Bản án số 53/2018/HS-ST ngày 09/08/2018 của TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 53/2018/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 53/2018/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 53/2018/HS-ST ngày 09/08/2018 của TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Sóc Trăng (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
| Số hiệu: | 53/2018/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/08/2018 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG
_______________
Bản án số: 53/2018/HS-ST
Ngày 09-08-2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Tấn Vinh
-Thư ký phiên tòa: Ông Võ Văn Nhƣ là Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc
Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai
vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý số
47/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 45/2018/QĐXXHS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
1/. Nguyễn Quốc T. Sinh năm: 1984. Đăng ký thường trú: ấp A, xã B,
huyện Cù lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn
giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không. Con ông: Nguyễn
Hữu T, (đã chết) và bà: Trần Thị L, sinh năm: 1951.Vợ: Bùi Thị Ngọc G, sinh
năm: 1984. Con: có 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013. Anh, chị
em ruột: có 06 người, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất là bị cáo. Tiền án: 02
lần: Lần thứ nhất: Vào ngày 10/11/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét
xử phúc thẩm, tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù, về Tội cướp giật tài sản, chấp
hành xong ngày 31/8/2015; Lần thứ hai: Vào ngày 18/01/2017, bị Tòa án nhân
dân thành phố Sóc Trăng tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù, về Tội trộm cắp tài
sản, đến ngày 28/02/2018 chấp hành án xong chưa được xóa án tích. Tiền sự:
không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 07 năm 2018 và chuyển tạm giam
cho đến nay. (có mặt)
2/. Trần Phong Trân V. Tên gọi khác: Kim Trên. Sinh năm: 1990.
Đăng ký thường trú: số 0, đường N, khóm M, phường I, thành phố Sóc Trăng.
Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12;
2
Nghề nghiệp: không; Con ông: Trần Kiểm H, sinh năm: 1964 và bà: Trần Thị
Thu N, sinh năm: 1966. Vợ: Trần Kiều D, sinh năm: 1993. Con: có 01 người,
sinh năm 2013. Anh, chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất
sinh năm 1993. Tiền án: không. Tiền sự: 01 lần: Vào ngày 28/05/2018, bị Công
an xã An Viên, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm
hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản của người
khác. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 07 năm 2018 và chuyển tạm giam
cho đến nay. (có mặt)
- Người bị hại: Trƣơng H, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số 01, đường C,
phường P, thành phố Sóc Trăng (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm
1968; Địa chỉ: Số 02, đường G, khóm 1, phường L, thành phố Sóc Trăng, tỉnh
Sóc Trăng (có mặt)
- Người làm chứng:
1.Thạch Sa R, sinh năm 1987; Địa chỉ.......... (có mặt);
2. Huỳnh Lâm H, sinh năm 1967; .......... (vắng mặt);
3. Trƣơng Văn T, sinh năm 1990; Địa chỉ: .......... (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 03/07/2018, T điều khiển xe mô tô
mang biển số 83H5-1262 do anh Nguyễn Ngọc Đinh H là chủ sở hữu, đi từ nhà
chị ruột của T tại xã U, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đi đến thành phố Sóc
Trăng, T điều khiển đi đến nhà số 388 đường Lý Thường Kiệt, khóm 3, phường
4, thành phố Sóc Trăng gặp V, tại đây V rủ T đi tìm tài sản của người khác để
lấy trộm thì T đồng ý, lúc này V chỉ dẫn cho T điều khiển xe mô tô mang biển
số 83H5-1262 đi vào đường Nguyễn Huệ theo hường từ đường Lê Duẩn đi vào
trung tâm chợ Mỹ Phương, khi T và V điều khiển xe đi trên đường thì phát hiện
có một ngôi nhà đang xây dựng gần nhà số 525, đường Nguyễn Huệ, phường 9,
thành phố Sóc Trăng có để đồ xây dựng trong công trường nhưng không có
người trông giữ, lúc này T điều khiển xe chở V chạy xung quanh công trình
khoảng 04 lần quan sát không có ai, nên T và V dừng xe lại rồi cả hai cùng đi bộ
vào khu đất trống cặp bên ngôi nhà đang xây dựng đi ra phía sau công trình, khi
đến phía sau công trình T và V nhìn thấy có một cánh cửa được làm bằng gỗ tạm
có kích thước 02 mét x 01 mét, không được làm chắc chắn, cho nên V đã dùng
tay bẽ gãy hai tấm gỗ trên cánh cửa tạo thành một lỗ hổng, sau đó V đi vào bên
3
trong công trình trước, đến lượt T đi theo sau vào bên trong công trình, sau khi
vào bên trong thì T lấy trộm được 02 chân giàn giáo được làm bằng sắt có kích
thước cao 1,7 mét rồi T đem ra bên ngoài, còn V lấy trộm được 02 chân giàn
giáo được làm bằng sắt có kích thước cao 1,2 mét và 01 chân giàn giáo được
làm bằng sắt có kích thước 1,7 mét, khi lấy được tài sản thì V lần lượt đưa từng
chân giàn giáo ra bên ngoài cho T, sau khi lấy trộm được tài sản của doanh
nghiệp tư nhân “Trương H” do anh Trương H là chủ sở hữu, T và V đã đem 05
chân giàn giáo ra đến nơi dựng xe mô tô, V ngồi phía sau ôm 05 chân giàn giáo
cho T điều khiển xe chở đi tìm chỗ tiêu thụ, khi cả hai chở tài sản lấy trộm đi
được khoảng 10 mét thì bị lực lượng Công an phường 9, thành phố Sóc Trăng
phát hiện bắt quả tang cùng với vật chứng của vụ án.
Tại kết luận định giá tài sản số 90/KL.ĐGTS, ngày 05 tháng 7 năm 2018,
của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sóc Trăng, kết luận: 03 chân giàn giáo
cao 1,7 mét, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 80%, có giá là 840.000
đồng; 02 chân giàn giáo cao 1,2 mét, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại
80%, có giá là 240.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.080.000 đồng.
Tại bản Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 48/QĐ-VKS.TPST
ngày 24 tháng 7 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã
truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc T và Trần Phong Trân V về tội “Trộm cắp tài
sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017).
Tại tòa, bị cáo thừa nhận quyết định truy tố đúng với hành vi bị cáo thực
hiện.
Tại toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên
bố các bị cáo Nguyễn Quốc T và Trần Phong Trân V phạm tội Trộm cắp tài
sản”; đề nghị áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51;
Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) đối với bị cáo T; áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1
Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017) đối với bị cáo V; đề nghị xử phạt bị cáo T từ 09 tháng đến 12
tháng tù; xử phạt bị cáo V từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương H đã nhận lại tài sản, nên không
có yêu cầu các bị cáo bồi thường. Nên không đặt ra xem xét.
Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

4
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng
thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài
ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến
hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đối với việc vắng mặt người bị hại, người làm chứng đã có lời khai
làm rõ trong hồ sơ vụ án, không trở ngại đến việc bồi thường thiệt hại, tính
quyết định hình phạt. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình
sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt đối với người bị hại.
[3].Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quốc T và Trần Phong Trân V khai
nhận: Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 03/07/2018, T điều khiển xe mô tô đi
đến thành phố Sóc Trăng gặp V, V rủ T đi lấy trộm tài sản. Các bị cáo đi ngang
ngôi nhà đang xây dựng gần nhà số 525, đường Nguyễn Huệ, phường 9, thành
phố Sóc Trăng có để đồ xây dựng trong công trường. Bị cáo T và V lén lút vào
lấy 05 chân giàn giáo ra đến nơi dựng xe mô tô, V ngồi phía sau ôm 05 chân
giàn giáo cho T điều khiển xe chở đi tìm chỗ tiêu thụ, khi cả hai chở tài sản lấy
trộm đi được khoảng 10 mét thì bị lực lượng Công an phường 9, thành phố Sóc
Trăng phát hiện bắt quả tang cùng với vật chứng. Qua định giá tài sản mà các bị
cáo chiếm đoạt: 03 chân giàn giáo cao 1,7 mét, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng
còn lại 80%, có giá là 840.000 đồng; 02 chân giàn giáo cao 1,2 mét, đã qua sử
dụng, giá trị sử dụng còn lại 80%, có giá là 240.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là
1.080.000 đồng.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ
quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, các chứng cứ và
tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định như
sau: Các bị cáo thống nhất thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không có
phân công vai trò cụ thể cho từng người nên không phải là đồng phạm có tổ
chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc T lén lút
chiếm đoạt tài sản dưới 02 triệu đồng, nhưng đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Hành vi của bị cáo Trần Phong Trần V
lén lút chiếm đoạt tài sản dưới 02 triệu đồng, nhưng đã bị xử phạt hành chính về
hành vi trộm cắp tài sản mà còn vi phạm.
Nên Tòa án kết luận các bị cáo Nguyễn Quốc T và Trần Phong Trần V
phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của
Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

5
Như vậy, Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc
Trăng truy tố đối với hành vi của các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội
và đúng pháp luật.
[4]. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét các tình tiết giảm nhẹ: Sau
khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo; Các bị cáo phạm tội nhưng chưa
gây thiệt hại; Bị cáo V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ
luật hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5].Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhân lại tài sản không yêu các
bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Xét lời đề nghị của kiểm sát viên về việc áp dụng pháp luật là có căn
cứ, về hình phạt cần xử phạt các bị cáo mức án khởi điểm như Kiểm sát viên đề
nghị là phù hợp.
[7].Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu theo quy định pháp
luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51; Điều 38;
Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối
với bị cáo Trung; điểm a Khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51; Điều
38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
đối với bị cáo V;
[1].Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc T và Trần Phong Trân V phạm tội
Trộm cắp tài sản”;
[2]. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 03 tháng 7 năm 2018.
[3]. Xử phạt bị cáo Trần Phong Trân V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngày 03 tháng 7 năm 2018.
[4].Trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi
thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải nộp là 200.000đồng
(Hai trăm nghìn đồng);
Báo cho bị cáo được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên
án. Riêng người bị hại vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án tỉnh Sóc Trăng
xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

6
Nơi nhận:
- Sở tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Sóc Trăng;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng;
- Cơ quan thi hành án hình sự CATP Sóc Trăng;
- Chi Cục thi hành án dân sự TP. Sóc Trăng;
- Bị cáo;
- Người bị hại;
- Lưu HSVA.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
7
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Thắm
Huỳnh Hoài Nam
Lâm Tấn Vinh
8
9

10
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND TPST;
- CAND TPST;
- Chi Cục THA Dân sự TP. Sóc Trăng;
- Bị cáo;
- Bị hại; Người có QL, NV liên quan;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Quốc Định
11
12
13
14
15
16
17
18
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng