Bản án số 52/2017/HSST ngày 24/09/2017 của TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 52/2017/HSST

Tên Bản án: Bản án số 52/2017/HSST ngày 24/09/2017 của TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Lai Châu (TAND tỉnh Lai Châu)
Số hiệu: 52/2017/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 52/2017/HSST
Ngày 24 9 2017
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:Hoàng Thị Vân Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Thanh Tuyền
Ông Hồ Thanh Sơn
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Khánh – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Dịu Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở UBND phường Tân Phong, TP. Lai Châu,
tỉnh Lai Châu xét x thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thẩm thụ số
50/2017/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
51/2017/HSST- ngày 13/9/2017 đối với bị cáo:
Họ tên: Văn K; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994 tại tỉnh Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT chỗ trước khi bị bắt: Bản C, xã S, thành phố LC, tỉnh Lai Châu;
Nghề nghiệp: Lao động tdo; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Giấy; Quốc tịch: Việt
Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Văn H (sinh năm 1975) con ThS (sinh
năm 1973); Vợ, con: chưa có; Anh chị em ruột 04 người, bị cáo con thứ hai; Tiền
sự: không; Tiền án: 01 tiền án, tại bản án số 10/2015/HSST ngày 12/3/2015 của Tòa
án nhân dân Krông Pắc, tỉnh Đăk Lăk xử phạt Lù Văn K 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài
sản”; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/5/2017 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà
tạm giữ Công an thành phố Lai Châu, có mặt tại phiên toà.
- Những người bị hại:
1. Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988
Trú tại: Bản T, xã S, thành phố LC, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)
2. Anh Giàng Seo S, sinh năm 1995
Trú tại: Tổ 23, phường Đ, thành phố LC, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)
3. Chị Trần Thị Ngọc M, sinh năm: 1989
Trú tại: Tổ 19, phường P, thành phố LC, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Mai Văn T, sinh năm 1993
Trú tại: Tổ 25, phường Đ, thành phố LC, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong khoảng thời gian từ ngày16/01/2017 đến ngày 30/4/2017 Văn K đã ba
lần trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố LC, tỉnh Lai Châu cụ thể:
2
Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 16/01/2017 Văn K đi bộ từ nhà đến bản
Trung Tâm, xã San Thàng, thành phố Lai Châu thì nhìn thấy 02 chiếc xe máy dựng
sân nhà đối diện nhà máy xi măng tỉnh Lai Châu (nhà của chị Nguyễn Thị Y). Quan sát
thấy cổng nhà chị Y không khóa xung quanh không ai nên K liền mở cổng vào
trong sân đi đến chỗ chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại xe Click, BKS 25 F51280
dùng tay phải kéo yên xe lên, tay trái luồn vào trong cốp xe móc được 01 chiếc túi xách
nữ màu đen rồi mang đến bãi đất trống phía sau Phòng cảnh sát Phòng cháy chữa cháy
Công an tỉnh Lai Châu thuộc tổ 23, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu kiểm tra
thì phát hiện trong túi 6.500.000đồng một số giấy tờ nhân. K lấy toàn bộ số
tiền, còn túi xách và giấy tờ cá nhân K vứt lại.
Ngày 20/01/2017 anh T, sinh năm 1987, trú tại tổ 23, phường Đ, thành
phố LC đã nhặt được chiếc túi xách trên mang đến Công an phường Đông Phong
giao nộp. Quá trình điều tra xác định chiếc túi xách do anh T nhặt được là của chị
Nguyễn Thị Y nên quan cảnh sát điều tra trả lại cho chị Y. Do chiếc túi xách đã cũ,
túi không nhãn mác, sau khi được quan điều tra trả lại túi chị Y đã vứt đi nên
quan điều tra không tiến hành định giá được.
Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 06/03/2017 khi K đi bộ khu vực trường
Quý Đôn thuộc tổ 23, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu thì nhìn thấy trong lán
công trình đang xây dựng có 02 người đàn ông đang ngủ, K liền đi vào trong lán lục tìm
tài sản lấy trộm được của anh Giàng Seo S 01 chiếc da màu đen bên trong
100.000đồng, một số giấy tờ cá nhân và một chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA loại xe
Sirius màu đen, trắng, biển kiểm soát 24Z1 02806, kèm chìa khóa xe. Sau khi trộm
cắp được tài sản, K điều khiển xe máy đến San Thàng tìm chỗ cầm đồ nhưng không
cầm được nên K quay lại đoạn đường phía dưới Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lai Châu,
thuộc tổ 23, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, K lấy 100.000đồng trong ví, còn
giấy tờ nhân K vứt lại rồi đi bộ về nhà. Sáng ngày 07/3/2017, anh Giàng Seo S
phát hiện bị mất xe máy nên đi tìm và đã tìm thấy xe máy của mình tại địa điểm trên.
Đối với chiếc da đã quan điều tra đã truy tìm nhưng không kết quả nên
không tiến hành định giá được.
Lần thứ ba: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 30/4/2017, trong lúc K đang bến xe
khách tỉnh Lai Châu thuộc bản Tả Xin Chải, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu
thì nhìn thấy chị Trần Thị Ngọc M để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung
Galaxy A7 màu hồng trong túi bên phải của áo khoác vắt lên trên xe máy dựng vỉa
, cạnh cổng ra của bến xe khách rồi đi bộ vào chợ phường Đông Phong. K liền đi đến
chỗ chiếc xe máy, dùng tay phải móc được chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần đang
mặc đi bộ về hướng San Thàng. Sau khi lấy trộm được điện thoại K tháo Sim vứt đi
xóa hết các dữ liệu trong máy, đồng thời lắp sim khác vào để sử dụng. Đến ngày
21/5/2017 K mang chiếc điện thoại trên đi đến quán điện thoại của anh Mai Văn T bán
điện thoại cho T với giá 4.000.000đồng. Số tiền bán điện thoại bị cáo đã tiêu dùng hết.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình như trên.
Các vấn đề khác của vụ án:
3
Ngoài 03 lần phạm tội này, theo lời khai của Lù Văn K thì ngày 06/3/2017 K còn
trộm 03 chiếc điện thoại di động tại lán công trình đang xây dựng ở cạnh trường Lê Quý
Đôn thuộc tổ 23, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu 02 lần trộm cắp tài sản
khác trên địa bàn thành phố Lai Châu. quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh
nhưng không xác được người bị hại, không truy tìm được vật chứng, ngoài lời khai của
K trong hồ sơ không có tài liệu khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để điều tra làm
rõ.
Đối với anh Mai Văn T, kết quả điều tra xác định khi mua chiếc điện thoại
Samsung Galaxy A7 màu hồng của K, anh Mai Văn T không biết đó là tài sản trộm cắp.
Vì vậy, anh Mai Văn T không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
theo quy định tại Điều 250 Bộ luật hình sự.
Kết luận định giá số 12/KLĐG ngày 26/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự UBND thành phố Lai Châu kết luận: chiếc xe máy nhãn hiệu
YAMAHA Sirius màu đen, trắng, BKS 24Z1 02806 đã qua sử dụng còn khoảng 50%
giá trị sử dụng có giá là 10.560.000đồng.
Kết luận định giá số 11/KLĐG ngày 26/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự UBND thành phố Lai Châu kết luận: Chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A7 màu hồng, số IMEL: 356825/07/1146971; IMEL
2:356850/07/114697/9 còn khoảng 70% giá trị sử dụng có giá là 6.993.000đồng.
Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hay khiếu nại về các
kết luận nêu trên.
Người bị hại Nguyễn Thị Y, Giàng Seo S, Trần Thị Ngọc M vắng mặt tại phiên
tòa. Lời khai tại quan điều tra: chị Nguyễn Thị Y thể hiện chị Y không yêu cầu bị
cáo trả lại số tiền 6.500.000đồng, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì; anh S, chị M
thừa nhận đã được nhận lại tài sản không yêu cầu bcáo phải bồi thường thêm.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mai Văn T
có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000đồng.
Bản cáo trạng số 35/KSĐT SH ngày 14/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Lai Châu đã truy tố bị cáo Lù Văn K về tộiTrộm cp tài sản” theo quy định tại
khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, vị đại din Viện kiểmt gi nguyên quan
điểm truy tố và đề nghị Hi đồngt xử: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1
Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 B lut hình sự, xử phạt bị o K từ 03 đến 04 m .
Thời hạn tù nh từ ngày 26/5/2017. V trách nhiện dân s nhng ni bị hại, người có
quyền lợi nga vụ ln quan không yêu cầu nên kng đặt vấn đ xem t giải quyết. Về
biện pp pp áp dng điểm b khoản 1 Điu 41 Bluật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 76
Bộ luật tố tụng hình s truy thu sung qu Nhà nước số tin 10.600.00ồng là tiền do phạm
tội mà bị o có được.
Tại lời nói sau cùng bị cáo K rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân
và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng, giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào c i liệu trong h ván đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nsau:
* Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố Lai
Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo những
người tham gia tố tụng khác đều không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định
tố tụng của quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định ttụng của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
* Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Khoảng 19 giờ ngày 16/01/2017 Văn K đã hành vi móc cốp xe máy của
chị Nguyễn Thị Y, tại Bản Trung Tâm, San Thàng, thành phố Lai Châu lấy đi của
chị Y số tiền 6.500.000đồng chị để trong 01 túi xách.
Đến khoảng 23 giờ, ngày 06/3/2017 K đến lán công trình xây dựng khu vực
trường Quý Đôn thuộc tổ 23, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu lục tìm tài
sản và lấy trộm được của anh Giàng Seo Sếnh 01 chiếc da màu đen bên trong
100.000đồng, một số giấy tờ cá nhân và một chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA loại xe
Sirius màu đen, trắng, biển kiểm soát 24Z1 02806, kèm chìa khóa xe. Theo kết luận
nêu trên của Hội đồng định giá chiếc xe có giá là 10.560.000đồng. Tổng giá trị tài sản K
lấy trộm của anh S là 10.660.000đồng.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 30/4/2017 K đã lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu hồng ở trong túi bên phải của áo khoác vắt lên trên
xe máy dựng ở vỉa hè cạnh cổng ra của bến xe khách tỉnh Lai Châu. Đến ngày
21/5/2017 K mang chiếc điện thoại trên đi đến quán điện thoại của anh Mai Văn T bán
cho T với giá 4.000.000đồng.
Bcáo Lù Văn K ni có đ ng lực chu trách nhiệm hình sự, nhn thức được
việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, để tha mãn
nhu cầu tiêu dùng của bn thân bị o vẫn cý thực hiện nh vi phạm tội. nh vi đó
nguy hiểm cho xã hội, có tính cht nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu i sản hợp
pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố
Lai Châu.
Như vậy, đủ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Văn K cấu thành tội
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự. Hơn nữa bị cáo có 01 tiền
án, tại bản án s10/2015/HSST ngày 12/3/2015 của Tòa án nhân dân Krong Pắc, tỉnh
Đắk Lắk đã áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g khoản 1 Điều 48 (g. “tái phạm”), điểm
g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm về tội “Trộm
cắp tài sản”.Tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích. Như vậy, hành vi
của bị cáo là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình
sự (b. đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý”). Do đó, cáo trạng
của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự (c. i
phạm nguy hiểm”) là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pp
luật.
5
* Vnhân thân và các nh tiết tăng nng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo K nhân thân xấu đã ba lần bị Tòa án xét xử về tội trộm
cắp tài sản, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân thành công
dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội.
Về tình tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại
phiên tòa bị cáo đều ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, cần áp dụng cho bị cáo hưởng
tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.
V tình tiết ng nặng trách nhiệm nh sự: trong thời gian tngày 16/01/2017 đến
30/4/2017 bị o đã thc hiện 03 lần trộm cắp i sản, giá trmỗi lần trộm cắp đều tn
2.000.000đồng đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp i sản, đây tình tiết ng nặng trách
nhiệm nh sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Blut hình sự (g. phạm tội
nhiều lần
Trên sở nh chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, nhân
thân, tình tiết ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự t thấy cần thiết phải cách ly bị
cáo ra khỏi đời sống hội một thời gian nhất định để n đe, giáo dục, cải tạo bị o
thành công dân có ích cho hội
* Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 138 Bộ luật hình sự bị
cáo thể bị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền tnăm triệu đồng đến năm mươi
triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều
cho thấy bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định để đảm bảo cho cuộc
sống của bản thân, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định
không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
*Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại Sam Sung Galaxy A7 màu hồng số
IMEL: 356825/07/1146971; IMEL 2:356850/07/114697/9 của chị Trần Thị Ngọc M; 01
chiếc xe máy máy nhãn hiệu YAMAHA loại xe Sirius màu đen, trắng, biển kiểm soát
24Z1 02806 của anh Giàng Seo S; 01 chiếc nữ màu đen, đã qua sử dụng bên trong
01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 đăng xe, 01 bảo hiểm xe
máy đều mang tên Nguyễn Thị Y. Trong qtrình điều tra quan điều tra đã trả lại
cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Những người bhại gồm chTrần Thị Ngọc M, anh
Giàng Seo S, chị Nguyễn Thị Y đều đã nhận lại tài sản, chị Y không yêu cầu bị cáo trả
lại số tiền 6.500.000đồng, người có quyền lợi liên quan anh Mai Văn T cũng không yêu
cầu bị cáo phải trả lại số tiền 4.000.000đồng, không ai yêu cầu bị cáo phải bồi
thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 6.500.000đồng bị cáo lấy trộm của chị Y,
số tiền 100.000 đồng lấy trộm của anh S số tiền 4.000.000đồng bị cáo được do
bán điện thoại trộm cắp của chị M cho anh Mai Văn T, tổng 10.600.000đồng số tiền
bị cáo được do phạm tội có, bị cáo đã tiêu dùng hết nên cần truy thu số tiền trên
đối với bị cáo theo quy định tại điểm b khon 1 Điu 41 B luật hình sự, điểm c khoản 2
Điều 76 Bluật ttụng nh s.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định tại Điều 99
Bộ luật tố tụng hình sNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của
6
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bbị cáon K phạm tộiTrộm cắp i sản”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48
B lut nh sự, xử pht bị cáo Lù Văn K 04 (Bốn) m . Thời hạn tù nh t ngày
26/5/2017.
2. V biện pp tư pháp:
- Áp dụng điểm b khon 1 Điu 41 B luậtnh sự, điểm c khoản 2 Điều 76 Bộ luật t
tụng nh sự: Truy thu stiền 10.600.000đồng (Mười triệu sáu trăm nghìn đồng chẵn) đối
vi b cáo K.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của BLTTHS và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí tòa án bị cáo phải chịu
200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày k
từ ngày tuyên án. Những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt
tại phiên tòa quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản
án được giao cho h hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lai Châu;
- VKSND thành phố Lai Châu;
- Chi Cục THADS thành phố Lai Châu;
- Công an thành phố Lai Châu;
- Bị cáo;
- Những người bị hại;
- Người có QLNVLQ;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà
(đã ký)
Hoàng Thị Vân Anh
Tải về
Bản án số 52/2017/HSST Bản án số 52/2017/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất