Bản án số 51/2022/HS-ST ngày 21-09-2022 của TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng) về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 51/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 51/2022/HS-ST ngày 21-09-2022 của TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng) về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 51/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Phạm Văn T, Bùi Đình T, Phạm Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản. Bùi Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYN AN LÃO
THÀNH PH HI PHÒNG
Bản án số: 51/2022/HS-ST
Ngày 21-9-2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Sinh.
Các Hội Thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thắng;
Bà Bùi Thu Lan.
- Thư phiên tòa: Thị Trang - Thư Tòa án nhân dân huyện An
Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành
phố Hải Phòng xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 54/2022/TLST-
HS ngày 06 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số
206/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn T, tại thành phố Hải Phòng. Nơi trú: Thôn B, T, huyện
T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B
Thị D; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình
sự thẩm số 56/2022/HS-ST ngày 26-7-2022 của Tòa án nhân dân huyện An
Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 21 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị
tạm giữ từ ngày 14-12-2021. Có mặt.
2. Bùi Văn L, tại tnh phHi Phòng. i trú: Tn T, Q, huyện A,
thành ph Hi Png; tin án, tin sự: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
n a: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Kng; quốc tịch: Việt Nam;
con ông i Ngọc L và Đặng Thị Q (đều đã chết); có vợ 02 con; tiền án, tiền
sự: Không. B tạm giữ từ ny 14-12-2021, chuyển tạm giam ngày 23-12-2021.
mặt.
3. Bùi Đình T, tại thành phố Hải Phòng. Nơi trú: Thôn V, Th, huyện
T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tdo; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình T
(đã chết) và Phạm Thị V; chưa vợ con. Tiền sự: Không; tiền án: Bản án số
2
48/2019/HS-ST ngày 27-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương
tuyên phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1
Điều 249 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt BLHS), chấp hành xong ngày 26-6-
2020 (chưa được xóa án tích); nhân thân: Bản án số 15/2022/HS-ST ngày 24-3-
2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương tuyên phạt 21 tháng về tội
“Trộm cắp tài sản”; chấp hành án phạt tù từ ngày 02-12-2021; tiếp tục bị tạm giam
từ ngày 28-7-2022. Có mặt.
4. Phạm Văn Đ, sinh ngày 08-5-1997 tại thành phố Hải Phòng. Nơi trú:
Thôn V, T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Phạm Văn K (đã chết) và Trịnh Thị L; chưa vợ con; tiền án,
tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 27-4-2022 của Tòa án
nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương tuyên phạt 13 tháng về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”; chấp hành án phạt từ ngày 10-3-2022; tiếp tục bị tạm giam
từ ngày 25-7-2022. Có mặt.
- Người bào chữa cho bo Th: Nguyễn Thị H, Trgiúp viên pháp
của Trung tâm Trợ giúp pháp N nước thành phố Hải Png. Có mặt.
- Bị hại:
1. Công ty TNHH MTV Đ, địa chỉ: Số T, phường H, quận H, thành phố
Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu H, Giám đốc Công
ty. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Kim V, cán bộ chi nhánh Điện
lực K, ông Vũ Ngc T, cán bộ chi nhánh Điện lực A; đều có mặt.
2. Công ty Cổ phần tông xây dựng A, địa chỉ: Thôn T, Q, huyện
A, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn M,
Giám đốc công ty. Có mặt.
3. Công ty TNHH K, địa chỉ: Số A, N, khu S phường H, quận H, thành
phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Hồ Thanh H, Giám đốc công
ty. Vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thị L, địa
chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Xuân C, ông Đỗ Văn T, Phạm Thị H.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn L làm nghề xe ôm tại ngã chợ K, Q, huyện A quen biết
thường xuyên chở khách đi xe ôm là Phạm Văn T, cả hai đều đối tượng nghiện
ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 13-12-2021, T nhờ L chở đến cửa hàng điện thoại
Mạnh H thôn Đ, Q, huyện A để cắm chiếc điện thoại di động OPPO A7 cho
chị Nguyễn Thị L được 1.500.000 đồng. T đưa cho L 1.300.000 đồng bảo L đi
mua 1.200.000 đồng ma túy về để cùng nhau sử dụng, còn 100.000 đồng để L đổ
3
xăng. L điều khiển xe Honda Wave BKS: 15D1-0151 đến khu vực đường
tàu Trần Nguyên Hãn, quận Chân mua 04 gói ma túy với giá 1.200.000 đồng
của một người phụ nữ không quen biết. Đến 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi L đi về
đến đoạn đường Quộc lộ 10, trước cửa bưu điện xã Q thuộc thôn T thì bị lực lượng
Công an kiểm tra. L hoảng sợ vứt 04 gói nilon vo tròn gồm 02 gói màu vàng và 02
gói màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi ma túy đều đường
kính 01cm (niêm phong hiệu M) đang cầm trên tay xuống dưới nền đường. Tổ
công tác tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng.
Bản giám định số 648 ngày 15-12-2021 của phòng kỹ thuật Hình sự Công
an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng (ký hiệu M) gửi giám định
là ma tuý, có khối lượng: 1,12 gam, là loại Heroine”.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ của Bùi Văn L tại thôn T, Q phát
hiện thu giữ: Tại gầm gđể đồ vật sát tường bên phải sân sau nhà 01 bao
dứa màu trắng bên trong 01 đôi găng tay vải màu m; 01 kìm cắt dài 19,5cm;
01 kìm cắt dài 16cm; 02 mỏ lết kim loại; 01 lưỡi cưa loại kim loại màu trắng, dài
30 cm rộng 02 cm; 01 cưa cầm tay, kích thước (11,5×43,5)cm; 08 đoạn dây nilon
màu đỏ; 01 đoạn thanh nhựa hình chữ L dài 16 cm. Những vật chứng đã thu giữ
trên là công cụ đi trộm cắp tài sản của Phạm Văn T giấu tại sân sau nhà L nhưng T
không nói cho L biết.
Qua điều tra mở rộng vụ án, quan điều tra còn xác định trong khoảng
thời gian từ tháng 9-2021 đến 12-2021, Phạm Văn T cùng Bùi Đình T, Phạm Văn
Đ thường tụ tập căn nhà hoang gần chân Cầu B49 thuộc Q rồi rủ nhau trộm
cắp tài sản. Các đối tượng dùng cưa, kìm, mỏ lết, dao dọc giấy (do T chuẩn bị từ
trước) thực hiện 01 vụ Trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Kiến An và 12 vụ trộm
cắp trên địa bàn huyện An Lão, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Đêm ngày 16-11-2021, Phạm n T một mình đi xe đạp mang
theo kìm lưỡi i khoảng 2cm cưa tay ỡi dài khoảng 40cm đi từ huyện
An o đến quận Kiến An tìm các trạm biến áp (viết tắt TBA) để cắt trộm dây
cáp điện. T đi đến TBA Bơm Đồng Hòa 1 thuộc tổ dân phố Mỹ Khê Đông, phường
Đồng a, quận Kiến An, quan sát thấy không ai n đã dùng kìm cưa cắt
trộm 01 dây cáp M1×95mm
2
dài khoảng 3m dây điện trung tính của hệ thống tiếp
đất TBA. T buộc y cáp vừa cắt được vào xe đạp rồi đi đến TBA Đồng Hòa 5
thuộc tổ dân phố Mỹ Khê Tây, phường Đồng Hòa, tiếp tục trèo n cắt 01 cáp
M1×240mm
2
dài 03m, 01dây p M1×95 mm
2
dài 3,5m một thanh đồng
M60×60×60 mm
2
dài 0,6 m. Sau đó T mang tất cả số dây cáp trên đến khu vực ít
người qua lại (không nhvị trí cthể) để lọc phần vỏ, lấy phần lõi dây đồng rồi
mang về sở thu mua phế liệu của ông Nguyễn Xuân C bán với giá 185.000
đồng/1 kg, được 2.700.000 đồng. Số tiền trên, T đã ng để chi tiêu nhân hết.
Ngày 16,17-11-2021, Chi nhánh Điện lực Kiến An trình báo công an Phường Đồng
Hòa về việc TBA Đồng Hòa 5, TBA bơm Đồng Hòa 1 bị kẻ giam cắt trộm dây điện
trung tính của hệ thống tiếp đất TBA. Bản định giá i sản số 03 ngày 19-01-2022
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận Kiến An kết luận: 01 sợi
dây cáp M 240mm
2
trị giá 1.990.488 đồng; 01 sợi dây cáp M1×95mm
2
trị giá
860.160 đồng; 01 thanh đồng M60×60 ×6mm
2
trị giá 300.000 đồng; 01 sợi dây
4
cáp M1×95mm
2
trị giá 737.280 đồng. Tổng trị giá 3.887.928 đồng”.
Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 06-9-2021, T đi xe đạp một mình từ căn
nhà hoang đến TBA H xã Q. T trèo lên TBA dùng kìm cắt 06m dây cáp trung
tính nhãn hiệu CU/XLPE/PVC 1×120mm vứt xuống đất. T tiếp tục đi về khu
chung thôn C, Q, phát hiện TBA C không ai trông coi nên đã trèo lên
cắt 04m dây cáp trung tính nhãn hiệu CU/XLPE/PVC 1×185mm tại trạm này.
Những dây cáp cắt trộm được T sử dụng dao dọc giấy tách lấy lõi dây đồng, cho
vào bao mang đến nhà ông C bán được 1.100.000 đồng. Bản định giá tài sản số 15,
16 ngày 11-4-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận:
06 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 120mm, trị giá 1.677.000 đồng”; 04
mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1×185mm, trị giá 2.072.356 đồng”.
Vụ thứ ba: Khoảng 22 giờ ngày 07-9-2021, T đi xe đạp từ căn nhà hoang
mang theo kìm, cưa, dao, bao dứa đi về Tờng T để tìm TBA cắt trộm dây cáp
trung tính. Phát hiện thấy TBA UB Trường T, T trèo lên ng cưa mỏ lết cắt
05m dây cáp. T tiếp tục đi đến TBA Ngọc C cắt trộm 06 t dây cáp. Sau đó, T đi
sang Trường T, phát hiện TBA Trường T không ai trông coi nên đã trèo lên
cắt 06 t dây cáp. Tất cả dây cáp T cắt ba trạm trên đều dây p trung tính
nhãn hiệu CU/XLPE/PVC 1 ×120mm. Sau đó, T dùng dao dọc giấy tách lớp vỏ cao
su, lấy lõi dây đồng rồi mang về nhà ông C bán được 1.850.000 đồng. Bản định giá
tài sản số 17, 6, 23 ngày 11-4-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng
hình sự kết luận: “05 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1 ×120mm, trị g
1.397.500 đồng”; 06 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1 ×120mm, trị giá
1.677.000 đồng”; 06 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1×120mm, trị giá
1.677.000 đồng”.
Vth: Khoảng 24 gingày 09-9-2021, T đi xe đạp từ nhà hoang đến
TBA Chi Lai 1 thuộc thôn C, T. T trèo lên ng kìm mỏ lết cắt 06m dây p
trung tính nn hiệu CU/XLPE/PVC 1 ×120mm tại trạm này. T đi thẳng rồi rẽ trái ra
phía bờ sông pt hiện TBA của Công ty Khang T có địa chỉ tại thôn Chi L. T trèo
n cắt 20 t dây p trung tính CU/XLPE/PVC 1 ×240mm, sau đó dùng dao ch
lớp vỏ cao su lấy toàn bộ i dây đồng mang về nhà ông C bán được 2.800.000
đồng. Tại Bn định giá tài sản số 07, 08 ngày 11-4-2022 của Hội đồng định giá i
sản trong T tụng hình sự kết luận: 06 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1
×120mm, tr giá 1.677.000 đồng”; 20 t p trung nh CU/XLPE/PVC 1
×240mm, trị g11.340.000 đồng”.
Vụ thứ năm: Khoảng 19 giờ ngày 30-9-2021, Bùi Đình T đến chơi với T
tại căn nhà hoang. T rủ Th đi trộm cắp dây cáp điện được Th đồng ý. T mang
theo kìm, cưa, mỏ lết, dao bao dứa cùng Th đi bộ đến TBA tái định Cẩm
Văn thuộc thôn Cẩm Văn, Quốc Tuấn của Công ty Cổ phần tông xây
dựng A. Th cầm kìm, T cầm cưa ng nhau cắt được 07 mét dây cáp điện trung
tính loại CU/XLPE/PVC 1×240mm. Sau khi cắt xong, T đi đến nhà ông Đỗ Văn T
bán cho một người phụ nđược 800.000 đồng. Số tiền này, T Th chia đôi, mỗi
người được 400.000 đồng. Bản định giá tài sản số 09 ngày 11-4-2022 của Hội
đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 07 mét Cáp trung tính
CU/XLPE/PVC 1 ×240mm, trị giá 3.969.000 đồng”.
5
Vụ thứ sáu: Khoảng 19 giờ ngày 01-10-2021, T tiếp tục rủ Th đi đến TBA
tái định Cẩm Văn thuộc thôn Cẩm Văn, Quốc Tuấn (đã trộm cắp ngày 30-9-
2021) để cắt dây cáp điện. Th trèo lên cắt 07 mét dây cáp trung tính
CU/XLPE/PVC 1 ×240mm vứt xuống đất còn T ở dưới cảnh giới và dùng dao dọc
giấy bóc tách vỏ cao su để lấy lõi đồng. Sau khi bỏ dây đồng vào bao, T và Th về
nhà hoang nằm nghỉ. Sau đó, T gọi điện cho Bùi Văn L chở đến nhà ông T bán
cho một người phụ nữ được 1.000.000 đồng. T trả cho ông L 200.000 đồng tiền xe
ôm, số tiền còn lại T Th chia đôi, mỗi người được 400.000 đồng. Bản định giá
tài sản số 18 ngày 11-4-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự
kết luận: 07 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1 ×240mm, trị giá 3.969.000
đồng”.
Vụ thứ bảy: Khoảng 23 giờ ngày 05-10-2021, T chở Th bằng xe đạp đến
TBA Câu Hạ C thuộc thôn Câu Hạ A, xã Q. Phát hiện không người qua lại nên
Th đã trèo lên dùng kìm cắt 5,5m dây cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1×120mm,
còn T đứng cảnh giới bẻ dây dưới đất. Sau khi cắt dây xong, T cuộn lại cho
vào bao rồi mang về nhà hoang dùng dao dọc giấy tháo lớp vỏ cao su ra để lấy lõi
dây đồng. Sáng ngày hôm sau, T gọi Bùi Văn L chở T đến nhà ông T bán dây
đồng cho một người phụ nữ được 1.000.000 đồng. T trả Liền 200.000 đồng tiền xe
ôm, số tiền còn lại, T Th chia đôi. Bản định giá tài sản số 19 ngày 11-4-2022
của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 5,5 mét Cáp trung
tính CU/XLPE/PVC 1×120mm, trị giá 1.537.250 đồng”.
Vụ thứ tám: Đêm ngày 07-10-2021, T đi xe đạp đến Tân Dân thì phát
hiện TBA Tân Dân 1 không ai trông coi. T dùng kìm cắt 5,5 mét dây cáp trung
tính CU/XLPE/PVC 1 ×150mm cho vào bao đi ra cách trạm biến áp khoảng 50
mét dùng dao dọc giấy tháo lớp vỏ cao su. Sau đó T mang số dây đồng đã tách đến
nhà ông C bán được 800.000 đồng. Bản định gtài sản số 14 ngày 11/4/2022 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 5,5 mét Cáp trung tính
CU/XLPE/PVC 1 ×150mm, trị giá 1.908.500 đồng”.
Vụ thứ chín: Khoảng 18 giờ ngày 08-10-2021, T đi bộ đến TBA Tân Dân 4
thuộc Tân Dân. Quan sát thấy không người trông coi, T trèo lên cắt 5,5m
y cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1 ×150mm cho vào bao mang đi giấu rìa
đường. T đi bộ về gần đến nhà hoang thì gọi điện cho L chở đến Tân Dân lấy
bao dây cáp đã giấu. Sau đó, T bảo L ch đến nhà ông C bán dây đồng được
800.000 đồng. T trả L 400.000 đồng tiền xe ôm, số tiền còn lại, T ng để chi tiêu
nhân hết. Bản định giá tài sản số 12 ngày 11-4-2022 ca Hội đồng định giá tài
sản trong Tố tụng hình sự Kết luận: 5,5 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1
×150mm, trị giá 1.908.500 đồng”.
Vụ thứ mười: Khoảng 18 giờ ngày 09-10-2021, T gọi điện cho L i “Thầy
chở con đi làm”. L đến chở T và Th đi qua cầu B50 đến ngã tư Tân Viên, n
Viên thì T Th xuống, còn L đi về. T Th rẽ phải đi bộ thì phát hiện thấy
TBA tái định Tân Viên thuộc n Viên. Thtrèo lên dùng kìm cắt được 04m
dây cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1×185 mm, còn T cuộn dây cáp cất vào trong
bao. T và Th đi bộ ra ngã tư Tân Viên rồi gọi L đến chở ra đường cao tốc. Tại đây,
T và Th đi xuống xe đi xuống rìa đường rồi dùng dao dọc giấy tách vỏ cao su ra để
6
lấy dây đồng. Sau đó T Th quay trở lại chỗ L bảo L chở về. Đến đoạn gần nhà
hoang thì Th xuống xe. L tiếp tục chở T đến nhà ông T chuyên thu mua phế liệu,
bán cho một người phụ nđược 1.400.000 đồng. T trả 300.000 đồng tiền chở xe
ôm cho L còn lại 1.100.000 đồng thì T Th chia đôi. Bản định giá tài sản số 20
ngày 11-4-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 04
mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1×185 mm, trị giá 2.072.356 đồng”.
Vụ thứ mười một: Đêm ngày 10-10-2021, T đi xe đạp một mình mang theo
kìm, dao dọc giấy bao dứa đến TBA Bách Phương 2 thuộc An Thắng cắt
5,5m dây cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1 ×150mm. Sau đó, T dùng dao dọc giấy
tháo lớp vỏ cao su, tách lấy lõi đồng rồi mang đến nhà ông C bán được 680.000
đồng. Tại bản định gtài sản số 13 ngày 11-4-2022 của Hội đồng định giá tài sản
trong Tố tụng hình sự Kết luận: 5,5 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1
×150mm, trị giá 1.908.500 đồng.
Vụ thmười hai: Khoảng 22 giờ ngày 17-11-2021, Phạm Văn Đ đến chơi
với T tại căn nhà hoang. T rủ Đ đi trộm cắp dây cáp điện và được Đ đồng ý. T buộc
những công cụ để trộm cắp o xe đạp chở Đ đi xuống An Thái. Phát hiện
thấy TBA An Áo, T bảo Đ cảnh giới còn mình cầm kìm trèo lên cắt 5,5m dây cáp
trung tính CU/XLPE/PVC 1 ×120mm. T cuộn y vừa cắt được giấu vào áo rồi đi
ra chỗ Đ cho vào bao. Sau đó, cả hai đi đến TBA Tiến Lập, xã Mỹ Đức. T trèo lên
cắt 3,5m dây p trung tính ri tiếp tục chở Đ đến TBA C Minh Khai thuộc
Mỹ Đức. T trèo lên cắt 02m dây cáp trung tính, còn Đ dưới cảnh giới. Sau khi cắt
xong, T cuộn lại đưa cho Đ cất vào bao rồi cùng đi về nhà hoang ch lấy dây
đồng. Loại dây cáp mà T Đ đã trộm cắp tại 2 TBA tại xã Mỹ Đức nêu trên đều là
dây CU/XLPE/PVC 1 ×150mm. Đến khoảng 6 giờ sáng ngày hôm sau, T mang số
dây đồng đến nhà ông C bán được 13kg đồng với số tiền 2.600.000 đồng. Đ, T
dùng số tiền này để chi tiêu nhân. Bản định giá tài sản số 11,10 ngày 11-4-2022
của Hội đồng định gtài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 5,5 mét Cáp trung
tính CU/XLPE/PVC 1 ×120mm, trị giá 1.537.250 đồng; 5,5 mét Cáp trung tính
CU/XLPE/PVC 1 ×150mm, trị giá 1.908.500 đồng”.
Vụ thứ mười ba: Khoảng 23 giờ ngày 02-12-2021 tại căn nhà hoang, T tiếp
tục rủ Đ đi trộm cắp dây cáp. Đ điều khiển xe đạp chở T cầm theo kìm, dao, cưa,
mỏ lết, bao dứa đến TBA Độc Lập thuộc An Thọ. Phát hiện không người
qua lại, T trèo lên cắt 08 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1×120mm còn Đ
dưới cảnh giới và dùng dao dọc giấyc tách vỏ cao su ra để lấy lõi dây đồng. Sau
đó, cả hai đi về đến Mỹ Đức thì T phát hiện TBA Cầu Nguyệt. T cầm kìm
vào cắt 04 mét Cáp trung tính CU/XLPE/PVC 1×240mm, vứt xuống đất rồi cùng
Đ bóc vỏ cao su, lấy lõi đồng cho bao dứa. Trên đường về miếu hoang do xe
đạp bị hỏng nên Đ đi bộ về còn T buộc bao dây đồng vào xe đạp đi về. Ngày hôm
sau, T gọi điện cho L đến chân cầu B49 chở đến nhà ông C bán 8kg dây đồng
được 1.400.000 đồng. T trả cho L 100.000 đồng tiền xe ôm, số tiền còn lại Đ T
dùng để chi tiếu hết. Bản định giá tài sản số 22, 21/KL-ĐG ngày 11-4-2022 của
Hội đồng định giá tài sản trong Ttụng hình sự Kết luận: 08 mét Cáp trung tính
CU/XLPE/PVC 120mm, trị giá 2.236.000 đồng”; 04 mét Cáp trung tính
CU/XLPE/PVC 1×240mm, trị giá 2.268.000 đồng”.
7
Bản Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
truy tố các bị cáo Phạm Văn T về
tội “Tàng trữ trái phép chất ma y” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS tội
“Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS; truy tố bị cáo Bùi Văn L
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; truy
tố các các bị cáo Bùi Đình T, Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1
Điều 173 BLHS.
- Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận các tình tiết vụ án phù hợp với nội
dung vụ án được tóm tắt nêu trên, thừa nhận việc truy tố, xét xử các bị cáo là đúng
người, đúng tội danh. Các bị cáo xin xem xét được giảm nhẹ hình phạt .
Nguyễn Thị H, Trợ giúp viên pp lýo chữa cho bị cáo Th nhất trí quyết định truy
tố và đề nghị của Viện Kiểm sát về tội danh, tình tiết định khung hình phạt, tình tiết
ng nặng, giảm nhtrách nhiệm hình sự đối với Bùi Đình T, xin giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo Th.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV Đ cảm ơn sự tích
cực đấu tranh phòng chống tội phạm của các quan tiến hành tố tụng huyện An
Lão, nhanh chóng đưa vụ án kịp thời xét xử, bảo đảm trừng trị nghiêm minh đối
với các bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản, gây thiệt hại tài sản, công sức trong thời
gian dài đối với doanh nghiệp, làm ảnh hưởng hoạt động sinh hoạt, kinh doanh của
người dân, tổ chức trên địa bàn An Lão, Kiến An.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy t
đề nghị Hội đồng xét x xem xét:
n cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều
38, Điều 58 BLHS, xử phạt: Phạm Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng về tội ng
trtrái phép chất ma túy”. n co điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1
Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, c điều 17, 58, 38 BLHS, xử phạt: Phạm Văn T từ
04 năm đến 05m về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo T phải chịu hình phạt
chung căn cứ vào Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt phạm nhiều tội của vụ án này.
n cứ vào Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt với 21 tháng tù về tội "Trộm cắp i
sản" theo Bản án hình sự số 56/2022/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2022 của a án
nhânn huyện An ơng, thành phố Hải Phòng.
Căn cvào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17,
58, 38 BLHS, xử phạt: Bùi Văn L từ 21 tháng đến 24 tháng về tội "Tàng trữ trái
phép chất ma túy".
Căn cứ o khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1
Điều 52, các điều 17, 58, 38 BLHS, xử phạt: Bùi Đình T từ 24 tháng đến 30 tháng
về tội "Trộm cắp tài sản. Căn cứ o Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt với 21
(Hai mươi mốt) tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 15/2022/HSST
ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 38, 56 BLHS, xử phạt: Phạm Văn Đ từ 18 tháng
đến 21 tháng về tội Trộm cắp tài sản”. n cứ vào Điều 56 BLHS, tổng hợp
hình phạt với 13 (Mười ba) tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo
8
Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 27/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hải
Dương.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 589 của Bộ luật Dân sự, chấp
nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bị hại người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan như sau: Phạm Văn T phải bồi thường cho Công ty TNHH K 29.800.000
đồng. Phạm Văn T phải bồi thường 1.500.000 đồng cho chị Nguyễn Thị L. Phạm
Văn T, Bùi Đình T phải liên đới bồi thường cho Công ty Cổ phần tông xây
dựng A tổng stiền 5.000.000 đồng. Phạm Văn T, Bùi Đình T, Phạm Văn Đ phải
bồi thường cho Công ty TNHH MTV Đ tổng số tiền là: 34.910.712 đồng (trong
đó: Chi nhánh Điện lực Kiến An yêu cầu 4.490.000 đồng; Chi nhánh Điện lực An
Lão yêu cầu 30.420.712 đồng).
Về xử vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình s; tịch thu tiêu hủy đối với 0,93 gam chất bột và vỏ bao của mẫu vật
gửi giám định được niêm phong lại trong giấy, dấu niêm phong số
648MT/PC09. Trả lại 01 (Một) xe nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, đeo
BKS 16M9-0151 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8+
số IMEI 1: 359116089014139, số IMEI 2: 359117089014137 cho Bùi Văn L,
nhưng tạm giữ bảo đảm thi hành án. Trả lại 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO A7 màu xanh số EMEI 1: 8642670044170876, EMEI 2:
86426704410868 đã qua sử dụng cho Phạm Văn T, nhưng tạm giữ bảo đảm thi
hành án. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (Một) xe đạp của Phạm Văn T. Tịch thu
tiêu hủy 01 bao dứa, 01 đôi găng tay vải màu xám; 01 kìm cắt dài 19,5 cm, tay
cầm bọc nhựa màu xanh- xám; 01 kìm cắt dài 16 cm, tay cầm bọc nhựa màu xanh
- xám; 01 mỏ lết kim loại màu trắng số (150×19); 01 mlết kim loại, tay cầm
bọc nhựa màu đỏ đen số (250×30); 01 lưỡi cưa loại kim loại màu trắng đã qua sử
dụng, dài 30 cm rộng 2 cm; 01 cưa cầm tay, kim loại màu trắng (không lưỡi
cưa) đã qua sử dụng, kích thước (11,5×43,5)cm, in chữ HTAT; 08 đoạn dây nilon
màu đỏ dài trung bình 70cm; 01 đoạn thanh nhựa hình chữ L dài 16 cm, quấn một
đoạn nilon đỏ dài 70.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm
sát, Kiểm sát viên thu thập; các bị cáo, bị hại, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án, người làm chứng cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra,
Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, các bị
cáo, bị hại, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng
đều không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên,
9
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của các bị cáo tại
phiên toà phợp với lời khai tại quan điều tra, phù hợp lời khai bị hại, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp kết luận
giám định chất ma túy, kết luận định giá tài sản, sơ đồ hiện trường, biên bản khám
nghiệm hiện trường, cùng các vật chứng, tài liệu khác trong hồ vụ án được
xem xét công khai tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Hồi 20 gi50 phút ngày 13-12-2021, tại khu tớc cửa bưu điện xã Q
thuộc thôn T, Q, huyện A, Bùi Văn L nh vi cất gitrái phép 1,12 gam
Heroine. Bị cáo T đxuất, đưa tiền cho bị cáo L mua ma túy, rồi cất giấu ti phép
ma túy với mục đích sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay
sản xuất trái phép chất ma túy. Bởi vậy, đủ sở kết luận: Phạm Văn T, i Văn L
đồng phạm về tội ng trtrái phép chất ma túytheo điểm c khoản 1 Điều 249
BLHS, đúng người, đúng tội.
[2.2] Phạm Văn T thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại
một mình 7 vụ/ 13 vụ; trong đó: 01 vụ chiếm đoạt tài sản trên địa bàn quận Kiến
An, 12 vụ chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện An Lão (trong đó 07 lần thực
hiện một mình, 04 lần thực hiện với Bùi Đình T, 02 lần thực hiện cùng Phạm Văn
Đ, với tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là: 50.628.640 đồng. Bùi Đình T thực hiện
04 lần chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị là: 11.547.606 đồng; Phạm Văn Đ thực
hiện 02 lần chiếm đoạt tài sản với tổng gtrị là: 7.949.750 đồng. Tuy nhiên, T
không lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống, không lấy kết quả của việc phạm
tội làm nguồn sống chính. Bởi vậy, đủ sở kết luận: Phạm Văn T phạm tội
“Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS; Bùi Đình T, Phạm Văn
Đ phạm tội Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS; đúng
người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo T, L không những xâm hại đến chính sách
độc quyền quản của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn nguyên nhân phát
sinh các tệ nạn hội các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an
hội, gây tâm bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo T,
Th, Đ trực tiếp xâm phạm tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, gây
mất trật tự trị an của địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe, trừng
trị đối với các bị cáo, qua đó nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa
tội phạm tại địa phương.
[4] Về tình tiết ng nặng: Các bị cáo T, Th, Đ đều phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1
Điều 52 BLHS. Bị cáo Th đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện
hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm”, quy định tại
điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
[5] Về nhân thân tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân các
bị cáo L chưa tiền án, tiền sự. Các bị cáo T, Th, Đ phạm tội khác ngoài lần
phạm tội lần này, nhưng đều về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo Th phạm tội lần này
10
thuộc trường hợp tái phạm. Các bị cáo L, T, Th, Đ đều thành khẩn khai báo nên
được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Thành khẩn khai báo quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đ từng tham gia nghĩa vụ quân snên
được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về vai trò đồng phạm và quyết định hình phạt:
[6] Căn cứ các điều 17, 58 BLHS quyết định hình phạt trong trường hợp
đồng phạm đối với bị cáo T, Liền về tội Tàng trữ trái phép chất ma y; T, Th, Đ
về tội Trộm cắp tài sản”. Bị cáo T người chủ u, đề xuất, thực hành tích cực
xuyên suốt tất cả các lần trong vụ án; bị cáo Th Đ người giúp sức trong các
lần phạm tội Trộm cắp tài sản, nên bị cáo T vai trò cao nhất, cao hơn T, Đ. Bị
cáo T người chủ mưu, đề xuất, đưa tiền để mua ma túy, còn bị cáo L người
thực hành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trên sở xem xét, nhận định
đầy đủ ý kiến, thiệt hại của các bị hại; đánh gtoàn diện tính chất, mức độ của
hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân,
vai trò đồng phạm; cần xử phạt các bcáo hình phạt trong mức đề nghị của đại
diện Viện Kiểm sát, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, trừng trị người
phạm tội, đáp ứng biện pháp giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, các quy
tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm; đặc biệt đối với
tình hình tội phạm Trộm cắp tài sản các thiết bị liên quan truyền tải điện ảnh
hưởng hoạt động sinh hoạt, kinh doanh của người dân, tổ chc trên địa bàn An
Lão, Kiến An trong thời gian qua. Căn cứ Điều 55, 56 BLHS quyết định hình phạt
trong trường hợp phạm nhiều tội đối với bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”, tội “Trộm cắp tài sản”tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.
Căn cứ Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo Th, Đ.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trên cơ sở các tài liệu, hóa đơn, chứng từ chi phí
được xác định chứng cứ; phù hợp quy định các điều 589 của Bộ luật Dân sự,
cần chấp nhận những yêu cầu bồi thường thiệt hại tại phiên tòa, tại quá trình điều
tra của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án như sau:
[7.1] Phạm Văn T phải bồi thường cho Công ty TNHH K 29.800.000 đồng.
[7.2] Phạm Văn T phải bồi tng 1.500.000 đng cho chị Nguyn ThL.
[7.3] Phạm Văn T, Bùi Đình T phải liên đới bồi thường cho Công ty Cổ
phần tông xây dựng A tổng số tiền 5.000.000 đồng; chia kỷ phần: Phạm
Văn T, Bùi Đình T mỗi người phải bồi thường số tiền 2.500.000 đồng.
[7.4] Phạm Văn T, Bùi Đình T, Phạm Văn Đ phải bồi thường cho ng ty
TNHH MTV Đ tổng số tiền là: 34.910.712 đồng (trong đó: Chi nhánh Điện lực
Kiến An yêu cầu 4.490.000 đồng; Chi nhánh Điện lực An Lão yêu cầu 30.420.712
đồng). Cụ thể:
[7.4.1] Phạm Văn T phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV Đ
28.070.034 đồng.
[7.4.2] Phạm Văn T, Bùi Đình T phải liên đới bồi thường cho Công ty
TNHH MTV Đ tổng số tiền là 3.815.606 đồng, chia kỷ phần mỗi bị cáo T, Th phải
11
bồi thường 1.907.803 đồng. Do vậy, Bùi Đình T phải bồi thường cho Công ty
TNHH MTV Đ 1.907.803 đồng theo yêu cầu của Chi nhánh Điện lực An Lão.
[7.4.3] Phạm Văn T, Phạm Văn Đ phải liên đới bồi thường cho Công ty
TNHH MTV Đ 9.865.750 đồng, chia kỷ phần mỗi bị cáo T, Đ phải bồi thường
4.932.875 đồng. Do vậy, Phạm Văn Đ phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV
Đ 4.932.875 đồng theo yêu cầu của Chi nhánh Điện lực An Lão.
[7.5] Bị cáo T phải bồi thường tổng số tiền dân sự là: 61.870.034 đồng. Bị
cáo Th phải bồi thường tổng số tiền dân sự là: 4.407.803 đồng. Bị cáo Đ phải bồi
thường tổng s tiền dân sự là 4.932.875 đồng.
[8] Xử vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự, xử lý vật chứng như sau:
[8] Tịch thu tiêu hủy đối vi vật liên quan phạm tội là 0,93 gam chất bột và v
bao bì của mẫu vật gửi gm đnh đưc niêm phong lại trong bì giấy, dấu niêm phong
s648MT/PC09.
[8.1] Trả lại 01 xe nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, đeo BKS 16M9-
0151 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8+ có số IMEI 1:
359116089014139, số IMEI 2: 359117089014137 cho Bùi Văn L.
[8.2] Tịch sung sung vào ngân sách nhà nước tài sản liên quan phạm tội là 01
xe đạp của Phạm Văn T. Trả lại tài sản không liên quan phạm tội 01 điện thoại
di động nhãn hiệu OPPO A7 màu xanh số EMEI 1: 8642670044170876, EMEI
2: 86426704410868 đã qua sử dụng cho Phạm Văn T, nhưng tạm giữ bảo đảm thi
hành án.
[8.3] Tịch thu tiêu hủy vật liên quan phạm tội gồm: 01 bao dứa, 01 đôi găng
tay vải màu xám; 01 kìm cắti 19,5 cm, tay cầm bọc nhựa màu xanh- xám; 01 kìm
cắt dài 16 cm, tay cầm bọc nhựa màu xanh - xám; 01 mỏ lết kim loại màu trắng
số (150×19); 01 mỏ lết kim loại, tay cầm bọc nhựa màu đỏ đen số (250×30); 01 lưỡi
a loại kim loại màu trắng đã qua sử dụng, i 30 cm rộng 2 cm; 01 cưa cầm tay,
kim loại màu trắng (không có lưỡi cưa) đã qua sử dụng, kích thước (11,5×43,5)cm,
in chữ HTAT; 08 đoạn dây nilon màu đỏ dài trung bình 70cm; 01 đoạn thanh nhựa
hình chữ L dài 16 cm, quấn một đoạn nilon đỏ dài 70.
[9.1] Đối với người phụ nđã bán ma túy cho Liền khu vực đường tàu
Trần Nguyên Hãn, quận Chân hiện chưa xác định được ai, đâu, nên
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão tiếp tục điều tra xác minh, khi nào
làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.
[9.2] Đối với hành vi 01 lần chở T Th đi trm cắp dây cáp và 04 lần chở T
đi bán dây đồng tại nhà ông T, ông C của Bùi n L. Qua điều tra c định, L làm
nghxe ôm, chở theo sự chỉ dẫn của T. L không biết việc T Th đi trộm cắp tài
sản và cũng không biết việc T thuê L chở xe ôm để đi bán tài sản do T, Th trộm cắp
được. T Th cũng khai không nói cho L biết việc họ đi đâu, làm gì. Do đó,
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão không xử đối với Bùi Văn L về
hành vi Trộm cắp tài sản Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
căn cứ.
12
[9.3] Đối với ông Nguyễn Xuân C, ông Đn T vợ là Phạm Thị H đã
mua lõi y đồng theo lời khai của T. Khi đến n lõi y đồng, T không i cho h
biết những i sản này do phạm tội có. Ông C, vợ chồng ông T không thừa
nhận việc mua i dây đồng của T n quan điều tra không xử lý đối với ông C,
ông T H là có n c.
[10] Kiến nghị Công ty TNHH MTV Đ tiếp tục chú trọng, tăng cường phối
hợp với các chính quyền địa phương, quan công an tuyên truyền, phbiến các
quy định pháp luật liên quan việc xử trộm cắp thiết bị điện, truyền tải điện,
nhằm nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp cùng chung tay kiểm tra,
ngăn ngừa, phòng chống, xử hiệu quả các đối tượng phạm pháp theo quy định
pháp luật.
[11] Về án phí: n ckhoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm
a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội, các bị o phải chịu án phí hình sự thẩm 200.000
đồng. Phạm Văn T phải chịu 3.093.502 đồng (tính làm tròn 3.094.000 đồng) án
phí dân sự thẩm. Bùi Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm.
Phạm Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cvào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17,
58, 38 của Bộ luật nh sự: Phạm Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng vtội Tàng
trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1
Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các điều 17, 58, 38 của Bộ luật Hình sự, x
phạt: Phạm Văn T 05 (năm) năm tù vtội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào Điều 55
của Bluật Hình sự tổng hợp hình phạt phạm nhiều tội của vụ án này là: 07 (bảy)
năm 03 (ba) tháng . Căn cứ vào Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt
với 21 (hai mươi mốt) tháng về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án hình sự số
56/2022/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện An Dương,
thành phố Hải Phòng; buộc bị cáo Phạm Văn T phải chấp hành hình phạt chung
của hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày
14 tháng 12 năm 2021.
Căn cvào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17,
58, 38 của B luật nh sự, xphạt: Bùi Văn L 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội
"Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tính tngày 14
tháng 12 năm 2021.
Căn cứ o khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1
Điều 52, các điều 17, 58, 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Đình T 27 (hai
mươi bảy) tháng về tội "Trộm cắp tài sản. Căn cứ vào Điều 56 của Bộ luật Hình
sự, tổng hợp hình phạt với 21 (Hai mươi mốt) tháng về tội " Trộm cắp tài sản"
theo Bản án số 15/2022/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân
huyện T, tỉnh Hải Dương, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản
13
án 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 12
năm 2021.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 38, 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn
Đ 21 (hai mươi mốt) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cvào Điều 56 của
Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt với 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” theo Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 27/4/2022 của Tòa án
nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương, buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải chấp hành hình
phạt chung của hai bản án 34 (Ba mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày 10-3-2022.
Về dân sự: Căn cứ vào Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo phải
bồi thường như sau:
- Phạm Văn T phải bồi thường cho Công ty TNHH K 29.800.000 (Hai mươi
chín triệu, tám trăm nghìn) đồng.
- Phạm Văn T phải bồi thường 1.500.000 (Một triệu, năm trăm nghìn) đồng
cho chị Nguyễn Thị L.
- Phạm Văn T, i Đình T phải liên đới bồi thường cho Công ty Cổ phần
tông xây dựng A tổng số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng; chia kphần:
Phạm Văn T, Bùi Đình T mi người phải bồi thường cho Công ty Cổ phần
tông và xây dựng A số tiền 2.500.000 (Hai triệu, năm trăm nghìn) đồng.
- Phạm Văn T, Bùi Đình T, Phạm Văn Đ phải bồi thường cho Công ty
TNHH MTV Đ tổng số tiền là: 34.910.712 (Ba mươi bốn triệu, chín trăm mười
nghìn) đồng (trong đó: Chi nhánh Điện lực Kiến An yêu cầu 4.490.000 (Bốn triệu,
bốn trăm chín mươi nghìn) đồng; Chi nhánh Điện lực An Lão yêu cầu 30.420.712
(Ba mươi triệu, bốn trăm hai mươi nghìn, bẩy trăm mười hai) đồng). Cụ thể:
Phạm Văn T phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV Đ là 28.070.034
(Hai mươi tám triệu, không trăm bẩy mươi nghìn, không trăm ba mươi bốn) đồng.
Phạm Văn T, Bùi Đình T phải liên đới bồi thường cho Công ty TNHH
MTV Đ tổng số tiền 3.815.606 (Ba triệu, tám trăm mười lăm nghìn, sáu trăm
linh sáu) đồng, chia kphần mỗi bị cáo T, Th phải bồi thường 1.907.803 (Một
triệu, chín trăm liên bẩy nghìn, tám trăm linh ba) đồng. Do vậy, Bùi Đình T phải
bồi thường cho Công ty TNHH MTV Đ 1.907.803 (Một triệu, chín trăm liên bẩy
nghìn, tám trăm linh ba) đồng theo yêu cầu của Chi nhánh Điện lực An Lão.
Phạm Văn T, Phạm Văn Đ phải liên đới bồi thường cho Công ty TNHH
MTV Đ 9.865.750 (Chín triệu, tám trăm sáu mươi lăm nghìn, bẩy trăm năm mươi)
đồng, chia kỷ phần mỗi bị cáo T, Đạt phải bồi thường 4.932.875 (Bốn triệu, chín
trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bẩy mươi năm) đồng. Do vậy, Phạm Văn Đ phải
bồi thường cho Công ty TNHH MTV Đ 4.932.875 (Bốn triệu, chín trăm ba mươi
hai nghìn, tám trăm bẩy mươi năm) đồng theo yêu cầu của Chi nhánh Điện lực An
o.
Do vậy, Phạm Văn T phải bồi thường tổng số tiền dân sự là: 61.870.034
(Sáu mươi mốt triệu, tám trăm bẩy mươi nghìn, không trăm ba mươi bốn) đồng.
14
Bùi Đình T phải bồi thường tổng số tiền dân slà: 4.407.803 (Bốn triệu, bốn trăm
linh bẩy nghìn, tám trăm linh ba ) đồng. Phạm Văn Đ phải bồi thường tổng số tiền
dân sự 4.932.875 (Bốn triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bẩy mươi
năm) đồng.
Ktừ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử
vật chứng như sau:
Tịch thu tiêu hủy đối với 0,93 gam chất bột vỏ bao của mẫu vật gửi
giám định được niêm phong lại trong bì giấy, dấu niêm phong s 648MT/PC09.
Trả lại 01 (Một) xe nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, đeo BKS 16M9-
0151 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8+ số IMEI
1: 359116089014139, số IMEI 2: 359117089014137 cho Bùi Văn L, nhưng tạm
giữ bảo đảm thi hành án.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) xe đạp của Phạm Văn T.
Trả lại 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 màu xanh có sEMEI 1:
8642670044170876, EMEI 2: 86426704410868 đã qua sử dụng cho Phạm Văn T,
nhưng tạm giữ bảo đảm thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 bao dứa, 01 đôi găng tay vải màu xám; 01 kìm cắt dài
19,5 cm, tay cầm bọc nhựa màu xanh- xám; 01 kìm cắt dài 16 cm, tay cầm bọc
nhựa màu xanh - xám; 01 mỏ lết kim loại màu trắng số (150×19); 01 mỏ lết
kim loại, tay cầm bọc nhựa màu đỏ đen s(250×30); 01 lưỡi cưa loại kim loại
màu trắng đã qua sử dụng, dài 30 cm rộng 2 cm; 01 cưa cầm tay, kim loại màu
trắng (không lưỡi cưa) đã qua sử dụng, kích thước (11,5×43,5)cm, in chữ
HTAT; 08 đoạn dây nilon màu đỏ dài trung bình 70cm; 01 đoạn thanh nhựa hình
chữ L dài 16 cm, quấn một đoạn nilon đỏ dài 70.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 9 m 2022 giữa Công an
huyện An Lão với Chi cục Thi hành án n sự huyện Ano, tnh phHải Phòng).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội, các bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự thẩm. Phạm Văn T phải chịu 3.094.000 (Ba triệu, không trăm chín
mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự thẩm. Bùi Đình T phải chịu 300.000 (Ba
trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Phạm Văn Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại mặt quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thẩm. Bị hại, người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án vắng mặt quyền kháng cáo bản ản trong hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
15
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Phòng PV06, PC 10 CAthành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện An Lão;
- Công an huyện An Lão;
- Chi cục THADS huyện An Lão;
- Các bị cáo;
- Bị hại;
- UBND xã nơi cư trú của các bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Ngọc Sinh
Tải về
Bản án 51/2022/HS-ST Hải Phòng Bản án 51/2022/HS-ST Hải Phòng

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 51/2022/HS-ST Hải Phòng Bản án 51/2022/HS-ST Hải Phòng

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất