Bản án số 50/2025/HNGĐ-PT ngày 19/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 50/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 50/2025/HNGĐ-PT ngày 19/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 50/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/12/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 50/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 19 12 2025
“V/v: Không công nhận vợ chồng,
Chia tài sản chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hồng.
Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thu Hường và bà Lê Thị Thái Lan
- Thư phiên tòa: Ông Đỗ Thành Trung - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Trần
Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét x
phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 46/2025/TLPT-HNGĐ ngày
06/10/2025 về “Yêu cầu không công nhận vợ chồng và chia tài sản chung”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 8
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2025/QĐPT-HNGĐ,
ngày 11/7/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 36/2025/QĐ-PT ngày 08/12/2025
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đỗ Thị M, sinh năm 1964; Hộ khẩu thường trú: Thôn H,
xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk)
Địa chỉ liên lạc: Thôn V, X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là Thôn V, xã X,
tỉnh Thanh Hóa) - Có mặt
2. Bị đơn: Ông Đình T, sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn H, E, huyện C,
tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đình V, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn H, E, huyện C, tỉnh Đắk
Lắk (nay là Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt
- Chị Thị Thanh T1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn C, E, huyện C, tỉnh
Đắk Lắk (nay là Thôn C, xã E, tỉnh Đắk Lắk) - vắng mặt
- Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở chính: 2 N, phường V, Quận C, thành phố
2
Hồ Chí Minh
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Cao Thị Mỹ H Trưởng phòng giao dịch Ngân
hàng TMCP S Chi nhánh Đ1 Phòng giao dịch C Có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người làm chứng:
- Ông Phan Mậu T2, sinh năm 1958 và bà Lê Thị X, sinh năm 1964; Cùng địa
chỉ: Thôn H, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn H, E, tỉnh Đắk Lắk) -
Vắng mặt
- Bà H W Êban, sinh năm 1951; Địa chỉ: Buôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
(nay là Buôn C, xã E, tỉnh Đắk Lắk) - Vắng mặt
- Ông Y W1 N, sinh năm 1957; Địa chỉ: Buôn C, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
(nay là Buôn C, xã E, tỉnh Đắk Lắk) - Vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk
Lắk (nay là Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt
- Ông Nguyễn Xuân P; Địa chỉ: Thôn A, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay
Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt
- Phan Thị M1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn N, D, huyện C, tỉnh Đắk
Lắk (nay là Thôn N, xã D, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đỗ Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà
nguyên đơn bà Đỗ Thị M trình bày:
Đỗ Thị M và ông Lê Đình T tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng
từ năm 1997 đến năm 2019 tại thôn H, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nhưng không
đăng ký kết hôn. Qúa trình chung sống, bà M nhiều lần đnghị ông T đi đăng kết
hôn nhưng ông T không đi nên từ đó cho đến nay ông, vẫn chưa đi đăng kết
n theo quy định của pháp luật. Ông, chung sng được mt thời gian thì bắt đầu
phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, nguyên nhân chủ yếu do anh V thường
xuyên chửi bới, xúc phạm M khiến thời gian chung sống không hòa thuận, tình
cảm giữa hai bên không còn. Do ông bà chung sống không đăng ký kết hôn nên
Đỗ Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông T và bà M là vợ chồng.
Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống ông bà tạo lập được tài sản chung như
sau: Thửa đất số 2279, tbản đồ số 10, diện tích 1408m
2
, tại thôn H, xã E, huyện C,
tỉnh Đắk Lắk, được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ số AH 917318 cấp cho hộ bà
Thị X, ông Phan Mậu T2, ngày 28/5/2014 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
ông Lê Đình T. Ngày 06/8/2019, ông Lê Đình T tặng cho con trai là anh Lê Đình V,
hiện nay ông Lê Đình T và con trai là anh Lê Đình V đang quản lý và sử dụng.
3
Tài sản trên đất gồm: 01 nhà gỗ; 01 nhà xây; 01 mái che khung thép; sân xi
măng; 01 hàng rào lưới B40, móng xây gạch; hàng rào lưới B40, trụ tông đúc sẵn,
có 14 trụ bê tông; 01 giếng khoan; tường rào móng đá hộc; tường rào sắt thoáng; 02
trụ cổng; 02 cánh cổng có mái che; 02 chuồng chó; 150 cây cau; 01 cây xoài; 02 cây
vú sữa; 02 cây chanh.
Nguồn gốc đất: Năm 2014 ông T nhận chuyển nhượng từ ông Phan Mậu T2
Thị X, giá trị chuyển nhượng bao nhiêu và tiền mua từ đâu thì M
không biết vì việc giao dịch chuyển nhượng này là giữa ông T và vợ chồng ông T2,
X. M chỉ được biết việc mua bán đất khi ông T hoàn tất thủ tục mua bán và
đưa bà M đến để cúng đất. Đối với lời khai của ông Phan Mậu T2, bà Lê Thị X cho
rằng không bán đất cho M đúng, ngày 27/5/2024 M đã liên hệ với gia
đình ông T2 và bà X để xin ký xác nhận lại việc mua bán diệnch đất 1365.5m
2
được biết diện tích đất nhận chuyển nhượng có giá 150.000.000 đồng; bà M đã nhờ
ông T2 xác nhận lại vào giấy mua bán theo tài liệu chứng cứ bà M đã cung cấp
cho Tòa án. Do bà M tự ý xin xác nhận của ông T2, ông T không biết nên trên
giấy xác nhận bà M tự viết tên ông Lê Đình T ở phần ký tên người mua đất.
Về tài sản trên đất: Đối với căn nhà gỗ nối liền 01 nhà xây công trình phụ trên
thửa đất 2279 nguồn gốc do ông T, M cùng mua của gia đình H Wưnh Êban
từ năm 2013. Ông T là người trực tiếp mua bán, trả tiền cho gia đình bà H Wưnh Ê.
Đến ngày 30/5/2024 bà M đã liên hệ với gia đình bà H Wưnh Êban để làm giấy xác
nhận ông mua nhà gỗ của H Wưnh Ê để cung cấp cho Tòa án. Các cây trồng
trên đất là anh Lê Đình V trồng và chăm sóc nên bà không yêu cầu chia cây trồng.
+ Diện tích đất khoảng 3.000m
2
, thuộc thửa đất số 2284, tờ bản đsố 10, xã E,
huyện C từ trước đến nay chưa được cấp GCNQSDĐ. Thửa đất này liền kề với thửa
2279 nêu trên, do ông T và bà M mua cùng với thửa 2279 và tự khai hoang mở rộng
thêm sau khi về ở. Hiện nay anh Đình V đang canh tác, sử dụng. Tài sản trên đất
gồm: 01 ao diện tích 1356,7m
2
; 01 cây sầu riêng; 300 cây cau; 13 cây dừa.
Về tài sản trên đất: Đối với 01 ao tại thửa 2284 trước đây là ao nhỏ của ông T2,
X chuyển nhượng cho ông T. Bà M ông T đã mở rộng ao ra để canh tác, còn
các cây trồng xung quanh ao gồm: cây sầu riêng; cây cau và cây dừa trên đất là do
anh Đình V trồng chăm sóc từ năm 2017, bà M không có đóng góp tiền bạc,
công sức để tôn tạo nên bà không yêu cầu chia cây trồng.
Đối với 02 thửa đất và căn nhà gỗ nêu trên, bà M đã đưa cho ông T khoảng 4-
5 chỉ vàng loại vàng 9999 khoảng 30 triệu đồng tiền mặt cho ông T để góp tiền
mua đất, tuy nhiên bà M không có tài liệu chứng cứ chứng minh công sức đóng góp
chỉ tên trong sổ hộ khẩu với danh nghĩa “Vợ” của ông T. Ngoài ra, thời
điểm mua 02 thửa đất này M phải chấp hành hình phạt hình phạt 02 năm 06
tháng từ ngày 12/6/2013 đến ngày 12/12/2015. Tuy nhiên M vẫn xác định trước
khi đi chấp hành án thì bà M đã được ông T đưa đến thửa 2279 và 2284 để cúng đất.
Việc đi cúng đất thì chcó ông bà M, T một số người lái xe múc đất (không rõ họ
tên địa chỉ) nên không ai làm chứng. Trong quá trình chung sống thì ngoài thời
gian chấp hành án các bản án của Tòa án tổng thời gian khoảng 4 đến 5 năm thì
M còn về quê ở Thanh Hóa vì ông T thường đánh đập bà M nhiều lần. Một năm bà
4
M về quê khoảng 1 đến 2 lần, mi lần từ 4 đến 5 tháng thì vào ở với ông T. Sau khi
M chấp hành xong Bản số 04/HS-ST ngày 24/8/2021 được ra M về Thanh
Hóa sinh sống, ít khi về nhà ông T, do ông T và anh V hay chửi bới và đánh đập bà
M.
Về nợ chung: Không có.
Đỗ Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Yêu cầu không công nhận vợ chồng giữa bà M và ông Lê Đình T.
- Yêu cầu chia những tài sản chung của ông trong thời kỳ chung sống với
nhau gồm:
+ Thửa đất s2279, tờ bản đồ số 10, diện tích 1408m
2
đã được cấp GCNQSDĐ
tên ông Đình T, tài sản trên đất 01 căn nhà gỗ ba gian và toàn bộ công trình
phụ xây dựng trên đất.
+ Diện tích đất ao khoảng 3.000m
2
, thuộc thửa đất số 2284, tờ bản đồ số 10,
E, vị trí như sau: Phía Bắc giáp thửa đất số 2279; Phía Đông giáp đường đất; Phía
Tây giáp đất nhà ông Đ; Phía Nam giáp suối.
* Theo bản tkhai các lời khai quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà
bị đơn ông Lê Đình T trình bày:
Ông T và M thời gian tự nguyện sống chung như vợ chồng với nhau từ
năm 1997 đến khoảng năm 2008 tại Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk, tuy nhiên không
đăng kết hôn cũng không tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống. Giữa
ông, không thường xuyên chung sống chỉ chung một vài tháng hoặc một vài
ngày, sau đó M thường xuyên về quê sinh sống, từ năm 2008 thì M thường
xuyên đi lang thang hoặc bị đi tù, (do đã lâu nên ông T không nhớ chính xác thời
gian). Nay M yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng giữa ông T
và bà M thì ông T đồng ý. Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình chung sống ông T và bà M không có tài
sản chung và nợ chung.
Đối với yêu cầu của bà M yêu cầu phân chia tài sản là thửa đất số 2279 và thửa
đất số 2284 cùng tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại thôn H, E, huyện C, tỉnh
Đắk Lắk tài sản trên đất 01 căn nhà gỗ ba gian, công trình phụ và cây trồng
trên đất thì ông T không đồng ý đây tài sản riêng của ông T, thời điểm ông T
mua đất và làm nhà thì M bị điều tra và đi chấp hành án về tội trộm cắp tài sản từ
năm 2011 đến năm 2015 nên không thể việc M công sức đóng góp cùng
ông T để mua nhà đất.
- Về nguồn gốc của thửa đất số 2279 và thửa 2284 (đất ao), cùng tờ bản đồ số
10 có nguồn gốc do ông T nhận chuyển nhượng từ ông Phan Mậu T2Thị
X từ năm 2014. Khi nhận chuyển nhượng thì trên hai thửa đất đều là đất trống, chỉ
có 01 cái ao ở thửa 2284. Về nguồn tiền nhận chuyển nhượng: m 2013 ông T bán
căn nhà cũ tại mặt đường Q, thuộc thôn H, xã E, huyện C để mua lại toàn bộ đất và
tài sản trên đất tại thửa 2279 thửa đất s2284 với giá 150.000.000 đồng. Thửa
đất 2279 trước khi chuyển nhượng thì đã được cấp GCNQSDĐ số AH 917318 ngày
5
09/11/2007 mang tên hộ ông Phan Mậu T2 và bà Thị X. Đến ngày 28/5/2014 thì
đăng biến động chuyển nhượng cho ông Đình T. Đối với thửa đất số 2284 trên
đất 01 ao một số cây trồng; thửa đất này chưa được cấp GCNQSDĐ nên sau
khi nhận chuyển nhượng thì hai bên không làm các thủ tục chuyển nhượng tại
quan thẩm quyền. Qúa trình sử dụng do gia đình bận công việc nên cũng chưa
thực hiện kê khai để cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất này. Sau khi nhận đất và bàn
giao tiền cho ông T2, bà X thì ông T cùng con trai là anh V sinh sống ổn định, quản
lý, sử dụng đất, tài sản trên đất và các cây trồng trên đất.
Từ năm 2017, ông T nhiều lần vay vốn thế chấp thửa đất 2279 tại Ngân
hàng. Đến năm 2019 do tuổi cao không có khả năng trả nợ nên năm 2019 ông T đã
tất toán khoản vay và tặng cho thửa đất trên cho con trai anh V đthay ông trả nợ.
Ngày 06/8/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C đăng ký biến
động tặng cho anh Đình V. Tất cả các lần thế chấp nêu trên do mt mình ông T
vay để sử dụng mục đích cá nhân không liên quan gì đến M và bà M cũng không
thực hiện giao dịch hoặc ký vay với Ngân hàng.
- Về tài sản trên thửa đất 2279 gồm: 01 căn nhà có mt phần làm bằng gỗ được
dựng trên nền móng bê tông nối liền với một phần nhà xây, công trình phụ trên đất
có nguồn gc: Năm 2013 anh V mua của gia đình bà H W Êban, ông A Duôn Y B
xã E thông qua người môi giới là ông Y W1 N. Anh V người trả tiền với giá
45.000.000 đồng (bao gồm tiền mua nhà sàn g35.000.000 đồng đưa cho bà H W
Êban, công tháo gỡ 5.000.000 đồng tiền công trả cho ông Y W1 N
5.000.000 đồng). Năm 2014 thì trùng tu, xây dựng thêm nhà xây công trình phụ để
ở, toàn bộ tiền mua nhà và xây nhà là của anh V chứ không phải tiền của ông T, bà
M.
- Về tài sản trên thửa đất 2284 gồm: 01 ao diện tích 1356.7m
2
và một số cây
trồng trên đất có nguồn gốc khi nhận chuyển nhượng từ ông T2, bà X thì trên đất đã
sẵn ao này, ngoài ra không có cây trồng khác. Từ năm 2017 thì anh V đã tự cải
tạo đất, ao trồng toàn bộ các cây trồng trên thửa đất này. M không công
sức, đóng góp gì để tôn tạo tài sản trên đất.
Việc M cho rằng đóng góp tiền bạc, công sức để nhận chuyển nhượng
nhà, đất, tôn tạo tài sản trên đất không có. Từ năm 1997 bà M ông T bắt đầu
chung sống với nhau như vợ chồng nhưng trên thực tế tbà M ít nhà, thường
xuyên đi khắp nơi và có nhiều lần đi trộm cắp, lâu lâu bà M có về nhà để ở mt vài
ngày rồi lại đi, lúc thì đi chấp hành án tù, lúc thì về quê… Từ năm 2018 đến nay bà
M nhiều lần đi tù và ông bà không còn tình cảm với nhau nữa nên khi bà M về nhà
thì ông T không cho bà M vào nhà nữa.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà M về việc không công nhận vợ chồng thì ông
đồng ý và không ý kiến , đề nghị giải quyết theo quy định. Đối với yêu cầu chia
tài sản của bà M thì ông T không đồng ý vì đây là tài sản của anh V chứ không phải
của ông T, bản thân ông T không có tài sản gì để chia.
* Theo bản tkhai các lời khai quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình V trình bày:
6
Anh Đình V đồng ý với toàn bộ lời trình bày của ông Lê Đình T bổ sung
thêm: Bố mẹ anh ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị L có 03 người con gồm: Chị
Thị H2, sinh năm 1985; anh V chị Trần Thị T3, sinh năm 1993. Bố mẹ anh
sống cùng nhau từ tháng 4/1983 không đăng kết hôn, đến năm 1991 bố mẹ
anh xảy ra mâu thuẫn nên không ở với nhau được nên mẹ anh raTĩnh sinh sống.
Năm 1997 đến năm 2007, ông T sống cùng M anh, nhưng không thường xuyên
chung sống với nhau chỉ lâu lâu M vchung một vài tháng hoặc mt vài
ngày, sau đó thường xuyên về quê sinh sống, từ năm 2008 thì thường xuyên đi lang
thang hoặc bị đi tù.
Đối với yêu cầu khởi kiện của M về việc không công nhận vợ chồng giữa
ông T và bà M thì anh V không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu chia tài sản của bà M
thì anh V không đồng ý đất tài sản riêng của ông T đã tặng cho anh V hợp
pháp. Bản thân anh V đã tự bỏ tiền, công sức để mua nhà gỗ, xây công trình phụ,
trồng cây, n tạo lên toàn bộ tài sản trên đất quản lý sử dụng ổn định ttrước
đến nay không có ai tranh chấp. Đồng thời tại thời điểm ông T mua thửa đất này từ
năm 2014 thì bà M đang chấp hành án nên không có cơ sở là tài sản chung của ông
T và bà M.
* Theo biên bản lấy lời khai đơn trình bày trong quá trình giải quyết vụ
án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thanh T1 trình bày:
Chị T1 anh Đình V vợ chồng, đăng kết hôn tại UBND E,
huyện C. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ ThM yêu cầu phân chia tài sản gồm
đất và tài sản trên đất tại thửa đất 2279 và thửa 2284, cùng tờ bản đồ số 10 tọa lạc
tại xã E, huyện C là tài sản riêng của ông T, sau đó tặng cho anh V. Các tài sản trên
đất là tài sản của anh V tự bỏ tiền bạc, công sức tôn tạo, bản thân chị T1 không đóng
góp tài chính, công sức gì để tôn tạo toàn bộ tài sản trên.
Ngày 11/6/2025 chị T1 cùng anh V đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP S Chi
nhánh Đ1 Phòng G thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất với
diện tích đất 1408m
2
thuộc thửa đất số 2279, tờ bản đồ số 10, tại thôn H, E, huyện
C, tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay chị T1, anh V vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Ngân
hàng, không tranh chấp về khoản vay hoặc hợp đồng thế chấp với Ngân hàng. Nay
bà M khởi kiện yêu cầu chia tài sản thì chị T1 không có ý kiến gì, không có yêu cầu
khởi kiện trong vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Theo bản tự khai các lời khai quá trình giải quyết vụ án, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP S Cao Thị Mỹ H trình bày:
Ngày 11/06/2025, anh Đình V, hợp đồng tín dụng số
20250611026185847 vay Ngân hàng TMCP S số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm
triệu đồng chẵn), lãi suất 9.5%/năm, hạn 12 tháng, tại Ngân hàng TMCP S Chi
nhánh Đ1 Phòng G (S). Tài sản thế chấp tại Ngân hàng như sau: Quyền sử dụng
đất theo GCN số AA02099092 do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện C
cấp ngày 06/06/2025; thửa đất số 2279, tờ bản đồ số 10, diện tích 1408 m
2
; địa chỉ
thửa đất tại: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Tại thời điểm nhận thế chấp tài
sản trên của anh Đình V, Ngân hàng đã thẩm định cho vay theo đúng quy định.
Trong quá trình vay vốn anh Đình V thực hiện đúng đủ nghĩa vụ với Ngân
7
hàng.
Đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà Đỗ Thị M yêu cầu phân chia tài sản
chung là quyền sử dụng đất đất đang được thế chấp để đảm bảo khoản vay tại Ngân
hàng thì Ngân hàng không đồng ý. Ngân hàng không yêu cầu khởi kiện độc lập trong
vụ án đối với anh Đình V và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
luật.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/11/2024 người làm chứng ông Phan Mậu
T2 và bà Lê Thị X trình bày:
Vợ chồng ông T2 X trước đây có 01 thửa đất tại thôn H, E, huyện C
với diện tích khoảng 03 sào, thời điểm đó vợ chồng ông bà được cấp GCNQSD Đất
(nhưng đến nay đã chuyển nhượng nên vợ chồng ông T2, bà X không nhớ số thửa
bao nhiêu). Năm 2014, ông bán thửa đất này cho ông Đình T, giá chuyển
nhượng là 150.000.000 đồng, các bên không viết giấy tờ gì mà chỉ giao 01
GCNQSDĐ cho ông T bàn giao đất cho ông Thanh quản L1, sử dụng tnăm
2014 cho đến nay. Việc chuyển nhượng mặt vợ chồng ông T2, X ông T,
còn bà M hay ông V thì ông bà không biết.
Đối với giấy xác nhận mua bán nhà đất ngày 27/5/2024 chữ kỹ người bán
đất “Phan Mậu T2” là của ông T2, tuy nhiên thực tế vợ chồng ông T2, bà X không
bán đất cho bà M mà bà M xuống nhà nhờ ông T2 ký xác nhận giúp cho ông T nên
ông T2 mới ký. Đối với yêu cầu khởi kiện của M thì ông T2, bà M không biết
không liên quan, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/12/2024 người làm chứng bà H W Êban
trình bày:
H W Êban ông Y B Êban (tên thường gọi A Duôn Y B) (chết năm
2020) vợ chồng. Trước đây gia đình 01 nhà sàn gỗ cần bán thông qua
người môi giới (là người đồng bào không biết là ai) đến mua nn gỗ với giá
30.000.000 đồng, giữa các bên chỉ giao tiền tháo gnhà sàn gỗ chứ không làm
giấy tờ gì. Thời điểm giao dịch vào thời gian nào thì gia đình không nhớ đã
lâu. Sau đó người môi giới đó bán lại cho người khác thì gia đình không biết.
Việc người môi giới bán lại cho ông T, M hay người khác thì gia đình không
biết và không liên quan.
Khoảng thời gian gần đây 01 người đàn đến nhà H W xin xác nhận
mua căn nhà gỗ, do H W không biết viết, không viết chữ và không hiểu tiếng phổ
thông nên không hiểu người đàn nói gì. H W xác nhận chữ chữ viết
trong giấy xác nhận mua bán căn nhà gỗ không phải là của bà H W và bà chưa từng
nghe qua nội dung này.
Đối với yêu cầu khởi kiện của M thì gia đình bà H W không biết không
liên quan, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/01/2025 người làm chứng ông Y W N
trình bày:
Ông Y B Êban (tên thường gọi là A Duôn Y B) (chết năm 2020) và H W
8
Êban là họ hàng của gia đình ông Y W1 N. Ông bà có nhu cầu muốn bán một căn
nhà sàn gỗ nên nhờ ông Y W N tìm người để bán.
Vào năm 2013, thông qua giới thiệu thì ông Y W1 biết ông Lê Đình T anh
Đình V nhu cầu mua căn nhà sàn gỗ nên ông Y W1 đã dẫn ông T anh V
đến nhà ông B Êban để thực hiện việc mua bán trên. Tại nhà ông B Êban, giữa các
bên gồm anh Lê Đình V (bên mua), ông Lê Đình T, bà H W Êban (bên bán), ông Y
W1 (người chứng kiến), ban tự quản gồm: Công an viên ông Y S Êban Buôn
trưởng là ông Y S1 Êban tiến hành lập Giấy bán nhà sàn dài 15m, ngang 6m (trong
giấy không ghi cụ thể thời gian nên ông Y W1 không xác định được thời gian tháng
nào, chỉ biết từ năm 2013) với giá 45.000.000 đồng (bao gồm tiền mua nhà sàn
gỗ 35.000.000 đồng đưa cho ông Y B Êban, công tháo gỡ 5.000.000 đồng
tiền công trả cho ông Y W1 là 5.000.000 đồng), trong số tiền 35.000.000 đồng này
do anh V trả cho ông Y B Êban trước sự chứng kiến ca ông Y W1 ban t
quản.
Trong giấy bán nhà sàn chữ của chủ nhà người bán H W Êban,
nhưng thực tế có mặt ông B Êban, còn việc không có chữ ký của ông B Êban thì ông
Y W1 không biết; Anh V và ông T những người đại diện cho bên mua nhưng thực
tế anh V là người trả tiền cho bên bán và có xác nhận của ông Y W1 ban tự quản.
Quá trình các bên giao dịch thì chỉ có những người trên, ngoài ra không còn ai khác.
Sau khi các bên thỏa thuận xong, ông Y W1 chtrách nhiệm giám sát việc tháo
gỡ nhà sàn và vận chuyển đến nhà cho anh V, ông T còn việc ông T, anh V sử dụng
vào việc gì thì ông Y W1 không biết.
Đối với bà Đỗ Thị M ai thì ông Y W1 không biết trong quá trình thực hiện
giao dịch nên trên thì chỉ có bà H Wưnh Êban là phụ nữ, ngoài ra không còn người
phụ nữ nào khác.
Đối với yêu cầu của M yêu cầu phân chia tài sản thì ông Y W1 không biết
và không liên quan. Đối với các tài liệu mà M cung cấp cho Tòa án về quá trình
mua bán căn nhà sàn gkhông đúng sự thật, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định pháp luật.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/5/2025 người làm chứng bà Nguyễn Thị
L trình bày:
Bà L ông T là vợ chồng, chung sống với nhau từ năm 1982 tại xã E, huyện
C. Tuy nhiên do không hiểu biết nên L, ông T không đăng kết n theo quy
định. Trong thời gian chung sống, bà L, ông T thường xuyên mâu thuẫn nên t
khoảng năm 1991 ông không tiếp tục chung sống nữa, L về quê nhà tại
Tĩnh sinh sống còn ông T tiếp tục ở lại xã E, huyện C cho đến nay. Qúa trình chung
sống, L, ông T tạo dựng được 01 căn nhà cấp 4 tại Km17, E, huyện C.
Khoảng năm 2013 đến năm 2014 khi L về quê sinh sống thì ông T đã chuyển
nhượng căn nhà nêu trên để mua đất và tạo dựng tài sản trên đất tại thửa đất số 2279,
tờ bản đồ số 10, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay toàn bthửa đất trên đã
được ông T tặng cho đăng chỉnh biến động cho con trai là anh Đình V
ngày 06/8/2019. Về việc ông T chuyển nhượng căn nhà cấp 4 tài sản chung của
ông nhận chuyển nhượng thửa đất 2279, sau đó tặng cho cho anh V tL
9
không có ý kiến gì, vì tài sản chung của ông bà cũng đã được tặng cho con trai chứ
không phải để ông T sử dụng riêng. Về các tài sản nhà, cây trồng được tôn tạo trên
thửa đất 2279 của ai, do ai tạo lập lên thì L không biết không cùng chung
sống.
Đối với yêu cầu khởi kiện của M về việc không công nhận vợ chồng giữa
ông T bà M tL không ý kiến gì. Đối với yêu cầu chia tài sản của M
đối với thửa đất số 2279, tờ bản đồ số 10 tL không đồng ý đây tài sản
riêng của anh V, số tiền mua thửa đất 2279 là từ tài sản riêng của ông T và bà L bán
đi để mua thửa đất này.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2025 người làm chứng Phan Thị M1
và ông Nguyễn Xuân P trình bày:
Ông bà đều là chủ cửa hàng vật liệu xây dựng (VLXD) chuyên cung cấp gạch,
đá, xi măng trên địa bàn huyện C. Vào khoảng năm 2014, cửa hàng ông bán
VLXD cho nhiều khách hàng, trong đó anh Đình V khách hàng hay mua
VLXD ở cửa hàng ông bà.
Do thời gian đã lâu và các chứng từ, hóa đơn cụ thể vào thời điểm đó hiện cửa
hàng không còn lưu giữ. Tuy không nhớ chính xác số lượng, chất liệu, chủng loại,
giá trị của từng loại vật liệu anh V đã mua, nhưng với tư cách những người
bán hàng, ông xác nhận vào năm 2014 giữa cửa hàng của ông anh V giao
dịch mua bán VLXD để phục vụ việc xây nhà và làm công trình trên đất, việc giao
dịch khi đó vật liệu giao trực tiếp thanh toán bằng tiền mặt sau từng đợt giao
hàng.
Tại phiên tòa, anh Đình V ý kiến sẽ hỗ trợ số tiền 20.000.000 đồng cho
bà M để đi lại và về quê sinh sống theo trình tự Luật Thi hành án dân sự.Đỗ Thị
M đồng ý chỉ nhận số tiền 12.000.000 đồng hỗ trợ của anh V và vẫn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện.
- Bản án s 13/2025/HNGĐ-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân n khu
vực 5 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các
Điều 144, 147, 227, 235, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 9,
Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 3 Thông liên
tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn thi hành
một số quy định của Luật hôn nhân gia đình; Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và l
phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị
M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận Đỗ Thị Mông Đình T
vợ chồng.
10
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu phân chia tài sản chung của
nguyên đơn bà Đỗ Thị M yêu cầu phân chia tài sản chung đối với các tài sản gồm:
- Đất toàn bộ tài sản trên đất diện tích 1408m
2
(đo đạc thực tế 1509.5m
2
)
thuộc thửa đất số 2279, tờ bản đồ số 10, tại thôn H, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AA02099092 ngày 06/5/2025 mang tên anh Lê Đình V.
- Đất toàn bộ tài sản trên đất diện tích 3000m
2
o đạc thực tế 2807.5m
2
)
thuộc thửa đất số 2284, tờ bản đồ số 10, E, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất có vtrí như sau: Phía Bắc giáp thửa đất số 2279; Phía Đông giáp đường
đất; Phía Tây giáp đất nhà ông Đ; Phía Nam giáp suối.
4. Về nợ chung: Không có
5. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận: Anh Đình V nghĩa vụ thanh toán
cho bà Đỗ Thị M số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tiền hỗ trợ chi phí
đi lại, sinh hoạt.
Thời gian phương thức thanh toán: Theo trình tự thủ tục Luật thi hành án
dân sự.
6. Về chi phí tố tụng và án phí:
- Về chi phí tố tụng: Đỗ Thị M phải chịu số tiền chi phí đo đạc, xem xét
thẩm định tại chỗ định giá tài sản 12.074.000 đồng (Mười hai triệu, không trăm
bảy mươi nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng chi phí tố tụng M đã
nộp là 12.074.000 đồng (Mười hai triệu, không trăm bảy mươi tư nghìn đồng).
- Về án phí: Bà Đỗ Thị M được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly
hôn, chia tài sản chung.
Ngày 26/8/2025 nguyên đơn Đỗ Thị M đơn kháng cáo một phần bản án
thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét đối với yêu cầu chia tài sản chung trong thời gian sống chung với ông T và
đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữa nguyên nội dung kháng cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đình V đồng ý hỗ trợ bà M số
tiền 20.000.000 đồng chi phí đi lại, sinh hoạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán HĐXX phúc thẩm tuân thủ đúng các quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đỗ Thị M kháng cáo yêu cầu Toà án giải quyết lại yêu cầu
khởi kiện của bà về chia tài sản chung của ông Đình TĐỗ Thị M trong thời
kỳ chung sống. Các tài sản chung mà bà M yêu cầu chia bao gồm thửa đất số 2279
thửa 2284 tờ bản đồ số 10 diện tích 1408m
2
tại thôn H, C, tỉnh Đắk Lắk đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đình T; tài sản trên
11
đất là 01 căn nhà gỗ ba gian và toàn bộ ng trình gắn liền với đất; và diện tích đất
ao khoảng 3000 m
2
thuộc thửa đất số 2284, tờ bản đồ số 10 tại thôn H, xã C, tỉnh
Đắk Lắk. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án thể hiện M
ông T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 đến năm 2008 nhưng không
có đăng ký kết hôn. Việc kết hôn này không tuân thủ Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia
đình nên không có giá trị căn cứ pháp lý. Căn cứ khoản 3 Điều 14 Luật Hôn nhân
Gia đình năm 2014 Nghị quyết s35/2000/QH10 đgiải quyết tài sản hình thành
trong thời k chung số không đăng kết hôn theo nguyên tắc tài sản riêng của ai
thuộc vngười đó và tài sản hình thành trong thời kỳ chung sống sẽ được giải quyết
theo nguyên tắc đóng góp công sức tài sản riêng. Cụ thể: thửa đất 2279 thửa
2284 tờ bản đồ số 10 tài sản gắn liền với đất được ông T mua từ tiền riêng của
ông T (từ việc bán căn nhà đất của ông với L). Tại thời điểm ông T mua
thửa đất tạo lập tài sản (năm 2013 -2015) M đang chấp hành án phạt nên
không có công sức đóng góp bằng tiền hoặc lao động có thu nhập để tạo lập tài sản
chung. Thửa đất này năm 2019 ông T đã tặng cho con trai Đình V, đồng thời
các tài sản khác gắn liền với đất là do anh Đình V tạo lập. Do đó, thửa đất 2279
tài sản gắn liền với đất không phải tài sản chung. Do đó cấp thẩm không
chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung M yêu cầu căn cứ. Tại cấp phúc
thẩm M không cung cấp thêm tình tiết nào mới nên kháng cáo không sở
chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng
xét xử tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Đỗ Thị M. Giữ nguyên
Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 20/8/2025 của Toà
án nhân dân khu vực – Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra
tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên sở xem xét đầy
đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm
sát viên, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị M được nộp trong
thời hạn luật định đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy
định và được xem xét miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên giải quyết theo
trình tự phúc thẩm.
Về smặt của các đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm những người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không lý do mặt đã được
triệu tập hợp lệ tuy nhiên vắng mặt tại phiên toà. Do đó HĐXX tiến hành giải quyết
theo quy định ca pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bà Đỗ Thị M, yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại
12
Bản án thẩm đối với yêu cầu chia tài sản sản chung trong thời gian chung sống
cùng ông Đình T nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án bà M trình bày chung
sống với ông T từ năm 1993 đến nay. Trong thời gian chung sống năm 2013
ông T nhận chuyển nhượng đất của ông Phan Mậu T2 Thị X thửa đất
2279, thửa 2284 tờ bản đồ số 10 tại thôn H, C, tỉnh Đắk Lắk. Do hiện nay tình
cảm với ông T không còn ông T hay chửi hành vi bạo lực gia đình nên
bà yêu cầu Toà án giải quyết không công nhận vợ chồng đồng thời yêu cầu chia tài
sản nêu trên là 02 thửa đất và tài sản, công trình kiến trúc, cây trồng trên đất. Tuy
nhiên, nội dung trình bày của M ông T không đồng ý ông chỉ thừa nhận ông
và bà M sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định
của pháp luật. Thời gian chung sống với nhau bắt đầu từ năm 1997 đến năm 2008
thì M không thường xuyên chung sống cùng ông vi phạm pháp luật. Sau khi
phạm tội bị Toà án xét xtừ năm 2008 đến nay thì M không về chung sống
nữa và đi đâu ông không rõ. Quá trình chung sống ông và bà M không tạo lập được
tài sản chung gì, thời điểm năm 1997 bà M về sống cùng ông thì ở tại căn nhà trên
thửa đất mặt đường quốc lộ 27 ông đã sẵn xây dựng trước đó, khi về sống chung
thì bà M chỉ nhà, không có công việc và thu nhập cụ thể. Đối với tài sản là 02 thửa
đất ông T nhận chuyển nhượng với ông T2, X năm 2014 có nguồn gốc từ việc
ông bán tài sản riêng của ông trước đó ông được cấp năm 1991, thửa đất ngoài mặt
đường quốc lộ 27. Năm 2013 ông chuyển nhượng với giá 250.000.000 đồng dùng
tiền đmua lại 02 thửa đất này của ông T2 X. Còn căn nhà, công trình cây
trồng gắn liền với đất con trai (anh Đình V) tạo lập. Mặt khác thời gian nhận
chuyển nhượng đất bà M đang chấp hành án phạt tù nên không có tài sản gì, không
biết việc tôi mua bán như thế nào. đó, cho rằng đây tài sản chung yêu
cầu chia tài sản là không có căn cứ.
[3]. Tại biên bản xác minh nơi cư trú (bút lục s130) Trưởng thôn là ông Phạm
Doãn K cung cấp thông tin trước khi sống với M tông T sống với người phụ
nữ khác, năm 1997 bỏ đi thì M về sống chung với ông T. Từ m 2008 M sống
không ổn định tại địa phương. Đến năm 2023 thì không còn chung sống nữa. Ông
Phan Mậu T2 xác nhận năm 2014 vchồng ông chỉ chuyển nhượng cho ông T,
không chuyển nhượng cho M. Phan Thị M1 ông Nguyễn Xuân P là chủ
cửa hàng vật liệu xây dựng xác nhận việc bán vật liệu cho anh V vào thời điểm
năm 2014. Đối với căn nhà gỗ ba gian thì người giới thiệu mua nhà là ông Y W N
xác nhận ông người giới thiệu cho anh V mua nhà của H W Êban. Tôi không
giới thiệu bán nhà cho bà M và không biết bà M là ai.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm đã thu thập tài liệu chứng cứ thể hiện
ngày 12/6/2013 bà M bị bắt tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản và chấp hành hình
phạt 02 năm 06 tháng tù, đến ngày 12/12/2015 thì chấp hành án xong. Như vậy, lời
trình bày của M cho rằng thời gian năm 2014 bà và ông T nhận chuyển nhượng
đất với ông T2, bà X đến nhận đất tại 02 thửa đất 2279 2284 không phù hợp.
M cho rằng bà đưa tiền, vàng để ông T đầu tư làm ăn, mua đất nhưng ông T
13
không thừa nhận, đồng thời không cung cấp các tài liệu chứng cứ, chứng minh
cho ý kiến trình bày, yêu cầu chia tài sản chung là có căn cứ. Đối với các tài sản cây
trồng từ năm 2017, nhà gắn liền với 02 thửa đất ông T nhận chuyển nhượng năm
2014 của ông T2 bà X là do anh Lê Đình V tạo lập, canh tác trên đất sau đó kết hôn
chung sống với chị Lê Thị Thanh T1. Do vậy đây là tài sản riêng của vợ chồng anh
V.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản lấy lời khai ngày
20/12/2024 (BL 118-119) bà M khai: “Năm 2014 ông T nhận chuyển nhượng đất từ
ông Phan Mậu T2 Thị X, giá trị chuyển nhượng bao nhiêu và tiền mua từ
đâu mà có thì M không biết việc giao dịch chuyển nhượng này là giữa ông T
và vợ chồng ông T2, bà X. Bà M chỉ được biết việc mua bán đất khi ông T hoàn tất
thủ tục mua bánđưa bà M đến đất khi cúng đất…thửa đất 2284 liền kề với thửa
2279, do ông T bà M tự khai hoang thêm sau khi về tại thửa đất 2279. Trước
khi khai hoang thì trên đất đã có 1 cái ao, do ông T2, X canh tác để lại, bà M và
ông T đã mở rộng ao ra để canh tác…”. Tuy nhiên, cũng tại biên bản lấy lời khai
cùng ngày, M lại trình bày khác: “bà M đã đưa cho ông T khoảng 4-5 chỉ vàng
loại vàng 9999 và khoảng 30 triệu tiền mặt cho ông T để góp tiền mua 2 thửa đất
nêu trên, tuy nhiên, về công sức đóng góp tài sản nêu trên thì bà M không có tài liệu
chứng cứ mà chỉ tên trong sổ hộ khẩu của bị đơn”. Đối với lời khai của bà M
cho rằng bà M đóng góp tiền để nhận chuyển nhượng 02 thửa đất nêu trên nhưng
không tài liệu chứng cứ chứng minh cũng không được ông T thừa nhận. Lời
trình bày của ông T về nguồn gốc đất phù hợp các tài liệu chứng cứ đã thu thập
với diễn biến thực tế, ng phù hợp với trình bày của người làm chứng. Hiện nay
thửa đất trên đã được ông T tặng cho con anh Đình V vào năm 2019 đã đăng
ký biến động sang tên anh V. Căn cứ Điều 222 Bộ luật dân sự 2015 quy định về căn
cứ xác lập quyền sở hữu thì hiện nay anh V người quản lý, sử dụng tài sản hợp
pháp và anh V cũng không thừa nhận có phần tài sản chung với M. Do đó, có căn
cứ để xác định diện tích đất 1408m
2
(đo đạc thực tế 1509.5m
2
) thuộc thửa đất số
2279, và diện tích đất 3000m
2
o đạc thực tế 2807.5m
2
) thuộc thửa đất số 2284,
cùng tờ bản đồ số 10, tại thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn H, xã E,
tỉnh Đắk Lắk) là tài sản riêng của ông T hiện đã tặng cho anh V, không phải tài sản
chung của bà M và ông T.
Như vậy,căn cứ để khẳng định trong thời gian chung sống với nhau từ năm
1997 đến năm 2008 M ông T không tạo lập được khối tài sản chung của vợ
chồng. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của M đối với thửa đất 2279 và 2284
cùng với căn nhà gỗ gắn liền với đất, cây trồng trên đất hiện nay do anh Lê Đình V
đang quản lý không cơ sở bởi lẽ: thời điểm ông T nhận chuyển nhượng đất của
ông T2 X thì M mặt tại địa phương và cùng xác lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Đối với khoản tiền ông T dùng để mua là có từ việc bán
tài sản thửa đất đã từ năm 1991 tại mặt đường quốc lộ 27, vcăn nhà cây
trồng trên đất do vợ chồng anh Lê Đình V tạo lập nên bà M không có công sức đóng
góp để tạo lập khối tài sản chung trong thời gia chung sống. do đó yêu cầu khởi kiện
và kháng cáo của bà M là không có cơ sở.
Xét ý kiến của anh Đình V trình bày tại phiên toà vviệc hỗ trợ cho M
14
số tiền 20.000.000 đồng như tại phiên toà sơ thẩm đã trình bày tuy nhiên bà M chỉ
nhận số tiền 12.000.000 đồng. NayM đồng ý với ý kiến của anh V về việc hỗ tr
số tiền 20.000.000 đồng. Xét thấy việc anh V đồng ý hỗ trợ bà M số tiền chi phí đi
lại, sinh hoạt 20.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện. Do đó cần chấp nhận và ghi
nhận sự thoả thuận này.
[4].Về án phí dân sự phúc thẩm: kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn
Đỗ Thị M phải chịu tiền án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, Phan Thị M2 là người
cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên được miễn toàn bộ án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật t tụng dân sự năm 2015;
- Không Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị M.
Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày
20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các
Điều 144, 147, 227, 235, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 9,
Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 3 Thông liên
tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn thi hành
một số quy định của Luật hôn nhân gia đình; Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và l
phí Tòa án.
Tuyên xử:
[2] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị M.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Đỗ Thị M và ông Lê Đình T
vợ chồng.
[4]. Về con chung: Không có.
[5]. Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu phân chia tài sản chung của
nguyên đơn bà Đỗ Thị M yêu cầu phân chia tài sản chung đi với các tài sản gồm:
- Đất và toàn bộ tài sản trên đất diện tích 1408m
2
(đo đạc thực tế 1509.5m
2
)
thuộc thửa đất số 2279, tờ bản đồ số 10, tại thôn H, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AA02099092 ngày 06/5/2025 mang tên anh Lê Đình V.
- Đất toàn bộ tài sản trên đất diện tích 3000m
2
(đo đạc thực tế 2807.5m
2
)
thuộc thửa đất số 2284, tờ bản đồ số 10, E, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất có vtrí như sau: Phía Bắc giáp thửa đất số 2279; Phía Đông giáp đường
đất; Phía Tây giáp đất nhà ông Đ; Phía Nam giáp suối.
[6]. Về nợ chung: Không có.
15
[7]. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận: Anh Lê Đình V có nghĩa vụ thanh toán
cho bà Đỗ Thị M số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tiền hỗ trợ chi phí
đi lại, sinh hoạt.
Thời gian phương thức thanh toán: Theo trình tự thủ tục Luật thi hành án
dân sự.
[8]. Về chi phí t tụng và án phí:
[8.1] Về chi phí tố tụng: Bà Đỗ Thị M phải chịu stiền chi phí đo đạc, xem xét
thẩm định tại chỗ định giá tài sản 12.074.000 đồng (Mười hai triệu, không trăm
bảy mươi nghìn đồng) và được khấu trừ số tiền tạm ứng chi phí tố tụng bà M đã
nộp là 12.074.000 đồng (Mười hai triệu, không trăm bảy mươi tư nghìn đồng).
[8.2] Về án phí: Bà Đỗ Thị M được miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm về việc
ly hôn, chia tài sản chung
[8.3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Đỗ Thị M được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị, đã
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 5- Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 5- Đắk Lắk; (Đã ký)
- Các đương sự;
- ........;
- Lưu.
Nguyễn Văn Hồng
Tải về
Bản án số 50/2025/HNGĐ-PT Bản án số 50/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2025/HNGĐ-PT Bản án số 50/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất