Bản án số 55/2021/HSST ngày 20/08/2021 của TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 55/2021/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 55/2021/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 55/2021/HSST ngày 20/08/2021 của TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Tam Điệp (TAND tỉnh Ninh Bình) |
| Số hiệu: | 55/2021/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/08/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 55/2021/HSST
Ngày: 20-8-2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:ông Quách Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đang.
2. Ông Lê Thanh Sơn.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên
tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam
Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2021/TLST-HS ngày
30 tháng 7 năm 2021 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
54/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021, đối với bị cáo:
Lê Minh C, sinh ngày 20/6/1994, tại thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình; nơi
cư trú: Khu A, phường BS, thị xã BS, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự
do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;
tôn giáo: không; con ông Lê Tất Th và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ con; tiền
án, tiền sự: không; nhân thân: + (1) bị Tòa án nhân dân Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh
Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản
án Hình sự sơ thẩm số 22 ngày 15/6/2017, chấp hành xong ngày 28/4/2018 (đã
được xóa án tích). + (2) bị xử phạt vi phạm hành chính “cảnh cáo” về hành vi sử
dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13
ngày 16/6/2014 của Công an phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh
Bình (đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử lý hành chính) + (3) bị xử phạt vi
phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13 ngày 3/2/2015 của Công an
phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (đã đủ điều kiện được
coi như chưa bị xử lý hành chính) + (4) bị xử phạt vi phạm hành chính 500.000
đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm
2
hành chính số 05 ngày 5/01/2016 của Công an phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn,
tỉnh Thanh Hóa (đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử lý hành chính); bị tạm
giữ từ ngày 25/5/2021 đến ngày 2/6/2021 chuyển tạm giam tại Trại Tạm giam
Công an tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Lê Thị L, sinh
năm 1950, trú tại: Tổ B, phường NS, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình (có mặt)
- Người làm chứng
+ Ông Nguyễn Văn Th (vắng mặt).
+ Ông Dương Văn Tr (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 25/5/2021, tại lề đường bên phải theo hướng
Thanh Hóa - Ninh Bình, đường Bùi Thị Xuân, thuộc địa phận tổ 4, phường Tây
Sơn, thành phố Tam Điệp, Lê Minh C đang cất giữ trong túi quần bên phải phía
trước đang mặc trên người 01 túi nilon màu trắng có viền xanh một đầu, bên
trong là chất tinh thể màu trắng (túi nilon này được gói bằng giấy mềm màu
trắng bỏ trong 01 túi nilon màu hồng) thì bị tổ công tác Công an phường Tây
Sơn tiến hành kiểm tra, phát hiện. Lê Minh C đã giao nộp 01 túi nilon màu trắng
có viền xanh một đầu, bên trong là chất tinh thể màu trắng và khai nhận chất
tinh thể màu trắng là ma túy “đá” mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác
còn thu giữ của Công 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Minh C, 01 xe mô
tô nhãn hiệu DAEHANIKD, BKS 35AA-016.57. Sau đó đưa Lê Minh C về trụ
sở Công an phường Tây Sơn lập biên bản thu giữ niêm phong vật chứng và biên
bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày Công an phường Tây Sơn chuyển
vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp giải quyết
theo thẩm quyền.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã lấy chất tinh thể
màu trắng thu giữ của Lê Minh C làm mẫu vật gửi đi giám định (kí hiệu M). Tại
bản kết luận giám định số 416/KLGĐ - PC09 - MT ngày 01/6/2021 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối
lượng 0,3457 gam (không phẩy ba nghìn bốn trăm năm mươi bảy gam) là ma
túy, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, số thứ tự 323; Nghị
định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 28 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Minh C
3
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều
249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn
giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Minh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
để xử phạt bị cáo Lê Minh C từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành
hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 25/5/2021.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng các điểm a, c
khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ
luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng, bao gồm: số ma túy, loại
Methamphetamine còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng
0,2656 gam ma túy; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong gồm: 01
túi nilon màu hồng KT (30x24) cm; 01 mảnh giấy mềm màu trắng KT
(30x9,5)cm, 01 túi nilon màu trắng viền xanh 01 đầu KT (2x1,5)cm, 01 vỏ
phong bì đã bị xé rách một đầu dùng để niêm phong gói ma túy thu giữ của Lê
Minh C.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình
với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo cho rằng bị truy tố là
đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết
vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được mức hình phạt nhẹ nhất.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị L xác nhận
đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp trả lại chiếc xe
môtô BKS: 35AA-016.57; nhãn hiệu DAEHANIKD. Bà Lê Thị L không có yêu
cầu, đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố
Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo nhận tội và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng
người, đúng tội, người làm chứng đều có lời khai báo xác định được chứng kiến
bị cáo bị công an kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 túi nilon màu hồng, bên trong túi
nilon màu hồng là 01 gói giấy mềm màu trắng, bên trong gói giấy mềm là 01 túi
4
nilon màu trắng có viền xanh một đầu, bên trong là chất tinh thể màu trắng được
bị cáo cất giữ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc trên người, tại chỗ bị
cáo khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy “đá” bị cáo mua về để sử dụng
cho bản thân. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị
cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản
bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài
liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16
giờ 00 phút ngày 25/5/2021, tại đường Bùi Thị Xuân, thuộc địa phận tổ 4,
phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp, bị cáo Lê Minh C đã có hành vi cất giữ
trong người 0,3457 gam (không phẩy ba nghìn bốn trăm năm mươi bảy gam) ma
túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi cất
giữ chất ma túy trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là tàng trữ
trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà
nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, là
nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy” như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Khối lượng ma túy Methamphetamine bị cáo tàng trữ được quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu
tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên
bị cáo Lê Minh C được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái
phép chất ma túy đã được xóa án tích và 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính
về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã đủ điều kiện được coi là chưa bị xử
lý hành chính) chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo.
[5] Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng, loại
chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép và nhân thân của bị cáo thấy mức hình phạt
mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt bị cáo
5
là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng
thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng
ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt
bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Chứng minh nhân dân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội;
bà Lê Thị L là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS 35AA-016.57 cho bị cáo mượn
nhưng không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy nên trong quá trình điều tra
Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Lê Minh C 01 chứng minh nhân dân mang
tên Lê Minh C, trả lại cho bà Lê Thị L 01 xe mô tô BKS 35AA-016 là đúng
pháp luật.
Đối với số ma túy được hoàn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành.
Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong gồm: 01 túi nilon
màu hồng KT (30x24) cm; 01 mảnh giấy mềm màu trắng KT (30x9,5)cm, 01 túi
nilon màu trắng viền xanh 01 đầu KT (2x1,5)cm, 01 vỏ phong bì đã bị xé rách
một đầu dùng để niêm phong gói ma túy thu giữ của Lê Minh C là vật không
còn giá trị. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại các điểm a, c khoản 2
Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ
luật Hình sự.
[7] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Lê Minh C khai mua của một người đàn
ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực DX, thuộc khu A, phường BS, thị xã
BS, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã
tiến hành xác minh nhưng không xác định được là ai nên không có cơ sở để xử
lý.
[8] Bị cáo Lê Minh C bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự vàĐiều 23 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật
Hình sự;
Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c
khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
6
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
2. Xử phạt bị cáo Lê Minh C 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2021.
3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng thủ tục pháp
luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 416/KLGĐ-PC09-MT, mẫu vật hoàn trả
gồm: M= 0,2656 (không phẩy hai nghìn sáu trăm năm mươi sáu) gam là ma túy,
loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.
- 01 (một) phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật
còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi: vật chứng còn lại: 01 túi nilon màu hồng KT
(30x24) cm; 01mảnh giấy mềm màu trắng KT (30x9,5)cm; 01 túi nilon màu
trắng viền xanh KT (2x 1,5)cm; 01 vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu dùng
để niêm phong vật chứng ban đầu của Lê Minh C.
(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 30/7/2021 giữa
cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Tam Điệp)
4. Về án phí: bị cáo Lê Minh C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và
9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Bình;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
- VKSND thành phố Tam Điệp;
- Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp;
- Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp;
- Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu: HSVA, VP.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Quách Thành Trung
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm