Bản án số 52/2021/HS-ST ngày 19/08/2021 của TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 52/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 52/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 52/2021/HS-ST ngày 19/08/2021 của TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình về tội mua bán trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lệ Thủy (TAND tỉnh Quảng Bình) |
| Số hiệu: | 52/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/08/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LỆ THUỶ
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 52/2021/HS-ST
Ngày: 19/8/2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ- TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Toàn
Ông Trương Hải Nam
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương, Thư ký Tòa án huyện
Lệ Thủy, Quảng Bình.
- Đại diện VKSND huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên
tòa: Ông Lê Ngọc Diện, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ
mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2021/TLST-
HS ngày 20 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
54/2021/QĐXXST-HS ngày 06/8/2021, đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, tên gọi khác: L, sinh ngày 10/6/1994 tại huyện L, tỉnh Quảng
Bình; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình;
nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Thanh B, sinh
năm 1954 và bà: Đỗ Thị T, sinh năm 1959; Vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự:
Không; nhân thân: Tại Bản án số 30/HS-ST ngày 31/7/2014, bị Tòa án nhân
dân huyện Lệ Thủy xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án số
31/HS-ST ngày 29/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy xử phạt 12 tháng
tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo thi hành xong nghĩa vụ án phí và chấp hành
xong hình phạt tù ngày 03/4/2016. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày
06/3/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Hoàng Ngọc Q, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L,
tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
+ Anh Phan Văn T, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn Văn M, xã T, huyện L,
tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
+ Anh Trần Văn Q, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh
Quảng Bình, vắng mặt;
2
+ Anh Dương Công L, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện L,
tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 05/3/2021, Công an xã T,
huyện L, tỉnh Quảng Bình phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh
tế và ma túy Công an huyện L tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã T. Khi đến
đường liên thôn thuộc địa phận thôn V, phát hiện Đỗ Văn T đứng trên đường có
biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra thì Đỗ Văn T bỏ chạy và lấy
trong người vứt ra giữa đường một hộp bằng nhựa màu trắng, trên nhãn hộp có
dòng chữ “COVERSYL” màu xanh, bên trong có chứa 24 (hai mươi bốn) viên
nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, trên mỗi viên nén đều có ký hiệu
chữ “WY”. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm
giữ và niêm phong tang vật. T khai nhận số viên nén nói trên là ma túy loại
hồng phiến, T tàng trữ nhằm mục đích bán cho Dương Công L 05 viên, số còn
lại để bán cho người khác kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 447/GĐ-PC09 ngày 12/3/2021, Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 24 viên nén hình tròn dạng
thuốc tân dược màu hồng trên một mặt mỗi viên nén đều in chữ “WY” gửi giám
định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 2,59g (hai phẩy
năm mươi chín gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy,
số thứ tự: 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của
Chính phủ.
Quá trình điều tra, xác định Đỗ Văn T đã nhiều lần bán ma túy cho các
đối tượng trên địa bàn, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ ngày 19/02/2021, tại nhà ở của T, thôn V,
xã T, huyện L, T bán cho Hoàng Ngọc Q 03 viên ma túy hồng phiến với số tiền
300.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 19/02/2021, tại đường thôn V, xã T,
huyện L, tỉnh Quảng Bình, T bán cho Phan Văn T 02 viên ma túy hồng phiến
với số tiền 200.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ ngày 02/3/2021, tại đường thôn T, xã T,
huyện L, tỉnh Quảng Bình, T bán cho Trần Văn Q 05 viên ma túy hồng phiến
với số tiền 500.000 đồng.
Lần thứ tư: Khoảng 17 giờ ngày 03/3/2021, tại đường thôn T, xã T,
huyện L, tỉnh Quảng Bình, T bán cho Trần Văn Q 04 viên ma túy hồng phiến
với số tiền 400.000 đồng.
Ngoài ra Đỗ Văn T khai nhận đã bán ma túy cho Hoàng Văn B ở thôn V,
xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình nhưng hiện nay B không có mặt tại địa phương
3
nên chưa lấy lời khai, do đó chưa đủ cơ sở để xác định lần phạm tội này của Đỗ
Văn T.
Vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 24 (hai mươi bốn) viên nén màu
hồng có tổng khối lượng 2,59g ma túy loại Methamphetamine. Sau giám định
còn lại 2,502g (hai phẩy năm trăm linh hai gam) được gói bằng túi nilon trong
suốt, ngoài có ghi chữ “A”, cùng 01 hộp nhựa hình trụ màu trắng, trên nhãn hộp
nhựa có dòng chữ “COVERSYL” màu xanh; một điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone 8, bên trong chứa sim có số serial: 89840200010716729041, tất cả có
đặc điểm như mô tả tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm
phong, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong sau giám định.
Tại bản cáo trạng số 51/CT- VKSNDLT ngày 19/7/2021, Viện kiểm sát
nhân dân huyện Lệ Thủy truy tố bị cáo Đỗ Văn T về “Tội mua bán trái phép
chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa,
đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật, giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
điểm b khoản 2 Điều 251, các điểm r, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1
Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 05 năm 06 tháng đến
06 năm tù; về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều
46, các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2
Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 2,502g
Methamphetamine sau giám định kèm hộp nhựa màu trắng và sim điện thoại;
tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công
an huyện Lệ Thủy, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy
và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,
trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia
tố tụng không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn T khai nhận tất cả hành vi phạm tội của
mình như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng. Bị cáo khai:
Do có ý định mua ma túy để sử dụng và bán lại kiếm lời nên ngày 01/3/2021, bị
cáo đi đến đoạn đường thuộc thôn Q, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình thì gặp
một người phụ nữ không biết tên, địa chỉ cụ thể (đã bán ma túy cho bị cáo 01
lần trước đó), bị cáo chủ động hỏi mua ma túy với số tiền 1.500.000 đồng,
4
người này đồng ý bán cho bị cáo 30 viên. Sau khi mua được số ma túy, bị cáo
mang về cất giấu để vừa sử dụng và vừa bán kiếm lời, bị cáo đã sử dụng và bán
hết 06 viên, còn lại 24 viên, tối 05/3/2021 đang trên đường đưa đi bán cho
Dương Công L 05 viên và có ai hỏi thì bán nhưng đã bị Công an huyện Lệ
Thủy phát hiện và thu giữ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những
người làm chứng cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do cơ
quan điều tra đã thu thập đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/3/2021, tại đường liên thôn
thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, Đỗ Văn T đã có hành
vi tàng trữ trái phép 2,59g ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán.
Ngoài ra, từ ngày 19/02/2021 đến ngày 04/3/2021, Đỗ Văn T đã bán ma túy 04
lần cho các đối tượng Trần Văn Q, Phan Văn T, Hoàng Ngọc Q trên địa bàn xã
T. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành Tội mua bán trái phép chất ma túy quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc
quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và trật tự an toàn xã hội, làm ảnh
hưởng đến tinh thần, sức khỏe của con người, gieo sự lo lắng cho gia đình bị
cáo và toàn xã hội nói chung. Bị cáo đã thực hiện việc bán ma túy nhiều lần cho
nhiều đối tượng trên địa bàn huyện L, tỉnh Quảng Bình nên phải chịu tình tiết
định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; về nhân thân: Bị cáo đã có 2
lần bị Tòa án xét xử đều về Tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành án xong và được
xóa án tích. Vì vậy, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ
của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đồng thời phải cách ly bị cáo ra khỏi đời
sống xã hội một thời gian để cải tạo tập trung mới có tác dụng giáo dục, răn đe
bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như xét hỏi tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử thấy: Sau khi bị bắt về hành vi phạm tội quả tang, bị cáo đã tự
thú khai ra các hành vi phạm tội của mình trước đó; bị cáo luôn tỏ thái độ thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra, bố bị cáo là thương binh thuộc diện
người có công với cách mạng nên khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử
thống nhất áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại các điểm r, s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định một mức án
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để giảm nhẹ cho
bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, vì bị cáo
có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
[5]. Về nguồn gốc số ma túy, Đỗ Văn T khai mua của một người phụ nữ
nhưng không xác định được địa chỉ và họ tên cụ thể, Cơ quan Điều tra không đủ
cơ sở để xác minh, xử lý; đối với Trần Văn Q, Phan Văn T, Hoàng Ngọc Q có
5
hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Công an huyện Lệ Thủy xử lý vi
phạm hành chính; Đỗ Văn T khai có bán ma túy cho Hoàng Văn B nhưng hiện
nay Hoàng Văn B không có mặt tại địa phương, cơ quan Điều tra chưa lấy được
lời khai nên Hội đồng xét xử chưa có đủ cơ sở để xem xét lần phạm tội này của
Đỗ Văn T.
[6].Về vật chứng: 2,502g Methamphetamine sau giám định là vật cấm
tàng trữ, lưu hành kèm theo vỏ hộp nhựa không có giá trị sử dụng, cần tịch thu
tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 bên trong chứa sim có số
serial: 89840200010716729041 của bị cáo Đỗ Văn T là phương tiện phạm tội,
bị cáo đã dùng liên lạc với các đối tượng để bán ma túy, sim không có giá trị
nên cần tịch thu tiêu hủy, điện thoại di động tịch thu nộp vào ngân sách Nhà
nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 46, các điểm a, c khoản 1 Điều 47
của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình
sự và cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[7].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[8].Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 46, các điểm a, c khoản 1 Điều 47
của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135 và
khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/NQ-
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm
giữ, tạm giam 06/3/2021. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Đỗ Văn T 45
ngày kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo thi hành án (có quyết định riêng).
- Tịch thu và tiêu huỷ 2,502g Methamphetamine sau giám định kèm theo
vỏ bao gói, vỏ hộp nhựa và sim có số serial: 89840200010716729041; tịch thu
nộp vào ngân sách Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8. Tất cả
có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra và Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy ngày 22/7/2021.
Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để nộp
vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án 19/8/2021, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản
6
án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc
thẩm.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
những người LQ;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND h. Lệ Thủy;
- VKSND t. Quảng Bình;
(Đã ký)
- TAND tỉnh Q Bình;
- Công an h.Lệ Thủy và ĐTV;
- Chi cục THADS h. Lệ Thủy;
- Sở Tư pháp t. Q Bình;
- Bộ phận THAHS;
- Lưu VP, HS
Trương Thị Nhàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng