “Bắt người bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp”,
bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ứng Hoà, sau chuyển trại
tạm giam số 2- Công an thành phố Hà Nội giam giữ từ ngày 25/5/2020 đến nay
(có mặt)
Phạm Trọng H, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã L1, huyện M,
TP. Hà Nội; nghề ngH: làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng H2, bà
Nguyễn Thị C; vợ, con: chưa có;
Tiền án: Ngày 24/7/2017, bị TAND huyện M xử phạt 42 tháng tù, về tội:
“Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2019.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt theo Lệnh: “bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”, bị
tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2020 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm
giam số 02- Công an TP. Hà Nội (có mặt)
* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Phương T– sinh năm 1997 (vắng mặt)
2
Nơi ĐKHKTT: Thôn T1, xã K huyện Ư, TP. Hà Nội
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị C– sinh năm 1969 (có mặt)
+ Chị Dương Thị N – sinh năm 1996 (có mặt)
Đều có HKTT: Thôn L, xã L1, huyện M, TP. Hà Nội
* Người làm chứng:
+ Chị Lưu Thị H4 – sinh năm 1996 (vắng mặt)
HKTT: Thôn K, xã Đồng T, huyện Ư, TP. Hà Nội
+ Anh Đặng Xuân H5 – sinh năm 1973 (vắng mặt)
HKTT: Thôn N, xã P, huyện Ư, TP. Hà Nội
+ Anh Trương Văn T – sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã L1, huyện M, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 23/5/2020 Dương Văn M- sinh năm 1997 ở L, L1, M, Hà Nội
gọi điện thoại cho Phạm Trọng H - sinh năm 1990 ở cùng thôn rủ đi mua ma túy
về sử dụng chung, H đồng ý và hẹn đến trưa; khoảng 12 giờ cùng ngày M điều
khiển xe máy Wave màu xanh ngọc, đeo biển kiểm soát: 29L1- 68814 chở H
đến khu vực thôn Hậu Xá, xã Phương Tú tìm mua của một người đàn ông
không quen biết 100.000 đồng được một gói nhỏ ma túy, cả hai ra cánh đồng
thôn Phí Trạch dùng xi lanh đã mang theo từ trước chia đôi ma túy, mỗi người
một xi lanh và trích hết; sau đó cả hai đi về, theo hướng Phương Tú - Vân Đình,
khi đang đi trên đường Tỉnh lộ 428, thuộc địa phận thôn Nguyễn Xá, xã Phương
Tú thì cả hai phát hiện chị Nguyễn Thị Phương T - sinh năm 1997 ở Tu Lễ, Kim
Đường điều khiển xe máy đi hướng ngược chiều (Vân Đình - Phương Tú), đeo
một túi xách chéo qua người quay túi ra sau lưng; H nói với M: “em đi áp sát để
anh giật túi xách”, M đồng ý, liền dừng xe, quay đầu rồi tăng tốc đuổi theo, cho
xe áp sát xe của chị T, H ngồi sau dùng tay giật mạnh túi xách, M nghe thấy
tiếng “cạch” và biết là đã giật được nên tăng ga phóng nhanh bỏ chạy về phía
làng Phí Trạch ra cánh đồng, chị T cùng một số người dân đuổi theo nhưng
không kịp, xong chị đến Công an xã Phương Tú trình báo.
Khi tới nghĩa trang thôn Phí Trạch, thấy không có ai, M và H bỏ túi xách ra
kiểm tra thấy 01 điện thoại OPPO F1S màu H4, số tiền 123.000 đồng (một trăm
hai mươi ba nghìn đồng), 01 thẻ ATM ngân hàng Agribank, 01 chứng M thư
nhân dân và 01 đăng ký xe mô tô đều mang tên Nguyễn Thị M T, lúc này M nói
với H để lại chiếc điện thoại cho M dùng; khi về đến Chợ Xuy Xá, M, M bảo H
đứng chờ để M về lấy tiền. Sau đó, M về nhà giấu chiếc túi xách ở buồng ngủ
của mình rồi xin mẹ là bà Trương Thị Long số tiền 500.000 đồng (năm trăm
nghìn đồng) để mua điện thoại rồi cầm tiền ra đưa cho H, song cả hai lại đi đến
3
Hậu Xá, Phương Tú tìm mua ma túy để sử dụng nhưng không mua được nên đã
cùng nhau ăn uống, tiêu sài hết số tiền trên rồi đi về. Khi về nhà M mang vứt túi
xách cùng các giấy tờ vào khe tường nhà mình; đến khoảng 18 giờ cùng ngày M
mang chiếc điện thoại cướp giật được đến cửa hàng sửa chữa điện thoại của anh
Trương Văn T- sinh năm 1993 ở cùng thôn để chạy lại phần mềm.
Ngày 25/5/2020, khoảng 07
h
45’ M đi làm về qua địa phận xã Phương Tú,
bị Công an xã Phương Tú kiểm tra hành Ch, biết không thể che giấu được hành
vi phạm tội của mình, M đã khai nhận hành vi cùng với Phạm Trọng H cướp
giật túi xách ngày 23/5/2020.
Cùng ngày 25/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ứng Hòa
đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Dương Văn M và
Phạm Trọng H.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29L1- 68814;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu H4 có số IMEL1:
863091036607476, số IMEL2: 863091036607468 (Bên trong không lắp sim), đã
qua sử dụng;
- 01 chiếc sim điện thoại Viettel số seri 89840-48000-00419-6595; số thuê
bao 0974035923.
- 01 túi xách bằng da, màu xám kích thước (25x30)cm, có nắp cài, dây đeo
bằng da cùng màu; 01 thẻ ATM ngân hàng Agribank, 01 chứng M thư nhân dân
và 01 đăng ký xe mô tô đều mang tên Nguyễn Thị M T.
- 01 điện thoại Nokia 106.1 màu đen, mặt ốp nhựa sau gần camera bị tách
vỡ, đã qua sử dụng; (của Phạm Trọng H).
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 màu vàng đồng, góc dưới bên
trái mặt kính trước bị vỡ, đã qua sử dụng; (của Dương Văn M).
- 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh trắng xám, không có nhãn mác, đã
qua sử dụng;
- 01 quần đùi màu đen có nhãn hiệu Lagot, đã qua sử dụng;
- 01 áo phông cộc tay màu đen nhãn hiệu CHRISTIAN DIOR, mặt trước áo
có hoa văn màu xanh H4 trắng, đã qua sử dụng;
- 01 áo ba lỗ màu xám, trên cổ áo có chữ “Fashion STYLE T- T madein
Vietnam”, ngực áo có chữ “LIVE FIT APPAREL”, đã qua sử dụng;
- 01 quần đùi màu đen, phía dưới ống quần bên trái có chữ UNIQLO;
- 01 đôi dép bằng cao su màu đen, phía trên quai dép có gạch kẻ màu trắng;
- 01 đôi dép bằng cao su màu đen, trên dép có chữ SPORT, đã qua sử dụng.
Ngày 23/7/2020, Cơ quan CSĐT đã Yêu cầu định giá tài sản đối với các
tài sản M, H cướp giật được ở trên. Kết quả tại Kết luận định giá tài sản số
32/KL-HĐĐG TS, ngày 27/7/2020 của HĐĐG.TS trong tố tụng hình sự huyện
Ứng Hòa kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1s, Ram 3GB,
bộ nhớ trong 32GB, màn hình IPS LCD 5,5 inch, trị giá 1.900.000 đồng; 01 sim
điện thoại Viettel số 0974035923 đã qua sử dụng, trị giá 50.000 đồng. Tổng
cộng là: 1.950.000đ (một triệu C trăm năm mươi nghìn đồng).
4
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 14 tháng 9
năm 2020 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo
Dương Văn M và Phạm Trọng H về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại
điểm d khoản 2 Điều 171 của BLHS.
Tại phiên toà: Các bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với
H); điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 xử phạt bị cáo M từ 36 tháng tù đến 40
tháng tù; bị cáo H từ 42 tháng tù đến 45 tháng tù; thời gian tính từ ngày tạm
giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
+ Về vật chứng:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe máy Honda Wave màu
xanh, đeo biển 29L1- 68814; 01 điện thoại Nokia 106.1 màu đen, mặt ốp nhựa
sau gần camera bị tách vỡ (của Phạm Trọng H); 01 điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO F5 màu vàng đồng, góc dưới bên trái mặt kính trước bị vỡ (của Dương
Văn M);
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh trắng xám, không
có nhãn mác, 01 quần đùi màu đen có nhãn hiệu Lagot, 01 áo phông cộc tay
màu đen nhãn hiệu CHRISTIAN DIOR, mặt trước áo có hoa văn màu xanh H4
trắng, 01 áo ba lỗ màu xám, trên cổ áo có chữ “Fashion STYLE T- T madein
Vietnam”, ngực áo có chữ “LIVE FIT APPAREL”, 01 quần đùi màu đen, phía
dưới ống quần bên trái có chữ UNIQLO, 01 đôi dép bằng cao su màu đen, phía
trên quai dép có gạch kẻ màu trắng, 01 đôi dép bằng cao su màu đen, trên dép có
chữ SPORT, đều đã qua sử dụng.
+ Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết
quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ
và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét
lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại, người liên
quan; vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp
pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Trưa ngày 23/5/2020
Dương Văn M và Phạm Trọng H đã thực hiện hành vi: M điều khiển xe mô tô
biển kiểm soát 29L1-688.14 áp sát vào xe mô tô do chị Nguyễn Thị M T- sinh
5
năm 1997 ở Tu Lễ, Kim Đường điều khiển đi trên đường 428, hướng Vân Đình-
Phương Tú, thuộc địa phận Nguyễn Xá, Phương Tú, Ứng Hòa để H ngồi sau
dùng tay phải giật chiếc túi xách đeo trên người chị T, bên trong có 123.000
đồng, 01 điện thoại di động OPPO F1s màu H4, 01 thẻ ATM ngân hàng
Agribank, 01 chứng M thư nhân dân và 01 đăng ký xe mô tô; chiếm đoạt tài sản
có tổng trị giá là: 2.073.000đ (hai triệu không trăm bảy mươi ba nghìn đồng).
Như vậy, hành vi trên của Dương Văn M và Phạm Trọng H đã phạm vào
tội: “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 171 BLHS. Cáo
trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có
căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét, hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm, không
chỉ xâm phạm đến quyền sở H5 tài sản, đến trật tự công cộng mà còn ảnh hưởng
xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở nhiều địa phương. Bản thân các bị cáo đều có
đủ năng lực chịu trách hiệm hình sự và nhận thực được hành vi vi phạm phạm
luật của mình. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để
cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Xem xét về tính chất, vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi
phạm tội: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn; không có sự bàn
bạc trước nhưng các bị cáo tự tiếp nhận ý chí của nhau. Bị cáo H đã có tiền án
về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên phải chịu
mức hình phạt cao hơn.
[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho các bị cáo trong vụ án:
Bị cáo H bị TAND huyện M xử phạt 42 tháng tù, về tội: “Mua bán trái phép
chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2019 đến ngày phạm tội
chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy
định tại điểm h khoản1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động đến người thân khắc
phục hậu quả; bị cáo M phạm tội lần đầu là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS .
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy,
không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình
phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Đối với anh Trương Văn T- sinh năm 1993 là chủ cửa hàng điện thoại,
ngày 25/5/2020 có nhận chiếc điện thoại OPPO F1s do Dương Văn M mang đến
để chạy phần mềm, anh không biết đó là tài sản do M cướp giật mà có; Cơ quan
CSĐT không đề cập xử lý là có căn cứ.
[7] Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận ngày 23/5/2020, H, M đến khu
vực Hậu Xá, Phương Tú tìm mua ma túy của một người đàn ông không quen
biết, không rõ tên, tuổi địa chỉ ở đâu và đã sử dụng hết, khi mua chỉ có 02 người
với nhau, diễn ra ở ngoài đường nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xác
M làm rõ xử lý trong vụ án này.
6
[8] Ngày 28/7/2020, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hòa đã ra Quyết
định xử lý vật chứng số 27, bằng hình thức trả lại cho chị Nguyễn Thị M T 01
điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1s màu H4 đã qua sử dụng; 01 chiếc sim
điện thoại Viettel số thuê bao 0974035923; 01 túi xách bằng da, màu xám kích
thước (25x30)cm, có nắp cài; 01 thẻ ATM ngân hàng Agribank, 01 chứng M thư
nhân dân và 01 đăng ký xe mô tô.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị M T đã nhận lại tài sản cùng
các giấy tờ liên quan đầy đủ và không đè nghị gì về dân sự. Đối với số tiền
123.000 đồng M và H chiếm đoạt, bà Nguyễn Thị C (là mẹ của bị cáo H) tự
nguyện bỏ ra 63.000 đồng; chị Dương Thị N (là chị gái của bị cáo M) tự nguyện
bỏ ra 60.000 đồng để bồi thường cho chị Nguyễn Thị M T, họ đều có quan điểm
cho, không đề nghị các bị can phải bồi thường.
[10] Về vật chứng:
Đối với chiếc xe máy Honda Wave, đeo biển số: 29L1- 688.14; số khung
RLHHC1258FY083468, số máy HC12E708552. Qua tra cứu, xác M thì chiếc xe
trên không thuộc vật chứng của vụ án nào; chiếc biển số 29L1- 688.14 xác định
là biển số của chiếc xe honda Wave màu xanh đen bạc số khung RLHJA
3907HY 569706; số máy JA39E0544847 chủ xe là chị Đỗ Thị Thanh Nhàn ở tổ
dân phố số 7, Phú Mỹ, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội nhưng biển kiểm soát
này không trùng với số khung, số máy của chiếc xe thu giữ được. Qua xác M
Công an phường Mỹ Đình 2 cung cấp công dân Đỗ Thị Thanh Nhàn không còn
cư trú tại địa bàn từ năm 2015, hiện chưa xác định được nơi cư trú; tra cứu đối
với số khung, số máy của chiếc xe vật chứng thì không có dữ liệu tra cứu theo
chỉ tiêu tìm kiếm. Vì vậy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước phù hợp
với quy định cảu pháp luật.
Đối với 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh trắng xám, không có nhãn
mác, 01 quần đùi màu đen có nhãn hiệu Lagot, 01 áo phông cộc tay màu đen
nhãn hiệu CHRISTIAN DIOR, mặt trước áo có hoa văn màu xanh H4 trắng, 01
áo ba lỗ màu xám, trên cổ áo có chữ “Fashion STYLE T- T madein Vietnam”,
ngực áo có chữ “LIVE FIT APPAREL”, 01 quần đùi màu đen, phía dưới ống
quần bên trái có chữ UNIQLO, 01 đôi dép bằng cao su màu đen, phía trên quai
dép có gạch kẻ màu trắng, 01 đôi dép bằng cao su màu đen, trên dép có chữ
SPORT, đều đã qua sử dụng thu của các bị cáo, các bị cáo không có ý kiến gì đề
nghị giải quyết theo quy định của pháp luật nên cần tịch thu tiêu hủy.
Do vậy, Hội đồng xét xử cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước và tịch
thu tiêu hủy số vật chứng nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 46, Điều 47
BLHS và Điều 106 BLTTHS.
[11] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị
7
cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo
theo quy định tại Điều 331, Điều 333BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s
khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS đối với bị cáo H;
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38 của BLHS đối với bị cáo M;
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của BLHS;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của
BLTTHS.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn M và Phạm Trọng H phạm tội “Cướp giật
tài sản”.
2. Xử phạt:
+ Phạm Trọng H 38 ( Ba mƣơi tám ) tháng tù tính từ ngày bắt tạm giữ,
tạm giam ngày 25/5/2020.
+ Dương Văn M 36 (Ba mƣơi sáu) tháng tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm
giam ngày 25/5/2020.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe máy Honda Wave màu
xanh BKS: 29L1- 68814; 01 điện thoại Nokia 106.1 màu đen, mặt ốp nhựa sau
gần camera bị tách vỡ (của Phạm Trọng H); 01 điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO F5 màu vàng đồng, góc dưới bên trái mặt kính trước bị vỡ (của Dương
Văn M);
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh trắng xám, không
có nhãn mác; 01 quần đùi màu đen có nhãn hiệu Lacot; 01 áo phông cộc tay
màu đen nhãn hiệu CHRISTIAN DIOR, mặt trước áo có hoa văn màu xanh H4
trắng; 01 áo ba lỗ màu xám, trên cổ áo có chữ “Fashion STYLE T- T madein
Vietnam”, ngực áo có chữ “LIVE FIT APPAREL”; 01 quần đùi màu đen, phía
dưới ống quần bên trái có chữ UNIQLO; 01 đôi dép bằng cao su màu đen, phía
trên quai dép có gạch kẻ màu trắng; 01 đôi dép bằng cao su màu đen, trên dép có
chữ SPORT, đều đã qua sử dụng
(Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục
thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 28/9/2020)

8
4. Về án phí: Bị cáo Dương Văn M và Phạm Trọng H mỗi bị cáo phải
chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng
mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
mình.
Nơi nhận:
- TAND TP Hà Nội;
- VKSND huyện Ứng Hoà;
- Công an huyện Ứng Hòa;
- Chi cục THADS Ứng Hoà;
- UBND xã nơi bị cáo ĐKTT;
- Bị cáo;
- Các đương sự;
- Lưu hs; V/P./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Bùi Thanh Minh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng