Bản án số 49/2022/HNGĐ-ST ngày 12/07/2022 của TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 49/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 49/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 49/2022/HNGĐ-ST ngày 12/07/2022 của TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Đức Linh (TAND tỉnh Bình Thuận) |
| Số hiệu: | 49/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/07/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chấp nhận cho ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỨC LINH Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 49/2022/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 7 - 2020
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đinh Thị Hạnh.
2. Bà Võ Thị Ngọc Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh,
tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 33/2022/TLST-HNGĐ
ngày 09 tháng 02 năm 2022, về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly
hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24
tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc Th, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số nhà 18,
đường số 29, tổ 3, thôn 1, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nơi ở hiện nay: Số nhà 02, đường số 37, tổ 7, thôn 4, xã M, huyện Đ, tỉnh
Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Trương Vĩnh Trung K, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số nhà 18,
đường số 29, tổ 3, thôn 1, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, cùng các tài liệu khác
có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Th trình bày:
Về hôn nhân: Tôi Trần Thị Ngọc Th và ông Trương Vĩnh Trung K đã kết
hôn vào năm 1999; chúng tôi có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh
Bình Thuận; vợ chồng sống với nhau tính đến nay được 23 năm. Trong thời gian
vợ chồng sống chung thì ông K là người chồng, cha không có trách nhiệm với vợ
con và gia đình, ông K nhiều lần đánh đập tôi và các con.
Từ đó, tôi xác định vợ chồng không còn tình cảm, yêu thương, quý trọng
nhau nên tôi làm đơn đến Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông K.
Về con chung: Chúng tôi có 04 (bốn) con chung có tên Trương Lan V,
sinh ngày 02/11/1999; Trương Hào K, sinh ngày 17/12/2007; Trương Linh Đ,
sinh ngày 21/10/2012 và Trương Hạo K, sinh ngày 30/10/2015. Nếu ly hôn tôi
xin được nuôi cả 03 con chung là K, Đ và K1. Tôi không yêu cầu ông K phải cấp
dưỡng tiền nuôi 03 con chung. Nay con V đã trên 18 tuổi nên con ở với ai thì
người đó nuôi.
Về tài sản chung có 01 thửa đất diện tích 196,5m
2
(Đất ở 120m
2
và đất
trồng cây lâu năm 76,5m
2
), thửa đất số 267, tờ bản đồ số 108 tại giấy chứng nhận
QSDĐ số DD 428670 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp
ngày 19/8/2021 đứng tên ông Trương Vĩnh Trung K và bà Trần Thị Ngọc Th;
trên đất có xây dựng 01 căn nhà cấp 4, với giá trị nhà, đất và giếng nước được
Hội đồng định giá là 520.450.000 đồng. Nay, tôi đề nghị Tòa án giao toàn bộ căn
nhà, thửa đất và giếng nước cho ông K được quyền sở hữu và sử dụng, ông K
phải thối trả cho tôi số tiền bằng 40% của tổng giá trị tài sản đã được định giá là
520.450.000 đồng.
- Bị đơn ông Trương Vĩnh Trung K trình bày:
Nay tại Tòa án hòa giải thì tôi thống nhất toàn bộ nội dung vợ tôi tên Trần
Thị Ngọc Th đã trình bày theo đơn khởi kiện về việc ly hôn, về con chung, tài sản
chung; cụ thể: Tôi đồng ý ly hôn theo yêu cầu xin ly hôn của bà Th. Bởi vợ tôi là
bà Th đã xác định vợ chồng không còn tình cảm, yêu thương, quý trọng nhau nên
đã làm đơn đến Tòa án giải quyết ly hôn với tôi (K).
Về con chung: Chúng tôi có 04 (bốn) con chung có tên Trương Lan V, sinh
ngày 02/11/1999; Trương Hào K, sinh ngày 17/12/2007; Trương Linh Đ, sinh
ngày 21/10/2012 và Trương Hạo K, sinh ngày 30/10/2015. Nếu ly hôn tôi đồng ý
giao cho bà Th được quyền nuôi dưỡng 03 con chung là K, Đ và K1. Nay con V
đã trên 18 tuổi nên con ở với ai thì người đó nuôi.
Về tài sản chung có 01 thửa đất diện tích 196,5m
2
(Đất ở 120m
2
và đất
trồng cây lâu năm 76,5m
2
), thửa đất số 267, tờ bản đồ số 108 tại giấy chứng nhận
QSDĐ số DD 428670 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp
ngày 19/8/2021 đứng tên ông Trương Vĩnh Trung K và bà Trần Thị Ngọc Th;
trên đất có xây dựng 01 căn nhà cấp 4. Nay ông K đề nghị Tòa án giao toàn bộ
căn nhà, thửa đất và giếng nước cho ông K được quyền sở hữu và sử dụng, ông K
đồng ý thối trả cho bà Th số tiền bằng 40% của tổng giá trị tài sản đã được định
giá là 520.450.000 đồng.
3
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, của các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục: Thẩm phán thụ lý vụ án và Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên
bản phiên tòa đã thực hiện các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án đúng theo
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Giải quyết cho bà Trần Thị Ngọc Th ly hôn với ông Trương Vĩnh Trung K.
Về con chung có 04 (bốn) con chung có tên Trương Lan V, sinh ngày
02/11/1999; Trương Hào K, sinh ngày 17/12/2007; Trương Linh Đ, sinh ngày
21/10/2012 và Trương Hạo K, sinh ngày 30/10/2015; hiện các con còn nhỏ và
đang sinh sống với bà Th. Nay con V đã trên 18 tuổi; còn các con K, Đ và K1 thì
bà Th yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy ý kiến của các con K, Đ
là muốn ở với bà Th, do đó xem xét giao các con K, Đ và K1 cho bà Th trực tiếp
nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các con, và theo sự thống nhất việc
ông K đồng ý giao các con K, Đ và K1 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Th không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng tiền nuôi 03 con chung.
Về tài sản chung có 01 thửa đất diện tích 196,5m
2
(Đất ở 120m
2
và đất
trồng cây lâu năm 76,5m
2
), thửa đất số 267, tờ bản đồ số 108 tại giấy chứng nhận
QSDĐ số DD 428670 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp
ngày 19/8/2021 đứng tên ông Trương Vĩnh Trung K và bà Trần Thị Ngọc Th;
trên đất có xây dựng 01 căn nhà cấp 4, với giá trị nhà, đất và giếng nước được
Hội đồng định giá là 520.450.000 đồng. Nay, theo ý kiến của các bên đương sự
đã thỏa thuận việc phân chia tài sản chung; đề nghị Tòa án giao toàn bộ căn nhà,
thửa đất và giếng nước cho ông K được quyền sở hữu và sử dụng, ông K phải thối
trả cho bà Th số tiền bằng 40% của tổng giá trị tài sản đã được định giá là
520.450.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã thụ lý và giải
quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1
Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên
đơn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, xác định quan hệ pháp luật
cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
[2] Nội dung vụ án:
4
[2.1] Về hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc Th và ông Trương Vĩnh Trung K đã
kết hôn vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Bình
Thuận; vợ chồng sống với nhau tính đến nay được 23 năm. Trong thời gian sống
chung thì ông K là người chồng, cha không có trách nhiệm với vợ con và gia
đình, ông K nhiều lần đánh đập bà Th và các con. Từ đó, bà Th xác định vợ
chồng không còn tình cảm, yêu thương, quý trọng nhau nên bà Th làm đơn đến
Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông K.
Nay, bà Trần Thị Ngọc Th và ông Trương Vĩnh Trung K đồng ý ly hôn,
nên Hội đồng xét xử cần công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự là phù
hợp theo quy định của pháp luật.
[2.2] Về con chung: Ông bà có 04 (bốn) con chung có tên Trương Lan V,
sinh ngày 02/11/1999; Trương Hào K, sinh ngày 17/12/2007; Trương Linh Đ,
sinh ngày 21/10/2012 và Trương Hạo K, sinh ngày 30/10/2015. Nay con V đã
trên 18 tuổi; còn con K, Đ và K1 thì bà Th yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi
dưỡng. Xét thấy ý kiến của các con K, Đ là muốn ở với bà Th, do đó xem xét giao
các con K, Đ và K1 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng
của các con, và theo sự thống nhất việc ông K đồng ý giao các con K, Đ và K1
cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Th không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng tiền nuôi 03 con chung.
[2.3] Về tài sản chung: 01 thửa đất diện tích 196,5m
2
(Đất ở 120m
2
và đất
trồng cây lâu năm 76,5m
2
), thửa đất số 267, tờ bản đồ số 108 tại giấy chứng nhận
QSDĐ số DD 428670 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp
ngày 19/8/2021 đứng tên ông Trương Vĩnh Trung K và bà Trần Thị Ngọc Th,
trên đất có xây dựng 01 căn nhà cấp 4; với giá trị nhà, đất và giếng nước được
Hội đồng định giá là 520.450.000 đồng. Nay, theo ý kiến của các bên đương sự
đã thỏa thuận việc phân chia tài sản chung; nên Hội đồng xét xử cần công nhận sự
thỏa thuận của các bên đương sự là giao toàn bộ căn nhà, thửa đất và giếng nước
cho ông K được quyền sở hữu và sử dụng, ông Kiên phải hoàn trả cho bà Th số
tiền 208.180.000 đồng (bằng 40% của tổng giá trị tài sản đã được định giá là
520.450.000 đồng).
Bà Trần Thị Ngọc Th hiện nay đang giữ giấy chứng nhận QSDĐ số DD
428670 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/8/2021
đứng tên ông Trương Vĩnh Trung K và bà Trần Thị Ngọc Th, nên buộc bà Th
phải có trách nhiệm giao lại cho ông K; và ông Trương Vĩnh Trung K có trách
nhiệm đăng ký, kê khai về thửa đất này đối với cơ quan có thẩm quyền trong việc
chuyển tên người sử dụng đất theo quy định.
[3] Về áp dụng án lệ: Sau khi rà soát các án lệ đã được Chánh án Tòa án
nhân dân Tối cao công bố thấy rằng: Nội dung tranh chấp của vụ án không có
những tình tiết, sự kiện tương tự đã được nêu trong các án lệ nên không áp dụng
án lệ để giải quyết tranh chấp này, mà căn cứ vào các quy định của pháp luật để
giải quyết.
5
[4] Về chi phí định giá tài sản: Bà Th và ông K mỗi người phải chịu chi
phí định giá tài sản theo giá trị tài sản được chia đối với số tiền 2.300.000 đồng
do bà Th là người đã chi; cụ thể bà Th phải chịu số tiền 920.000 đồng tương ứng
với 40% giá trị tài sản được chia (2.300.000 đồng x 40%); ông K phải chịu số tiền
1.380.000 đồng tương ứng với 60% giá trị tài sản được chia (2.300.000 đồng x
60%) nên buộc ông K phải hoàn trả cho bà Th số tiền 1.380.000 đồng.
[5] Về án phí: Bà Th là người yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm về ly hôn; Bà Th và ông K mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về
giá trị tài sản được chia.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 146, khoản 2 và khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố
tụng dân sự;
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, điểm a khoản 2 Điều 62,
khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án;
Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm
2014;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc Th ly hôn ông Trương Vĩnh Trung K.
2. Về con chung: Bà Trần Thị Ngọc Th được quyền trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 03 (ba) con chung có tên Trương Hào K, sinh
ngày 17/12/2007; Trương Linh Đ, sinh ngày 21/10/2012 và Trương Hạo K, sinh
ngày 30/10/2015. Bà Th không yêu cầu ông Kiên phải cấp dưỡng tiền nuôi 03 con
chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng
việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về chia tài sản chung:
- Ông Trương Vĩnh Trung K được quyền sử dụng 01 thửa đất diện tích
196,5m
2
(Đất ở 120m
2
và đất trồng cây lâu năm 76,5m
2
), thửa đất số 267, tờ bản
6
đồ số 108 tại giấy chứng nhận QSDĐ số DD 428670 được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/8/2021 đứng tên ông Trương Vĩnh Trung K
và bà Trần Thị Ngọc Th, và được quyền sở hữu 01 căn nhà cấp 4 và giếng nước
trên đất; với giá trị nhà, đất và giếng nước được định giá là 520.450.000 đồng;
trong đó ông K được nhận 60% của tổng giá trị tài sản, nên ông K phải thối trả
cho bà Trần Thị Ngọc Th số tiền 208.180.000 đồng (bằng 40% của tổng giá trị tài
sản đã được định giá là 520.450.000 đồng).
Buộc bà Trần Thị Ngọc Th có trách nhiệm giao giấy chứng nhận QSDĐ số
DD 428670 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày
19/8/2021 đứng tên ông Trương Vĩnh Trung K và bà Trần Thị Ngọc Th cho ông
K; và ông Trương Vĩnh Trung K có trách nhiệm đăng ký, kê khai về thửa đất này
đối với cơ quan có thẩm quyền trong việc chuyển tên người sử dụng đất theo quy
định.
- Buộc ông Trương Vĩnh Trung K phải hoàn trả cho bà Trần Thị Ngọc Th
số tiền 208.180.000 đồng (Hai trăm lẽ tám triệu một trăm tám mươi ngàn đồng)
về giá trị tài sản được chia.
Kể từ ngày bà Trần Thị Ngọc Th có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, ông Trương Vĩnh Trung K còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của
Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về chi phí định giá tài sản: Bà Trần Thị Ngọc Th phải chịu số tiền
920.000 đồng tương ứng với 40% giá trị tài sản được chia (2.300.000 đồng x
40%); ông Trương Vĩnh Trung K phải chịu số tiền 1.380.000 đồng tương ứng với
60% giá trị tài sản được chia (2.300.000 đồng x 60%) nên buộc ông K phải hoàn
trả cho bà Th số tiền 1.380.000 đồng.
5. Về án phí DSST:
- Bà Trần Thị Ngọc Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và phải chịu 10.409.000 đồng (Mười triệu bốn trăm
lẽ chín ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về giá trị tài sản được chia, nhưng được
tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 3.425.000 đồng (Ba triệu bốn trăm hai mươi
lăm ngàn đồng) do bà Th đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh,
tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009123 ngày
09 tháng 02 năm 2022. Bà Trần Thị Ngọc Th còn phải nộp 7.284.000 đồng (Bảy
triệu hai trăm tám mươi bốn ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trương Vĩnh Trung K phải chịu 15.613.500 đồng (Mười lăm triệu
sáu trăm mười ba ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm về giá trị tài sản
được chia; nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có
quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án
(12/7/2022) để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
7
7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,
7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Đức Linh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THA huyện Đức Linh;
- Các đương sự;
- UBND xã Mê Pu;
- TAND tỉnh;
- Lưu HSVA, QĐ./.
Nguyễn Văn Quý
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm