Bản án số 56/2019/DS-PT ngày 19/09/2019 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 56/2019/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 56/2019/DS-PT ngày 19/09/2019 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Nông
Số hiệu: 56/2019/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng bà Thân đã rút yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất lấn chiếm chưa được cấp GCNQSDĐ phía giáp suối và Tòa án đã đình giải quyết đối với phần tranh chấp này. Diện tích đất tranh chấp hiện nay nằm trong diện tích đất vợ chồng bà Thân được cấp GCNQSDĐ, theo sơ đồ đo đạc 1.713m2, có tứ cận
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐĂK NÔNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 56/2019/DS-PT
Ngày 19-9-2019
V/v tranh chp quyn s dng đt
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- TH2nh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Hương
Các thẩm phán: Ông Đỗ Đồng Chung và ông Phạm Văn Cảnh
- Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Ngọc Thanh
Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên tòa:
Bà Đào Thị Óng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08-8 các ngày 12, 19-9-2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Đăk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 67/2018/TLPT-DS ngày
22-10-2018 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự thẩm
số: 45/2018/DSST ngày 11-9-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk
Nông bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:
40/2019/QĐ-PT ngày 20-5-2019; quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2019/QĐ-PT
ngày 05-6-2019; quyết định hoãn phiên tòa số: 102/2019/QĐ-PT ngày 03-7-
2019; quyết định tạm ngừng phiên a số: 02/2019/QĐ-PT ngày 08-8-2019;
thông báo về việc tiếp tục giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm số: 96/TB-TA ngày
04-9-2019 quyết định hoãn phiên a số: 78/2019/QĐ-PT ngày 12-9-2019,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Thị Th Vắng mặt;
Địa chỉ: Tn Z, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phan Xuân L(n bảny
quyền ngày 26-3-2015) mặt;
Địa chỉ: Tn Z, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Bị đơn: Ông Ừng Quốc M (Ừng Quốc M) – Có mặt;
Địa chỉ: Thôn 6, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Ừng Quốc M: Ông
Trần Văn Dũng – Luật của Văn phòng luật sư Dũng ng thuộc Đoàn luật
tỉnh Bình Phước – Có mặt;
Địa chỉ: Khu dân Thuận Phú, ấp Thuận Hải, Thuận Phú, huyện Đồng
Phú, tỉnh Bình Phước.
2
- Người có quyền lợi nghĩa vliên quan:
Ông Phan Xuân L– Có mặt;
Địa chỉ: Tn Z, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Bà Ừng Si N– Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn X, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk ng.
Người đại din hợp pháp củang Si N: Anh L Anh K– Có mặt;
Địa chỉ: Thôn Y, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk ng.
Ôngng c T– mặt;
Địa chỉ: Thôn Z, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Anh L Anh K– Có mặt;
Địa chỉ: Thôn Y, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk ng.
Trần Thị Thu B– Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Z, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông ng Quốc M Trần Thị Thu B:
Ông Ừng c T– Có mặt;
Địa chỉ: Thôn Z, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Nhng người làm chứng:
Trần Thị Ng ông Trần Văn Ch; ông K’J; ông n Đ Trần
Thị L1; ông K’B; chị Đoàn Thị Thanh T1;
Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Ông Trần Cao C, anh Trần Trung K1 và ông Trịnh Ngọc V;
Cùng địa chỉ: Thôn Z, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Ông K’Đ; ông Thái Doãn H; ông K’B (tên gọi khác: Bặp H) và bà H’L (tên
gọi khác: mẹ D);
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
H’Ộch; địa chỉ: Tn 3, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Ông Nguyễn Khắc Gi; địa chỉ: Bon Ka La Dạ (Thôn Z cũ), Q, huyện Đ,
tỉnh Đắk Nông.
Ông Bạch Cung S Nguyễn Thị H1; địa chỉ: Số nH2 05, thôn 2, M,
huyện B, tỉnh Bình Phước.
Ông Trần Văn H2; địa chỉ: Ấp 7, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.
(Tất cả những người làm chứng đều vắng mặt).
- Do có kháng cáo của: Bị đơn ông Ừng Quốc M.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện
theo uỷ quyền của nguyên đơn và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Phan Xuân L trình bày: Năm 1995, vợ chồng bà Th (bà Th, ông L) nhận chuyển
nhượng đất của ông K’J (K'De) và ông K’ Đ tại Tn X, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk
Nông; đất nhận chuyển nhượng của ông K’J có tứ cận: phía Đông giáp suối; phía
Bắc giáp đất ông V; phía Nam giáp đất ông K’Đ phía Tây giáp QL 28 (dài
15m), với giá chuyển nhượng 300.000 đồng. Ranh giáp với đất ông V có cây rừng
để lại làm ranh cố định hiện nay vẫnn, c bên sử dụng ổn định, không có tranh
chấp cho đến khi chuyển nhượng cho người khácng S, ông H2).
Diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông K’Đ có tứ cận: phía Tây giáp QL
28 (dài 25m); phía Đông giáp suối; phía Bắc giáp đất nhận chuyển nhượng của
ông K’J phía Nam giáp đất ông K’V (tên gọi khác K'B, Bập B), sau này
chuyển nhượng cho ông Ừng Quốc M, giá chuyển nhượng 800.000 đồng. Khi
nhận chuyển nhượng, các bên đo chiều ngang diện tích đất chuyển nhượng
theo mặt đường QL 28 dùng gạc (dao phát) để đo; vợ chồng Th không
nhớ đo bao nhiêu cây xà gạc. Sau này, vợ chồng bà Th dùng thước đo lại nên mới
xác định chiều ngang theo mặt đường của từng diện tích đất nhận chuyển nhượng
15m 25m; tại thời điểm nhận chuyển nhượng cả hai diện tích đất chưa
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), phần đất giáp suối vẫn còn
cây rừng tái sinh, các bên viết giấy tay với nhau, không ng chứng chứng
thực. Cũng trong năm 1995, vợ chồng Th phát dọn trồng cà phê trên toàn bộ
diện tích đất nhận chuyển nhượng, có trồng xen điều trong diện tích trồng cà phê;
vị trí đất trồng phê cách đường QL 28 khoảng 25m (trlại hành lang giao
thông) gồm 11 hàng cà phê tính từ giáp đất ông V đến giấp đất ông K’V.
Năm 1997, Th được Ủy ban nhân n huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk (cũ) cấp
GCNQSDĐ số K 551533, ngày 24-9-1997, thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 10,
diện tích 4.425m
2
, có tứ cận: phía Tây giáp QL 28 (dài 36m); phía Đông giáp đất
chưa được cấp GCNQSDĐ; phía Bắc giáp đất ông V; phía Nam giáp đất ông M.
Năm 1999, khi ông M nói bị thiếu đất vợ chồng Th đã để lại 03 hàng phê
đối với phần đất chưa được cấp GCNQSDĐ, tiếp tục chăm sóc đối với 8 hàng
phê còn lại và 11 hàng phê trong diện tích đất được cấp GCNQSDĐ. Ngày 11-
7-2005, vợ chồng bà Th chuyển nhưng cho hộ ông Trầnn H2 và hộ ông Bạch
Cung S mỗi hộ 10m chiều ngang theo QL 28, chiều dài 128m; tổng diện ch
chuyển nhượng 2.560m
2
, các bên đã thực hiện xong thủ tục chuyển nhượng, diện
tích đấtn lại theo GCNQSDĐ là 1.865m
2
.
Năm 2006, diện tích đất của vợ chồng bà Th dự định bị thu hồi để làm trụ sở
Chi cục thống đã được c quan chuyên môn kiểm tài sản trên đất.
Nhưng đến năm 2009, vẫn chưa bị thu hồi nên vợ chồng Th tiếp tục sử dụng,
4
do chăm sóc phê không hiệu quả nên vợ chồng Th xin chuyển đổi sang đất
thổ cư nhưng không được chấp nhận vì đất đang thuộc quy hoạch. Năm 2012,
đoàn đo đạc thực hiện đo đạc lại diện tích đất trên địa bàn, vợ chồng bà Th không
mặt nên ông M đã chỉ ranh sang đất của vợ chồng Th; vợ chồng đã làm
đơn gửi UBND Q giải quyết. Trong thời gian chờ giải quyết, ông M đã làm
con đường giáp đất ông Đ, đến tháng 7-2013 ông M đã phá bỏ 25 cây cà phê và 3
cây điều trên diện tích đất tranh chấp, công an Q đã lập biên bản sự việc. Lúc
đầu diện tích đất ông M lấn chiếm toàn bộ diện tích đất chiều ngang mặt
đường 16m, chiều dài đến suối nhưng sau khi đo đạc ông M đã trừ lại 50cm giáp
đất ông Đ không tranh chấp n diện tích đất lấn chiếm chiều ngang mặt
đường 15,5m, chiều dài đến suối.
Quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng bà Th đã rút yêu cầu khởi kiện đối với
diện tích đất lấn chiếm chưa được cấp GCNQSphía giáp suối Tòa án đã
đình giải quyết đối với phần tranh chấp này. Diện tích đất tranh chấp hiện nay
nằm trong diện tích đất vợ chồng bà Th được cấp GCNQSDĐ, theo sơ đồ đo đạc
1.713m
2
, có tứ cận: phía Tây giáp QL 28 dài 15,5m; phía Đông giáp đất chưa
được cấp GCNQSDĐ dài 14m (hiện nay ông M đang sử dụng); phía Bắc giáp đất
còn lại của vợ chồng Th; phía Nam giáp đất ông M đang sử dụng.
Tháng 02-2017, anh L Anh K dựng 01 căn nhà tạm bằng tôn trên đất thuộc
hành lang giao thông đường bộ giáp QL 28 trồng cây bông gòn trên đất tranh
chấp. Vì vậy, vợ chồng bà Th yêu cầu ông M và những người có quyền, nghĩa vụ
liên quan phải trlại đất lấn chiếm.
- Đại diện theo uỷ quyền của ông Ừng Quốc M, Trần Thị Thu B và là
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ừng Cóc T trình bày: Nguồn gốc
diện tích đất hiện nay ông M đang sử dụng là nhận chuyển nhượng của ông K’V
m 1995 (ông M nhận chuyển nhượng chung với ông T, Ừng Si N), tứ
cận: phía y giáp QL 28 dài 38,5m; phía Đông giáp suối; phía Bắc giáp đất bà
Th phía Nam giáp đất Ng. Tại thời điểm chuyển nhượng đất chưa
GCNQSDĐ; việc chuyển nhượng hai n chỉ viết giấy tay, không thực hiện
công chứng chứng thc, có ông K’L (trưởng thôn) ký làm chứng. Vị trí ranh giới
với đất Th cây muồng, y mít (hiện nay vẫn còn gốc) bụi tre cuối
thửa đất.
Năm 1996, ông M thuê máy múc ủi đoạn đường đất giáp QL 28 để vận
chuyển phân bón cây giống để trồng dứa; vị trí ủi đường giáp cây muồng cây
mít (hiện nay vẫn còn) và bên cạnh hàng cà pkhoảng 01 năm tuổi ca vợ chồng
bà Th. Năm 1997, ông M được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk (cũ) cấp
GCNQSDĐ số K 481443, ngày 24-9-1997, thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 10,
diện tích 4.220m
2
, tứ cận: phía Tây giáp QL 28, dài 38,3m; phía Đông giáp
5
suối; phía Bắc giáp đất bà Th và phía Nam giáp đất bà Ng. Diện tích đất được cấp
GCNQSDĐ đúng vị trí đất ông M nhận chuyển nhượng.
Quá trình sử dụng đất, ông M trồng dứa (thơm), sau đó chuyển sang
trồng chuối, tre trên đất. Năm 2006, khi đoàn đo đạc đến đo để dự kiến thu hồi
đất đền bù, Th không ý kiến vmốc ranh giới và đồng ý cắm mc theo
ranh hiện nay gốc muồng và gốc mít. Năm 2017, anh K có trồng bơ, cây ng
gòn trên đất tranh chấp và làm nhà tạm bằng sắt giáp QL 28 (thuộc hành lang an
toàn giao thông đường bộ), các tài sản trên là tài sản riêng của anh K, không liên
quan đến ai khác. vậy, ông M không đồng ý với u cầu khởi kiện của Th
đối với diện tích đất tranh chấp. Trần Thị Thu B không yêu cầu liên
quan đến diện tích đất, vì chung sống với ông M sau khi ông M nhận chuyển
nhượng đất.
- Đại diện theo uỷ quyền của Ừng Si N người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan anh L Anh K trình bày: Ừng Si N nhận chuyển nhượng đất
chung diện tích đất nhận chuyển nhượng được cấp GCNQSDĐ như ông T đã
trình bày. Ngày 13-10-2010, giữa M, ông T ông Ừng Quốc M đã lập hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho M đối với diện tích đất giáp đất
Ng, chiều ngang giáp QL 28 i 14m, chiều dài 50m; hợp đồng đã được
UBND Q xác nhận đóng dấu, M đã làm nhà cấp 4 trên đất, sử dụng ổn
định. Phần đất Th tranh chấp không nằm trong diện tích đất M đang sử
dụng, M không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Th đối với diện tích đất
đang tranh chấp. Tháng 02-2017, anh K đã trồng bơ, cây bông gòn trên đất tranh
chấp làm nhà tạm bằng sắt trên hành lang an toàn giao thông đường bộ, giáp
QL 28. Anh K làm nhà trồng cây bông gòn của nhân anh K không liên
quan đến chị Nguyễn Thị Tuyết L2 (vợ anh K). Anh K không đồng ý với yêu cầu
khởi kin của bà Th đối với diện tích đất tranh chấp.
Tại bản án sơ thẩm số: 45/2018/DS-ST ngày 11-9-2018 của Toà án nhân dân
huyện Đ đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th. Buộc ông Ừng
Quốc M phải trả cho bà Lê Thị Th diện tích đất 1.101m
2
thuộc thửa đất số 60, tờ
bản đồ số 10, tọa lạc tại: Thôn Y, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông có tứ cận: phía
Tây giáp Quốc lộ 28 (giáp hành lang giao thông) dài 9,5m; phía Đông giáp đất
ông M đang sử dụng dài 9,9m (hình cạnh huyền); phía Bắc giáp đất còn lại của v
chồng bà Th dài 117,7m phía Nam giáp đất ông M đang sử dụng dài 115,15m
(có sơ đồm theo).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Thị Th đối với diệnch
6
đất tranh chấp 612m
2
, tứ cận: phía Tây giáp Quốc lộ 28 (giáp H2nh lang giao
thông); phía Đông giáp đất ông M đang sử dụng; phía Bắc giáp đất ông M đang
sử dụng và phía Nam giáp đất ông M đang sử dụng.
Bà Lê Thị Th và ông Ừng Quốc M có quyền và nghĩa vụ liên hệ với quan
nhà nước thẩm quyền để điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho phù hợp với thực tế.
3. Buộc anh L Anh K phải phá b13 cây bông gòn trên diện ch đất 1.101m
2
ông M phải tr lại cho Th.
Ngoài ra, a án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ, chi phí định giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 17-9-2018, bị đơn ông Ừng Quốc M kháng cáo toàn bộ bản án dân sự
thẩm số: 45/2018/DS-ST ngày 11-9-2018 của Toà án nhân dân huyện Đ, yêu
cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết theo ớng sửa án thẩm, bác yêu cầu
khởi kin của nguyên đơn bà Lê Thị Th.
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn giữ yêu cầu khởi kiện; người kháng
cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ti phiên tòa phúc thm, ngày 08-8-2018 ông Ừng Cóc T người đại diện
theo y quyền của bị đơn ông Ừng Quốc M đề nghHi đng xét x tạm ngng
phiên tòa để tiến hành giám định đi vi biên bn làm việc ngày 26-7-2013 kèm theo sơ
đ hin trường (bn gc) vi 02 bn lưu trong h (BL 10 và 11) có đúng là đã được
sao y tbn gc đang lưu tại y ban nhân dân xã Q.
Ngày 03-9-2019, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông nhận được kết luận giám
định số: 149/GĐTL-PC09 của Phòng kthuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông
kết luận:
1. Biên bản m việc, ghi ngày 26 tháng 7 m 2013, (là bản sao) chứng
thực số: 7101 ngày 23 tháng 10 m 2013 (ký hiệu A1) được sao ra tBiên
bản làm việc, ghi ngày 26 tháng 7 năm 2013 (là bản gốc) (ký hiệu M1).
2. đồ hiện trường, (là bản sao) chứng thực số: 7100 ngày 23 tháng 10
m 2013 (ký hiệu A2) được sao ra từ đồ hiện trường (là bản gốc) (ký
hiệu M2) nhưng bị thiếu dòng chữ “Sơ đồ hiện trường”.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn sau khi phân tích các
luận cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, sửa bản
án thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của nguyên đơn theo đúng quy định
pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông sau khi phân tích các tình
tiết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ
7
luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của bị đơn, bác đơn khởi kiện của bà Lê
Thị Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Xét yêu cầu kháng o của ông Ừng Quốc M; căn cứ các tài liệu, chứng cứ
trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của
pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Đơn kháng cáo của ông Ừng Quốc M kháng cáo trong hạn luật định, đã
nộp tạm ứng án phí theo khoản 2 Điều 276 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Tại phiên a bị đơn ông Ừng Quốc M vẫn giữ nguyên nội dung kháng
cáo; nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện. Bị đơn, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng a án cấp sơ thẩm trong quá trình
giải quyết vụ án nhiều sai phạm, không khách quan đã xét xử bằng bản án số
45/2018/DS-ST ngày 11-9-2018 theo hướng chấp nhận một phần đơn khởi kiện,
buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 1.101m
2
đất, tứ cận ntrong bản án
thẩm đã tuyên: phía Tây giáp Quốc lộ 28 (giáp hành lang giao thông) dài 9,5m;
phía Đông giáp đất ông M đang sử dụng dài 9,9m (hình cạnh huyền); phía Bắc
giáp đất còn lại của vchồng Th dài 117,7mphía Nam giáp đất ông M đang
sử dụng dài 115,15m không đúng pháp luật, không khách quan. Đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận đơn kháng o, bác đơn khởi kiện của
nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1]. Đơn khởi kiện của Thị Th thể hiện, năm 1995 nhận chuyển
nhượng của ông K’J 15m đất, chuyển nhượng của ông K’Đ 25m mặt đường QL
28 tại khu vực Thôn Y, xã Q, huyện Đ. Khi mua hai bên viết giấy tay, vì đất chưa
GCNQSDĐ, đến năm 1997 được cấp GCNQSDĐ tại tờ bản đồ số 10, thửa số
60, với diện tích 4.425m
2
. cho rằng ông M lấn chiếm 1.860m
2
, với chiều
ngang QL 28 phía trước 16m, phía sau 15m, chiều dài 120m (BL 01, 01
b
).
Biên bản a giải tại Ủy ban nhân dân Q, huyện Đ quá trình giải quyết vụ
án, thì xác định khi mua hai bên chỉ đo ước lượng bằnggạc (BL 12), trong biên
bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã Q năm 2013 (BL 57) ông L vẫn cho rằng ông
M lấn chiếm đất như nội dung đã nêu trong đơn. Phía ông M cho rằng năm 1995
ông mua đất của ông K’B đã sẵn cây mít làm ranh giới, hiện nay cây mít vẫn
còn (BL 58). Ngày 22-8-2016, ông L đại diện theo ủy quyền của bà Th đã rút một
phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông M trả 1.713m
2
(ngang QL 28 phía trước
15,5m, phía sau là 14m, chiều dài 120m BL 486). Tại biên bản đối chất ngày
29-5-2015, phía nguyên đơn thừa nhận khi mua đất của ông K’Đ sát ranh với đất
ông K’B (người bán đất cho ông M) đã cây mít làm ranh trồng tứ trước (BL
173-174). Tại biên bản đối chất ngày 07-11-2013 (BL 92-93), ông K’Đ khẳng
8
địnhn đất cho gia đình ông L đến đến giáp đất ông K’B, có cây mít rừng to làm
ranh giới.
[2.2]. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm đã tiến hành
thẩm định, đo đạc diện tích đất tranh chấp (BL 71, 331, 743 và 844) nhưng kết
quả đo đạc diện tích đất tranh chấp nhiều mâu thuẫn về số liệu, gây khó khăn
cho việc xác định, đánh giá chứng cứ hay không việc tranh chấp chồng lấn;
cấp sơ thẩm không thể tiến hành lồng ghép được kết quả đo đạc thực tế với tờ bản
đồ giải thửa để xem xét đánh giá có việc lấn chiếm đất hay không, ai là người lấn
chiếm, diện tích lấn chiếm bao nhiêu. Quá trình giải quyết vụ án, cấp thẩm
cũng không thu thập được chứng cứ quan trọng giấy mua bán viết tay của các
đương sự trong khi các đương sự, người làm chứng cho rằng trước đây mua n
chỉ đo đạc ước lượng bằng xà gạc hoặc không đo cụ thể.
[2.3]. Sau khi các bên được cấp GCNQSDĐ, phía nguyên đơn cho rằng thiếu
đất thực tế so với GCNQSDĐ 1.860m
2
, còn thực tế bị đơn cho rằng bị đơn
cũng còn thiếu diện ch đất 758m
2
so với GCNQSDĐ được cấp. Tòa án cấp
thẩm nhận định cho rằng, diện tích đất bà Th bị thiếu 9,5m theo chiều ngang
đường QL 28 phù hợp với chiều ngang diện tích đất trồng 04 hàng phê bị
nhổ bỏ năm 2013 (theo biên bản làm việc ngày 26-7-2013 do Công an Q lập)
mà chỉ ông L người chứng kiến, tên không khách quan, chưa đủ căn
cứ; hơn nữa chứng cứ này đang bị phía bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị đơn cho rằng ngụy tạo chứng cứ, không khách quan. Mặc đã có
kết quả giám định nhưng không phù hp với các chứng cứ khác theo quy định
pháp luật.
[3]. Từ những phân tích u trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy Tòa án
cấp thẩm xét xử tại bản án thẩm số: 45/2018/DSST ngày 11-9-2018 tuyên
xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Ừng
Quốc M phải trdiện tích đất 1.101m
2
(có tứ cận như trong bản án đã tuyên)
không căn cứ. vậy, cần chp nhận yêu cầu kng o của bị đơn ông Ừng
Quốc M, sửa bản án sơ thẩm s: 45/2018/DS-ST ngày 11-9-2018 của Tòa án nhân
dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông theo ớng bác đơn khi kiện ca nguyên đơn bà
Thị Th.
[4]. Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là cân cứ cần
chấp nhận.
[5]. Về án phí dân s phúc thm: Do kháng o đưc chp nhn nên ông
ng Quc M không phi chịu án phí dân s phúc thm. Hoàn tr cho ông M
300.000 đồng tm ng án phí dân spc thm đã np.
Vì các lẽ trên;
9
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bđơn ông Ừng Quốc M, sửa bản án
sơ thẩm số: 45/2018/DSST ngày 11-9-2018 của Toà án nhân dân huyện Đ.
Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147,
khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bluật Tố tụng dân sự; Điều 73, Điều 79
Luật đất đai m 1993; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 24 Pháp
lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27-02-2009 của U ban Thường vụ Quốc hội
quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Bác đơn khởi kiện của nguyên đơn Thị Th đối với bị đơn ông Ừng
Quốc M về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
2. Về chi phí tố tụng: Thị Th phải chịu 2.500.000đ (hai triệu năm
trăm nghìn đồng) chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản,
được khấu trừ vào số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp.
Ông Ừng Quốc M phải chịu 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng)
chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại giai đoạn phúc thẩm, được khấu trừ vào số
tiền 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng) đã nộp.
Ông Ừng Quốc M phải chịu 4.000.000đ (bốn triệu đồng) tiền chi phí giám
định, được khấu trừ vào số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) đã nộp.
3. Về án phí dân sự thẩm: Thị Th phải chịu 200.000đ (hai trăm
nghìn đồng) án phí dân sự thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí đã
nộp 930.000đ (chín trăm ba mươi nghìn đồng) ông Phan Xuân L đã nộp theo
biên lai số 003528 ngày 25-3-2013 tại Chi cc Thi nh án dân sự huyện Đ,
tỉnh Đắk Nông, trả lại cho ông L 730.000đ (bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
4. Ván p dân sự phúc thm: Hoàn trả cho ông Ừng Quốc M 300.000đ
(ba trăm nghìn đồng) tm ứng án phí dân s phúc thẩm đã nộp theo biên lai s
0002235 ny 04-10-2018 tại Chi cục Thi hành án huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đăk Nông;
- TAND huyện Đ;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Lê Quốc Hương
10
Tải về
Bản án số 56/2019/DS-PT Bản án số 56/2019/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất