Bản án số 50/2017/HSST ngày 19/09/2017 của TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 50/2017/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 50/2017/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 50/2017/HSST ngày 19/09/2017 của TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Đông Hưng (TAND tỉnh Thái Bình) |
| Số hiệu: | 50/2017/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƢNG
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 50/2017/HSST
Ngày 19/9/2017
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Gia Tuấn và ông Nguyễn Văn Quyến.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung, Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Đông Hưng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Thị Yến, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông
Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số
48/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
51/2017/HSST-QĐ ngày 06 tháng 9 năm 2017, đối với:
1.Bị cáo Nguyễn Thế Q sinh năm 1990 tại C, Đông Hưng.
Nơi cư trú: thôn K, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Trình độ văn hóa: 10/12;
Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Thế Đ1 (đã chết) và bà Trần Thị T;
Có vơ
̣
là Vũ Thị Minh T (đang sống ly thân)và có 02 con, con lớn sinh năm 2011,
con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tham gia nghĩa vụ
quân sự từ tháng 2/2009 đến tháng 7/2010, Bố đẻ được Chủ tịch nước tặng Huân
chương chiến công hạng nhì; Ngày 19/6/2013 bị UBND huyện Đ ban hành quyết
định số 1660 về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn
12 tháng do nhiều lần sử dụng ma túy, đã chấp hành xong ngày 19/6/2014; Bị tạm
giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2017. (có mặt)
2. Ngƣời bị hại: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 2001
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ2,
sinh năm 1969 là bác ruột của chị M
Đều trú quán: Thôn X, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
3. Ngƣời có quyền lợi liên quan đến vụ án:
2
- Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1993, trú tại: thôn PH, xã S, huyện Đ, tỉnh
Thái Bình (vắng mặt)
4. Những Ngƣời làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1962
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1993
Đều trú tại: Thôn LM, xã MT, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- Anh Nguyễn Hữu C1, sinh năm 1988
Trú tại: thôn PH, xã S, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
(Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Về hành vi phạm tội:
Khoảng 23 giờ ngày 13/6/2017, trong khi đi bộ từ quán Internet ở xã Nguyên
Xá về nhà ở xã C, Nguyễn Thế Q nhìn thấy 01 chiếc xe máy điện trong sân nhà bà
Nguyễn Thị Đ2 ở thôn X, xã C liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. Do cổng
nhà bà Đ2 khóa nên bị cáo đi theo lối bờ ao sau nhà vào trong sân, quan sát thấy
mọi người trong nhà đã ngủ, bị cáo đi đến chỗ chiếc xe đạp điện không khóa càng
khóa cổ đang dựng ở ngách nhà và bếp rồi dùng tay phải gạt chân chống phụ lên để
không gây ra tiếng động và dắt xe đi theo lối bờ ao cạnh gian bếp để đi ra lối đường
bờ ruộng. Từ đường bờ ruộng sang đường bê tông có một mương nước rộng khoảng
70 cm không thể dắt xe qua nên bị cáo dựng xe ở bờ ruộng rồi quay lại phía bờ ao
của nhà bà Đ2 lấy 01 tấm gỗ có kích thước 1m40 x 70cm bắc qua mương và dắt xe
đến nhà bà Nguyễn Thị R là cô ruột của bị cáo ở thôn Phú Vinh, xã Đồng Phú. Lúc
này khoảng 5 giờ sáng ngày 14/6/2017, gia đình bà R không có ai ở nhà, cổng nhà
khép còn cửa nhà khóa, bị cáo dắt xe vào trong sân, tìm được chiếc tô vít trong gian
lán mở ổ khóa điện nhưng không được. Do đã ở nhà bà R một thời gian ngắn để phụ
giúp việc cho bà R nên bị cáo biết bà R thường để chìa khóa nhà ở tủ làm lạnh nên
bị cáo tìm và lấy được chìa khóa, mở cửa đi vào phòng mà trước đây bị cáo ở, tìm ở
túi đựng quần áo của bị cáo lấy chiếc chìa khóa nhãn hiệu Hon da, dùng chiếc chìa
khóa này mở được ổ khóa điện và ổ khóa cốp của xe máy điện, bị cáo dùng tô vít
tháo biển kiểm soát của xe cho vào cốp rồi mở trong cốp xe có: 01 giấy chứng nhận
đăng ký xe mang tên Nguyễn Trọng G, 01 cục sạc xe máy điện, 01 sách hướng dẫn
sử dụng xe; 01 giấy bảo hành xe mang tên Nguyễn Thị M. Bị cáo điều khiển xe đến
cửa hiệu cầm đồ của gia đình ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1962 ở thôn LM, xã
MT, huyện Đ nói với ông M là xe của bị cáo, cho bị cáo cầm cố xe với giá
4.000.000 đồng. Ông M xem xong các giấy tờ thì đồng ý. Sau khi cầm cố được
chiếc xe máy điện, bị cáo bỏ ra 200.000 đồng thuê xe Taxi đi về quán Internet của
3
anh Nguyễn Hữu V chơi đến 21 giờ cùng ngày thì hết số thẻ game đã mua và không
có 200.000 đồng trả anh V tiền thuê máy và tiền mua nước uống, bị cáo nói với anh
V “ Em có con xe máy điện cắm ở TH sáng nay được 4.000.000 đồng, anh cho em
mượn tiền lên đó lấy xe về rồi cắm thêm hoặc bán lấy tiền trả cho anh”. Anh Văn
đồng ý, anh V đưa 4.000.000 đồng cho anh Nguyễn Hữu C1, sinh năm: 1988 ở thôn
Trung, xã Đông Sơn là anh họ của anh V và nhờ anh C chở bị cáo đến quán cầm đồ
để lấy xe. Tại nhà ông M anh C trực tiếp thanh toán tiền 4.050.000 đồng gồm tiền
cầm cố xe và tiền lãi cho bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1968 là vợ ông M rồi lấy xe
máy điện cùng giấy tờ xe quay về quán anh Văn. Do Q không còn tiền nên anh V
đồng ý cho Q để lại xe và toàn bộ giấy tờ xe khoảng 01 đến 02 ngày sau sẽ đến
chuộc xe. Sau đó bị cáo đi về nhà. Người bị hại đã trình báo sự việc và ngày
15/6/2017, Công an huyện Đông Hưng đã quản lý tại quán của anh V chiếc xe cùng
toàn bộ giấy tờ nêu trên.
Ngày 19/6/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông
Hưng định giá chiếc xe máy điện biển kiểm soát 17MĐ2 – 03708 của chị Nguyễn
Thị M có trị giá: 11.520.000đồng (Mười một triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã trả lại tấm gỗ, chiếc xe và toàn bộ giấy tờ xe cho chị Mai và bà
Đ2.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Thế Q còn được thể hiện qua các chứng cứ:
- Đơn đề nghị và lời khai của bị hại chị Nguyễn Thị M (Bút lục số: 24; 44 - 48).
- Biên bản khám nghiệm hiện trường. Sơ đồ khám nghiệm hiện trường (Bút lục
số: 18 - 23).
- Biên bản quản lý vật chứng và Biên ba
̉
n tra
̉
la
̣
i ta
̀
i sa
̉
n (Bút lục số:30-3; 43).
- Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 103 ngày 19/6/2017 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Hưng (Bút lục số: 29).
- Lời khai của người liên quan: anh Nguyễn Hữu V (Bút lục số: 62 - 65).
- Lời khai của những người làm chứng: ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị
H, anh Nguyễn Văn T3 và anh Nguyễn Hữu C1, (Bút lục số 52 – 61, 66 – 69.
Bản cáo trạng số 50/2017/KSĐT ngày 31/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thế Q về tội “Trộm cắp tài
sản” theo khoản 1 Ðiều 138 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết
định truy tố Nguyễn Thế Q về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Ðiều 138 Bộ luật
hình sự.
Về hình phạt ®Ò nghÞ Héi ®ång xÐt xö: Áp dụng khoản 1, Điều 138, điểm h, p
khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 45, Điều 33 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Q
4
từ 6 tháng đến 9 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không
có thu nhập, kinh tế khó khăn.
Ngoµi ra cßn ®Ò nghÞ HĐXX xö lý vÒ vËt chøng và án phí cña vô ¸n.
Ý kiến của bị cáo Q: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, không đề nghị gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, bị cáo
xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình phấn đấu sống có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng: Các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Cơ quan
điều tra Công an huyện Đông Hưng, Ðiều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện
Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra
và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi cấu thành tội phạm: Bị cáo Nguyễn Thế Q đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Đông Hưng đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo thừa nhận vào khoảng 23 giờ 00 phút
ngày 13/6/2017 đã lén lút vào trộm cắp 01 chiếc xe máy điện trị giá 11.520.000đồng
(Mười một triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị M dựng ở
ngách nhà bà Nguyễn Thị Đ2, xe không khóa càng, khóa cổ nên bị cáo đã lấy đem
cầm cố được 4.000.000 đồng để chơi trò chơi điện tử và tiêu xài cá nhân. Hành vi đó
đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản
1 Ðiều 138 Bộ luật hình sự.
2. Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q không có tiền án, tiền sự,
phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội có thái độ
thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản đã được thu hồi trả
lại cho người bị hại, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bố đẻ của bị cáo
được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, vì vậy bị cáo
được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h, p
khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q không phải chịu tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét bị cáo tuổi còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện, lao
động kiếm tiền chân chính mà đi trộm cắp tài sản cầm cố để có tiền thỏa mãn nhu
5
cầu chơi game, bị cáo có nhân thân không tốt do đã bị áp dụng biện pháp bắt buộc
chữa bệnh vào năm 2014 do sử dụng ma túy nhiều lần, nay lại phạm tội do cố ý. Vì
vậy dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng vẫn phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã
hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người có ích.
Xét bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định
tại khoản 5 điều 138 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: người bị hại và đại diện hợp pháp đã nhận lại toàn
bộ tài sản không còn yêu cầu gì, người có quyền lợi liên quan trong vụ án là anh
Nguyễn Hữu V không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả anh số tiền 4.050.000 đồng, vì
vậy bị cáo không phải chịu trách nhiệm dân sự trong vụ án.
4.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận
ngày 25/7/2017 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng đã trả lại chị
Nguyễn Thị M toàn bộ tài sản mà bị cáo trộm cắp gồm 01 xe máy điện,01 biển kiểm
soát 17MĐ2 – 03708, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy mang tên
Nguyễn Trọng G, 01 cục sạc xe máy điện, 01 sách hướng dẫn sử dụng; 01 giấy bảo
hành. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô là công cụ phạm tội.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi
liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều
46, Điều 45, Điều 33 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Thế Q 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính
từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/6/2017.
3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi liên
quan không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn số tiền 4.050.000 đồng, bị cáo không phải chịu
trách nhiệm dân sự trong vụ án.
4. Xử lý vật chứng: áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự, khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng
hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô (Đã chuyển Chi cục thi hành án
dân sự huyện Đông Hưng).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án
buộc bị cáo Nguyễn Thế Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án 19/9/2017. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống
đạt hợp lệ bản án.
6
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Thái Bình;
- VKSND huyện Đông Hưng;
- Công an huyện Đông Hưng;
- Chi cục Thi hành án huyện Đông Hưng;
- Sở tư pháp;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: HS; THS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Thúy Hoàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng