Bản án số 595/2025/DS-PT ngày 22/08/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 595/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 595/2025/DS-PT ngày 22/08/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 595/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 595/2025/DS-PT
Ngày 22-8-2025
“Tranh chấp quyền sử dụng
đất và ranh đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tôn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dững
Ông Đinh Chí Tâm
- Thư ký phiên tòa:Võ Nguyệt Quỳnh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 tháng 8, ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số
361/2025/TLPT-DS ngày 14/7/2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất
và ranh đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 473/2025/QĐ-PT ngày
29 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn H: Ông Nguyễn Thanh
N, sinh năm 1968. (theo Văn bản ủy quyền ngày 25/7/2025)
Địa chỉ: Khóm T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Ông Cao Văn H1, sinh năm 1954;
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1966;
3.2. Anh Trần Minh T, sinh năm 1990;
2
3.3. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1992;
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.4. Ông Lê Văn T2, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.5. Ông Lê Văn H2, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Văn H2: Ông Văn T2, sinh
năm 1970; (theo Văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 8 năm 2025)
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
4. Người làm chứng: Ông Phạm Văn X, sinh năm 1955;
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông Nguyễn Thanh N, ông Cao Văn H1, ông Văn T2, Trần Thị Đ,
anh Trần Văn T1, ông Phạm Văn X mặt tại phiên tòa. Anh Trần Minh T
vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của ông Trần Văn H tại tại phiên tòa Đ đại
diện cho ông H trình bày:
Hộ ông Trần Văn H được cấp quyền sử dụng thửa đất số 311, tờ bản đồ
số 7, diện tích cấp giấy 3.872m
2
(đo đạc thực tế 3.699m
2
), theo Quyết định số
125/CTUB ngày 08/5/1997. Nguồn gốc thửa đất do ông Trần Văn H và vợ
Trần Thị Đ nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Phạm Văn X, Huỳnh
Thị N1 vào năm 1994. Khi nhận chuyển nhượng diện tích 3.699m
2
. Sau đó,
ông H tranh chấp con mương với bà Thị L. Ngày 22/01/1997, Ủy ban
nhân dân xã H giải quyết xác định con mương thuộc quyền sử dụng đất của ông
H. Theo đó, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 125/CTUB
ngày 08/5/1997 công nhận cho hộ ông Trần Văn H được quyền sử dụng thửa
đất số 311, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 3.872m
2
. do khi nhận
chuyển nhượng ông X nói con mương giáp giữa thửa 312 (thời điểm đó ông
Pham Văn X1 sử dụng, sau đó chuyển nhượng cho Thị L hiện nay là
của ông H2 ông T2 đang sử dụng) thửa 310 của ông H1 sử dụng do
ông X1 sử dụng từ trước đến nay, ông X1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thì cũng bao gồm luôn cả phần con mương nước nên ông H được quyền quản
lý, sử dụng.
Đến năm 1997, Thị L phát sinh tranh chấp đường nước với ông H,
thời điểm này L đang s dụng phần đất tại vị trí đất của ông Văn T2
Lê Văn H2 hiện nay. Kết quả giải quyết, Hội đồng hòa giải xã H kết luận: Thừa
nhận con mương thuộc quyền sử dụng của ông H, phía L không được ngăn
cản và tranh chấp.
3
Nay ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu xác định ranh giới quyền sdụng
đất giữa thửa số 311, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.872m
2
, theo Quyết định số
125/CTUB ngày 08/5/1997 thửa số 310, tờ bản đồ số 7, diện tích 14.309m
2
là đường thẳng nối từ mốc 03 đến 24 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày
25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C. Theo đó, ông
H yêu cầu công nhận diện tích con mương 128m
2
, gồm các mốc 1-3-24-22-1,
thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký
Đất đai huyện C, thuộc thửa đất số 311, tờ bản đồ số 07 của hộ Trần Văn H.
- Theo ông Cao Văn H1 trình bày: Ông Cao Văn H1 được cấp quyền sử
dụng đất thửa số 310, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 14.309m
2
(đo đạc thực
tế 16.250m
2
), mục đích sử dụng đất lúa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/12/1994. Nguồn gốc thửa đất trên do
ông H1 nhận chuyển nhượng của 02 chủ s dụng đất. Trong đó, diện tích
khoảng trên 7.000m
2
do ông H1 nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm
Hồng T3, Phạm Thị M vào khoảng năm 1989. Vị trí diện tích đất này giáp
với con mương hiện ông H tranh chấp. Khi thỏa thuận chuyển nhượng, ông T3
xác định ½ con mương thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông T3 nên chuyển
nhượng luôn cho ông H1 ½ con mương. Ông H1 đã sử dụng đất ½ con
mương này từ đó đến nay không ai tranh chấp. Phần đất ½ con mương nêu
trên giáp ranh với đất của các chủ sử dụng từ ông Phạm Văn X chuyển nhượng
cho vợ chồng ông Trương Văn B, Thị L ông B, L chuyển nhượng
lại cho ông Lê Văn H2 (em ruột của ông T2).
Nay ông Cao Văn H1 không đồng ý theo yêu cầu của ông Trần Văn H.
Ông H1 xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa số 310, tờ bản đồ số 7,
diện tích 14.309m
2
, mục đích sử dụng đất lúa, giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/12/1994 và thửa 312, tờ bản đồ 7,
diện tích cấp giấy 784m
2
, giấy chng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân
dân huyện C cấp ngày 30/9/2004 cho ông H2 đứng tên là đường thẳng gồm các
mốc 2-23-25 thể hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn
phòng Đăng Đất đai huyện C. Theo đó, ông H1 xác định diện tích 37m
2
,
gồm các mốc 2-3-24-23-2 (trong tổng số 128m
2
, gồm các mốc 1-3-24-22-1 của
ông Trần Văn H tranh chấp) là thuộc quyền sử dụng thửa số 310, tờ bản đồ số 7
của hộ Cao Văn H1. Ranh đất thửa 311 của ông Trần Văn H chỉ giáp với thửa
310 của ông từ mốc 25 đến mốc 13 trụ đá cố định làm ranh và được các
bên thống nhất.
- Theo Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ, anh Trần
Minh T, anh Trần Văn T1 trình bày: Trần Thị Đ, anh Trần Minh T, anh
Trần Văn T1 thống nhất lời trình bày của ông Trần Văn H, không ý kiến bổ
sung.
- Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn T2 và anh T2
người đại diện theo y quyền của của ông Văn H2 người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày:
4
Ông Lê Văn H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 312
tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 784m
2
, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/9/2004 cho ông H2 đứng tên. Nguồn
gốc thửa đất này do cha của ông tên Văn P (nhận chuyển nhượng từ vợ
chồng ông Trương Văn B Thị L vào năm 1998) tặng cho. Tuy nhiên,
năm 2010 ông H2 đã chuyển nhượng thửa đất này lại cho ông T2 nhưng chưa
làm thủ tục chuyển quyền theo quy định. Do đó, ông T2 người đang trực tiếp
quản lý, sử dụng tha đất số 312 tờ bản đồ số 7 liền kề với thửa đất số 627,
tờ bản đồ số 7 của ông T2.
Quá trình sdụng từ trước đến nay thửa đất của ông ông H2 giáp với
phần đất của ông H1 con mương cắm trụ đá làm ranh. Khi cP mua
đất của ông B, bà L thì vẫn sử dụng con mương giáp với đất của ông H1 cho
đến nay.
Nay ông Văn H2 xác định ranh quyền sử dụng đất giữa số 312, tờ bản
đồ 7, diện tích cấp giấy 784m
2
, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban
nhân dân huyện C cấp ngày 30/9/2004 cho ông H2 đứng tên thửa số 310, tờ
bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 14.309m
2
, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/12/1994 cho ông H1 đứng tên
đường thẳng gồm các mốc 2-23 thể hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024
của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C. Theo đó, ông H2 yêu cầu
công nhận một phần con mương diện tích 91m
2
, gồm các mốc 1-2-23-22-1
(trong tổng số 128m
2
, gồm các mốc 1-3-24-22-1 của ông Trần văn H tranh
chấp) là thuộc quyền sử dụng đất thửa số 312, tờ bản đồ 7 của ông Lê Văn H2.
Ông T2 không đồng ý theo yêu cầu của ông Trần Văn H.
Tại bản án dân sự thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 14/5/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Châu Thành, quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu ông Trần Văn H xác định ranh giới quyền s
dụng đất giữa thửa số 311, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 3.872m
2
, theo
Quyết định số 125/CTUB ngày 08/5/1997 (quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông
Trần Văn H) thửa số 310, t bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 14.309m
2
(quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Cao Văn H1) là đường thẳng nối từ mốc 03
đến 24 thể hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký Đất đai huyện C.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn H yêu cầu được công nhận
diện tích con ơng 128m
2
gồm các mốc 1-3-24-22-1 thể hiện trên đồ đo
đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C
thuộc thửa đất số 311, tờ bản đồ số 07 của hộ Trần Văn H.
3. Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Cao Văn H1 ông Văn H2 do
ông Văn T2 đại diện theo ủy quyền xác định ranh giới quyền sử dụng đất
giữa thửa số 312, tờ bản đồ 7, diện tích cấp giấy 784m
2
, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/9/2004 cho ông H2 đứng
5
tên thửa số 310, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 14.309m
2
, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/12/1994 cho
ông H1 đứng tên là đường thẳng gồm các mốc 2-23 thể hiện trên đồ đo đạc
ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C. Theo đó,
công nhận một phần con mương diện tích 37m
2
, gồm các mốc 2-3-24-23-2, thể
hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng
Đất đai huyện C là thuộc quyền sử dụng thửa số 310, tờ bản đồ số 7 của hộ ông
Cao Văn H1.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Văn H2. Công nhận một phần
con mương diện tích 91m
2
, gồm các mốc 1-2-23-22-1, thể hiện trên đđo
đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C
thuộc quyền sử dụng đất thửa số 312, tờ bản đồ 7 của ông Lê Văn H2.
5. Công nhận sự tự nguyện của ông Cao Văn H1 và ông Lê Văn T2 cho hộ
ông Trần Văn H được sử dụng đường dẫn nước của con mương 128m
2
, gồm
các mốc 1-3-24-22-1 thể hiện trên đ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C (trong đó 37m
2
gồm các mốc 2-3-
24-23-2 thuộc quyền sử dụng thửa số 310, tờ bản đồ số 7 của hộ ông Cao Văn
H1 91m
2
, gồm các mốc 1-2-23-22-1, thuộc quyền sdụng đất thửa số 312,
tờ bản đồ 7, của ông Lê Văn H2 hiện ông Lê Văn T2 đang sử dụng).
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng
khai điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
(Đính kèm Sơ đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký Đất đai huyện C)
6. Về án phí: Ông Trần Văn H phải nộp 748.000 đồng án phí dân s
thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000160 ngày 15/12/2021 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Ông Trần Văn H còn phải
nộp tiếp 448.000 đồng.
Hoàn trả cho ông Văn H2 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002460 ngày 27/5/2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
7. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản đo đạc: Ông
Trần Văn H nộp 7.152.810 đồng và đã chi xong. Ông Trần Văn H phải hoàn trả
cho ông Lê Văn T2 500.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và thi hành án.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 27/5/2025, ông H đơn kháng cáo: Kháng
cáo bản án thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, yêu cầu cấp phúc xem xét sửa bản án thẩm công nhận
cho ông H phần diện tích đất 128m
2
(thuộc con mương), gồm các mốc 1, 3,
6
24, 22, 1 theo đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký Đất đai huyện C.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Theo ông N đại diện cho ông H trình bày: Phần đất mương của ông
H, do khi chuyển nhượng phần đất ruộng đã con mương, mương nước
trước nay ông H sử dụng, theo biên bản ngày 22/01/1997 của Ủy ban nhân dân
H giải quyết xác định con mương này thuộc quyền sử dụng bên ông Trần
Văn H bên ông H được cấp quyền sử dụng đất, do ông H không hiểu biết
pháp luật nên không khai đăng cấp quyền sử dụng đất phần đất con
mương, nay ông H yêu cầu Hội đồng xét xphúc thẩm xem xét sửa bản án
thẩm công nhận cho ông H phần diện tích đất 128m
2
(thuộc con mương),
gồm các mốc 1, 3, 24, 22, 1 theo Sơ đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C.
Theo ông Cao Văn H1 trình bày: Ông H1 không đồng ý kháng cáo của
ông H, ông H1 yêu cầu Tòa án giữ nguyên theo bản án sơ thẩm.
Theo ông Văn T2, ông T2 đại diện cho ông H2 trình bày: Không
đồng ý kháng cáo của ông H, yêu cầu Tòa án giữ nguyên theo bản án sơ thẩm.
Theo Trần Thị Đ, anh Trần Văn T1 trình bày: Đ anh T1
thống nhất theo trình bày và yêu cầu của ông H.
Theo ông Phạm Văn X trình bày: Khi ông chuyển nhượng đất cho ông H
phần đất ruộng con mương, con mương bên đất của ông, giáp với đất
của ông B bà L, mỗi bên một con mương nước dẫn ruộng, giữa hai
con mương bờ ranh, con mương hiện nay của bên ông trước đây, con
mương bên L ông B ông không biết. Tại phiên tòa, ông X xác định khi
chuyển nhượng đất con mương nhưng trong giấy tờ chuyển nhượng không
có ghi phần con mương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến đề
nghị:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố
tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước
khi nghị án, Hội đồng xét xử đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án
thẩm s31/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (nay Tòa án nhân dân Khu vực 8
Đồng Tháp).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến trình bày của
đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông H còn trong hạn luật định, hợp lệ
nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm, theo quy định
tại Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Trần Minh T vắng mặt có
do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3
Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông H, yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm, công nhận cho ông H phần diện tích đất 128m
2
(thuộc con mương),
gồm các mốc 1, 3, 24, 22, 1 theo Sơ đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C.
Xét thấy:
[2.1] Xét yêu cầu của ông Trần n H yêu cầu xác định ranh giới quyền
sử dụng đất giữa thửa số 311, tờ bản đồ số 7, quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông
Trần Văn H thửa số 310, tờ bản đồ số 7, quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông
Cao Văn H1 đường thẳng nối từ mốc 03 đến 24 thể hiện trên đồ đo đạc
ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C. Hội
đồng xét xử xét thấy: Phần yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất ông H
thống nhất với bản án sơ thẩm, không có kháng cáo nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông H, yêu cầu sửa bản án thẩm, công
nhận cho ông H phần diện tích đất là 128m
2
(thuộc con mương):
Theo các tài liệu, chứng cứ của ông H cung cấp Biên bản hòa giải của
Ủy ban nhân dân H ngày 22/01/1997, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa số 311, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 3.872m
2
, ông H xác định nguồn
gốc thửa đất 311 do ông H vợ Trần Thị Đ nhận chuyển nhượng từ vợ
chồng ông Phạm Văn X, Huỳnh Thị N1 vào năm 1994. Khi nhận chuyển
nhượng diện tích 3.699m
2
. Sau đó, ông H tranh chấp con mương với
Thị L. Ngày 22/01/1997, Ủy ban nhân dân xã H giải quyết xác định con mương
thuộc quyền sử dụng đất của ông H. Theo đó, Ủy ban nhân dân huyện C ban
hành Quyết định số 125/CTUB ngày 08/5/1997 công nhận cho hộ ông Trần
Văn H được quyền sử dụng thửa đất số 311. vậy, ông H xác định diện tích
con mương 128m
2
, gồm các mốc 1-3-24-22-1 và ranh đất của ông giáp với thửa
310 của ông H1 là đường thẳng nối từ mốc 03 đến 24. Tuy nhiên, ông Cao Văn
H1 ông Văn T2 c định ranh đất của ông H1 giáp ranh với đất ông H2,
ông T2 con mương tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông H1 ông
H2, ông T2. Qua xem xét Biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân xã H ngày
22/01/1997” thì nội dung biên bản đoạn thể hiện Sau khi động viên phân
tích hai bên đồng ý thỏa thuận tháo dở con đập do gia đình ông B đắp để khai
8
thông đường nước cho bên ông H được sử dụng đường nước này để sản xuất
được ổn định không ai được ngăn cản làm mất đoàn kết trong nội bộ nông
dân. Hội đồng hòa giải đất đai thừa nhận con mương này thuộc quyền sử
dụng bên ông Trần Văn H và bên ông B không được ngăn cản”. Trên cơ sở nội
dung biên bản nêu trên thể hiện việc ông H tranh chấp với ông B là việc sử
dụng đường nước. Việc ông H căn cứ biên bản nêu trên để xác định Ủy ban đã
cấp quyền sử dụng đất con mương cho ông H thửa 311 thì chưa đủ căn cứ để
chứng minh. Ngoài ra, theo đơn xin xác nhận quyền sử dụng đất ngày
27/7/1996 giữa ông Phạm Văn X ông Trần Văn H thể hiện diện tích chuyển
nhượng (đất ruộng) 3.500m
2
; Đồng thời, ông H1 cung cấp “Biên bản đo đạc
xác định ranh đất chuyển nhượng giữa ông Phạm Văn X ông Trần Văn H
đối với thửa 311 ngày 23/4/1997; Bảng trích lục bản đồ; đồ vị trí đất cùng
ngày 28/4/1997” thì vị trí thửa 311 giáp với đất thửa 310 của ông H1 tại mốc B
C 174,8m
2
, đối chiếu tương ứng với mốc 25-13 trên đồ đo đạc ngày
25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C là 164,61m
2
là
phù hợp và thửa 311 không có vị trí nào giáp với rạch Giồng Sao mà vị trí thửa
311 giáp ở hướng bắc là đất của ông Trương Văn B thửa 312 (hiện ông H2, ông
T2 đang sử dụng). Vì thế, ông H xác định ranh đất thửa 311 của ông H giáp với
thửa 310 của ông H1 đường thẳng nối từ mốc 03 đến 24 không căn cứ.
Đối với ông Phạm Văn X người làm chứng cho ông H xác định khi chuyển
nhượng đất cho ông H thì có chuyển nhượng luôn con mương tranh chấp nhưng
không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh.
Tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự quy định về ranh giới giữa các bất
động sản:
“1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa
thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã
tồn tại từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp.
Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp
ranh giới nh, mương, hào, rảnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể nghĩa vụ tôn
trọng, duy trì ranh giới chung”.
Trên sở đánh giá chứng cứ quy định của pháp luật nêu trên, xét yêu
xác định ranh đất của ông H không căn cứ. Cho nên việc ông H yêu cầu
công nhận phần đất con mương cho bên ông H là không có cơ sở.
Đối với việc ông Trần Văn H yêu cầu công nhận diện tích con mương
128m
2
, gồm các mốc 1-3-24-22-1, thể hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024
của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C thuộc thửa đất số 311 của
ông H, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu, ông H tiếp tục kháng o
yêu cầu công nhận cho ông H. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại Công văn số 864/UBND-NC ngày 31/3/2025 của Ủy ban nhân dân
huyện C xác định: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 311 của
9
hộ ông Trần Văn H; thửa 310 của hộ ông Cao Văn H1; thửa 627 của Văn
T2, thửa 312 của Lê Văn H2 là không có đo đạc thực tế mà chỉ sử dụng bản đồ
giải thửa từ không ảnh nên sự chênh lệch diện tích thiếu, thừa so với diện
tích đo đạc hiện nay. Đối với diện tích con mương tranh chấp (dưới 5m ngoài
thực địa) nên không thể xác định thuộc thửa nào theo hệ thống bản đồ giải thửa
299/TTg của xã H, do tỷ lệ bản đồ giải thửa khu này 1/5000 (1mm trên
bản đồ bằng 5m ngoài thực địa).
Theo tài liệu, chứng cứ của ông H cung cấp Biên bản hòa giải của Ủy
ban nhân dân H ngày 22/01/1997 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa số 311, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy 3.872m
2
, theo Quyết định số
125/CTUB ngày 08/5/1997 của Ủy ban nhân dân huyện C. Ông H trình bày khi
chuyển nhượng đất của ông X vào năm 1994 là có con mương. Tại phiên tòa có
mặt ông X, ông X ng không xác định được là khi chuyển nhượng có phần đất
con ơng hay không. Sau khi chuyển nhượng đất của ông X, ông H tranh
chấp con mương với Thị L. Ngày 22/01/1997, Ủy ban nhân dân H
giải quyết xác định: Nội dung biên bản đoạn thể hiện Sau khi động viên
phân tích hai bên đồng ý thỏa thuận tháo dở con đập do gia đình ông B đắp để
khai thông đường nước cho bên ông H được sử dụng đường nước này để sản
xuất được ổn định không ai được ngăn cản làm mất đoàn kết trong nội bộ
nông dân. Hội đồng hòa giải đất đai xã thừa nhận con mương này thuộc quyền
sử dụng bên ông Trần Văn H và bên ông H được quyền sử dụng. Bên ông B
không được ngăn cản và tranh chấp với bên ông H”. Sau khi hòa giải, ông H sử
dụng mương nước này để tưới tiêu đất ruộng phía sau, Ủy ban nhân dân
không quyết định a giải thành để công nhận đất cho ông H, ông H đã
được Nhà nước cấp giấy chứng nhận phần đất ruộng phía sau nhưng không
kê khai đăng ký phần đất con mương đang tranh chấp. Tại phiên tòa, ông N đại
diện cho ông H xác định ông H không có kê khai đăng phần đất con mương
do không hiểu pháp luật, nghĩ là khi cấp đất có cả phần con mương.
Phần con mương diện tích là 128m
2
, gồm các mốc 1-3-24-22-1 và hiện
nay là ranh đất giữa ông H1 và ông H2 mỗi bên là một phần con mương.
Trên snội dung biên bản nêu trên thể hiện việc ông H tranh chấp với
ông B việc sử dụng đường nước không phải tranh chấp đất. Việc ông H căn
cứ biên bản nêu trên để xác định phần con mương đất của ông không
căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H yêu cầu công nhận toàn bmương nước
cho bên ông nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ông H1
xác định đất ông chuyển nhượng từ năm 1989 giáp với ông B (nay ông H2),
hai bên xác định ranh ½ con mương (H1 37m
2
, H2 97m
2
). Hiện ông H1,
ông H2, ông T4 đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp.
Tại bản án sơ thẩm đã Công nhận sự tự nguyện của ông Cao Văn H1 và
ông Lê Văn H2 cho hộ ông Trần n H được sử dụng đường dẫn nước của con
mương 128m
2
, gồm các mốc 1-3-24-22-1, thể hiện trên đồ đo đạc ngày
10
25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C (trong đó
37m
2
, gồm các mốc 2-3-24-23-2 thuộc quyền sử dụng thửa số 310, tờ bản đồ số
7 của hộ ông Cao Văn H1 91m
2
, gồm các mốc 1-2-23-22-1, thuộc quyền sử
dụng đất thửa số 312, tờ bản đồ 7 của ông Văn H2, hiện ông n T2
đang sử dụng) là phù hợp và có căn cứ.
Trên sở đánh giá chứng cứ nội dung phân tích nêu trên, không
căn cứ chấp nhận yêu cầu công nhận phần đất con mương cho ông Trần Văn H.
Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là
căn cứ.
Hội đồng xét xử xét yêu cầu kháng cáo của ông H là không có căn cứ chấp
nhận.
[3] Đối với yêu cầu độc lập của ông Văn H2 yêu cầu xác định ranh
quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 312 của ông H2 và thửa đất số 310 của ông
H1 là đường thẳng gồm các mốc 2-23 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày
25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện C. Yêu cầu công
nhận cho ông H1, ông H2 mỗi bên một phần đất của con mương (diện tích
37m
2
, gồm các mốc 2-3-24-23-2 của ông H1; diện tích 91m
2
, gồm các mốc
1-2-23-22-1 của ông H2). Tòa án cấp thẩm đã chấp nhận yêu cầu độc lập
đã công nhận sự thỏa thuận, công nhận phần đất con mương cho ông H1,
ông H2. Việc chấp nhận yêu cầu độc lập, yêu cầu công nhận sự thỏa thuận,
công nhận phần đất con mương của Tòa án cấp sơ thẩm là căn cứ. Ngoài ra,
ông H1, ông H2, ông T2 không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem
xét.
[4] Tại Tòa án cấp thẩm, ông H trình bày trường hợp xác định diện tích
con mương 128m
2
gồm các mốc 1-3-24-22-1 là của ông Cao Văn H1 và ông Lê
Văn H2 thì yêu cầu ông H1, ông H2 cho ông được sử dụng đường dẫn nước
của con mương trên để dẫn nước từ rạch Giồng Sao vào thửa 311 của ông H để
sản xuất. Ông Cao Văn H1 ông Văn T2 đại diện cho ông Văn H2
thống nhất yêu cầu của ông H. Bản án thẩm đã công nhận sự tự nguyện của
ông Cao n H1ông n T2 đại diện cho ông Văn H2 phù hợp
có căn cứ.
[5] Xét lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy
ông N đại diện cho ông H trình bày yêu cầu chưa phù hợp không
căn cứ chấp nhận. Việc trình bày của ông H1, ông T2 và ông T2 đại diện cho
ông H2 là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.
[6] Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong ván ông T2,
Đ, anh T, anh T1 không yêu cầu độc lập không kháng cáo nên Hội
đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không yêu cầu thu thập
cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm nên Hội đồng xét xử kng đặt ra xem xét.
11
[8] Xét việc trình bày đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đồng Tháp là có căn cứ chấp nhận.
[9] Từ các căn cứ, nhận định và phân tích nêu trên, xét thấy án sơ thẩm xét
xử là có căn cứ.
[10] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[11] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của ông Trần Văn H không được chấp
nhận nên ông H phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định
giá tài sản. Ông Trần Văn H đã nộp tạm ứng số tiền 7.152.810 đồng đã chi
xong. Ông Văn T2 đã nộp tạm ứng số tiền 500.000 đồng đã chi xong.
Ông H phải nộp 500.000 đồng để trả lại cho ông T2.
[12] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của ông H không được chấp nhận nên ông H phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ông H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ông H2 không phải chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả lại cho ông H2
số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông H không được
chấp nhận nên ông H phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1, Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng: Các Điều 26, Điều 38, Điều 91, Điều 147, Điều 148, Điều 157,
Điều 165, Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Luật đất đai năm
2024;
Điều 26, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn H.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5
năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (nay
Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Tháp).
12
[1] Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn H yêu cầu xác định ranh
giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 311, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy
3.872m
2
, theo Quyết định số 125/CTUB ngày 08/5/1997 (quyền sử dụng đất
cấp cho hộ ông Trần Văn H) thửa số 310, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp giấy
14.309m
2
(quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Cao Văn H1) đường thẳng
nối từ mốc 03 đến 24, thể hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C.
[2] Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn H yêu cầu công nhận diện
tích con mương 128m
2
, gồm các mốc 1-3-24-22-1, thể hiện trên đồ đo đạc
ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C, thuộc
thửa đất số 311, tờ bản đồ số 07 cho hộ Trần Văn H.
[3] Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Cao Văn H1 ông Văn H2
người đại diện theo ủy quyền ông Văn T2 xác định ranh giới quyền sử
dụng đất giữa thửa đất số 312, tờ bản đồ 7, diện tích cấp giấy 784m
2
, giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày
30/9/2004 cho ông H2 đứng tên thửa số 310, tờ bản đồ số 7, diện tích cấp
giấy 14.309m
2
, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân
huyện C cấp ngày 05/12/1994 cho hộ ông H1 đứng tên là đường thẳng gồm các
mốc 2-23, thể hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh n
phòng Đăng ký Đất đai huyện C.
[4] Công nhận một phần con mương diện tích 37m
2
, gồm các mốc 2-3-24-
23-2, thể hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng
Đăng Đất đai huyện C thuộc quyền sử dụng đất của thửa số 310, tờ bản
đồ số 7 của hộ ông Cao Văn H1.
[5] Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Văn H2. Công nhận một phần
con mương diện tích 91m
2
, gồm các mốc 1-2-23-22-1, thể hiện trên đđo
đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C
thuộc quyền sử dụng đất của thửa số 312, tờ bản đồ 7 của ông Lê Văn H2.
[6] Công nhận sự tự nguyện của ông Cao Văn H1 ông Văn T2 cho
hộ ông Trần Văn H được sử dụng đường dẫn nước của con ơng 128m
2
, gồm
các mốc 1-3-24-22-1, thể hiện trên đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng Đất đai huyện C (trong đó 37m
2
gồm các mốc 2-3-
24-23-2 thuộc quyền sử dụng đất thửa số 310, tờ bản đồ số 7 của hộ ông Cao
Văn H1 91m
2
, gồm các mốc 1-2-23-22-1, thuộc quyền sử dụng đất thửa số
312, tờ bản đồ 7 của ông Lê Văn H2 hiện ông Lê Văn T2 đang sử dụng).
Các đương sự được đến quan Nhà nước thẩm quyền làm thủ tục
đăng để được điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc ngày 25/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký Đất đai huyện C)
13
[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Trần
Văn H phải chịu, ông H đã nộp 7.152.810 đồng và đã chi xong. Ông Lê Văn T2
đã nộp số tiền 500.000 đồng đã chi xong nên ông Trần Văn H phải nộp
500.000 đồng để trả lại cho ông Lê Văn T2.
[8] Về án phí dân sự thẩm: Ông Trần Văn H phải chịu 748.000 đồng
tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000160
ngày 15/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh
Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 Đồng Tháp). Ông
Trần Văn H còn phải nộp tiếp số tiền là 448.000 đồng.
Ông H2 không phải chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả lại cho ông
Văn H2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002460 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (nay Phòng Thi hành án dân sự
Khu vực 8 – Đồng Tháp).
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn H phải nộp 300.000 đồng
tiền án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0004429 ngày 27/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành,
tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Đồng Tháp).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDCC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐ, KT, TT-THA Tòa án Tỉnh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực 8 Đồng Tháp;
- Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8
Đồng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (T).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thành Tôn
Tải về
Bản án số 595/2025/DS-PT Bản án số 595/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 595/2025/DS-PT Bản án số 595/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất