Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 23/04/2025 của TAND huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 54/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 23/04/2025 của TAND huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Phú Ninh (TAND tỉnh Quảng Nam) |
| Số hiệu: | 54/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/04/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-4-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi
con khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà
Nguyễn Thị Mận
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà
Lê Thị Sỹ
Ông
Bùi Kim Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Diệu – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện P,
tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02
năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố T,
tỉnh Quảng Nam.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Phú
Ninh, tỉnh Quảng Nam.
Bà P có mặt; ông T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên
đơn bà Lê Thị P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và xây
dựng gia đình có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Quảng
Nam vào năm 2013. Trong thời gian chung sống giữa vợ chồng bà xảy ra nhiều bất
đồng, mâu thuẫn nguyên nhân do chồng bà ông Nguyễn Văn T dùng chất gây nghiện
như cỏ mỹ và ma túy đá, đã từng đi cai nghiện về nhưng vẫn sử dụng và về đánh bà,
dùng những lời nói đe dọa mẹ con bà. Bà và ông T hiện nay không còn chung sống
với nhau nữa, bà về sinh sống cùng ba mẹ ruột ở T, T còn ông T sống với ba mẹ ông
Thành ở T, P, vợ chồng phần ai nấy sống, không quan tâm nhau. Bà thấy tình cảm vợ
2
chồng rạn nứt, mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu
Tòa án giải quyết ly hôn. Về nuôi con chung vợ chồng bà có 01 con chung là Nguyễn
Trường D, sinh ngày 15-10-2013. Bà hiện nay làm công nhân may tại Khu công
nghiệp T, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 6.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng, bà
đảm bảo đủ điều kiện nuôi dạy con đến khi thành niên đủ 18 tuổi. Ông T làm nghề tự
do, thu nhập không ổn định. Do đó, khi ly hôn bà có nguyện vọng trực tiếp nhận nuôi
con chung đến khi thành niên đủ 18 tuổi, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi
tháng 2.000.000 đồng.Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Tại bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn T trình
bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị P tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia
đình có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam vào
năm 2013. Nay bà P yêu cầu ly hôn ông đồng ý ly hôn. Về nuôi con chung vợ chồng
ông có 01 con chung là Nguyễn Trường D, sinh ngày 15-10-2013, nếu ly hôn ông có
nguyện vọng giao con cho bà P trực tiếp nuôi con chung đến khi thành niên và ông cấp
dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng cho đến khi con thành niên đủ
18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì lý
do ông bận công việc, ông không có thời gian để đến Toà án tham gia giải quyết vụ án
nên đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt ông.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội
đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà Lê Thị P; Về quan hệ hôn nhân bà Lê Thị P ly hôn với ông Nguyễn Văn
T; Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Trường D, sinh ngày 15-10-2013 cho
bà Lê Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên đủ 18 tuổi,
ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu D mỗi tháng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng cho
đến khi cháu D thành niên đủ 18 tuổi; Về tài sản chung, nợ chung không có, bà P
không yêu cầu nên không đề nghị giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng
tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
3
Về quan hệ pháp luật: Bà Lê Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn, yêu
cầu giải quyết về nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường
trú tại xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân huyện P, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 51, 53 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014. Ông Thành có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1
Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh
Quảng Nam nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Xét thấy, theo trình bày của bà P thì trong thời gian chung sống giữa vợ chồng
bà xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn nguyên nhân do ông T dùng chất gây nghiện như
cỏ mỹ và ma túy đá, đã từng đi cai nghiện về nhưng vẫn sử dụng và về đánh bà, dùng
những lời nói đe dọa mẹ con bà. Bà và ông T hiện nay không còn chung sống với
nhau nữa, vợ chồng phần ai nấy sống, không quan tâm nhau. Bà thấy tình cảm vợ
chồng rạn nứt, mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu
Tòa án giải quyết ly hôn. Ông T thống nhất ly hôn theo yêu cầu của bà P.
Hội đồng xét xử thấy quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T đã thực sự trầm
trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Lê Thị P và ông
Nguyễn Văn T ly hôn.
[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng bà P, ông T có 01 con chung là Nguyễn
Trường D, sinh ngày 15-10-2013, khi ly hôn bà P có nguyện vọng nhận nuôi cháu D
và ông T cũng đồng ý giao cháu D cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng đến khi thành niên đủ 18 tuổi. Xét thấy, cháu D hiện nay đã trên 07 tuổi, cháu
được bà P nuôi dạy tốt, phát triển bình thường, cháu D có nguyện vọng được ở với bà
P, bà P có công việc làm và có mức thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi dạy
cháu D đến khi thành niên. Do đó, HĐXX quyết định giao con chung Nguyễn Trường
D cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là đảm bảo quyền lợi cho con và
phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, bà P yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn
Trường D mỗi tháng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng, ông T thống nhất mức cấp dưỡng đối
với cháu D mỗi tháng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng cho đến khi cháu D thành niên đủ
18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu
D mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 4/2025 đến khi

4
cháu D thành niên đủ 18 tuổi là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 110 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NĐ-HĐTP của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Nghị định 74/2024/NĐ-CP của Chính phủ.
[2.3] Về chia tài sản chung: Bà P, ông T khai không có nên không xem xét, giải
quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà P, ông T khai không có nên không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Lê Thị P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí
hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn)
đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014;
Căn cứ vào Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30-6-2024 của Chính phủ quy định mức
lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị P và ông Nguyễn Văn T ly hôn.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Trường D, sinh ngày 15-10-2013
cho bà Lê Thị Phượng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi
thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung
Nguyễn Trường D mỗi tháng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng; Thời gian cấp dưỡng kể từ
tháng 4/2025 cho đến khi con thành niên đủ 18 tuổi; phương thức cấp dưỡng: hàng
tháng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

5
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
mà không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Bà Lê Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn
nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng bà P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018088,
ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Quảng
Nam. Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp
dưỡng nuôi con chung.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
(23-4-2025); bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND huyện P;
- THADS huyện P;
- UBND xã Tam Thăng, tp Tam Kỳ
(Số 22/2013 ngày 30/5/2013)
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Mận
6
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Mận
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm