Bản án số 49/2019/HS-ST ngày 15/03/2019 của TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 49/2019/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 49/2019/HS-ST ngày 15/03/2019 của TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội danh: 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Nam Từ Liêm (TAND TP. Hà Nội)
Số hiệu: 49/2019/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/03/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
ơ
Bản án số: 49/2019/HS-ST
Ngày: 15/3/2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Đỗ Thị Lệ Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Bá Huynh;
- Bà Trần Thị Oanh.
- Thư phiên tòa: Hoàng Kim Yến, Thư Tòa án nhân dân quận
Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên
tòa: Ông Lê Xuân Trường, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ
Liêm, thành phố Nội, xét xử thẩm ng khai vụ án hình sự thụ số
53/2019/HSST ngày 04/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
48/2019/QĐXXST-HS ngày 04/3/2019, đối với bị cáo:
Họ tên: Bùi Hữu Tuấn D; Sinh năm: 1998; Giới tính: Nam;
HKTT: Số147, đường A, phường B, thành phố C, tỉnh D; Nghề nghiệp: Sinh
viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Nội; Trình độ văn hoá:
12/12; n tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Kng; Con ông: Bùi Hữu
T; Con bà: Từ Thị Mai H; Gia đình bị cáo 02 anh em, bị cáo con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giam t ngày 02/01/2019 đến ngày
31/01/2019, thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/01/2019, tổ công tác Công an phường Mễ
Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Nội tiến hành tuần tra tại khu vực đường
Phạm Hùng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Nội, phát hiện
02 thanh niên đang đứng trên vỉa hè phía trước tòa nhà KeangNam Landmark 72
biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra nh chính thì 01 nam
thanh niên bỏ chạy, nam thanh niên còn lại khai nhận tên Bùi Hữu Tuấn D, trên
tay trái của D cầm 01 túi nilông chứa thảo mộc khô, tay phải cầm 500.000
đồng, kiểm tra túi đeo trên người D phát hiện có 01 gói giấy chứa thảo mộc khô.
D khai nhận đó ma túy Cần sa, đang mang đi để bán cho khách. Tcông tác
đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, dẫn giải D cùng tang vật vtrụ sở
Công an phường Mễ Trì để làm rõ.
Vật chứng thu giữ gồm có: 01 túi nilông màu trắng, kích thước 06x10 cm,
bên trong chứa c sợi thảo mộc khô; 01 gói giấy, kích thước 09x11 cm, bên
trong chứa các sợi thảo mộc khô; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung
J7, màu đen, số sim 0964271998 500.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm nghìn
đồng).
Tại Kết luận giám định số: 238/KLĐG-PC09 ngày 10/01/2019 của Phòng
kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Thảo mộc khô bên trong
01 túi nilông Cần sa, khối lượng: 11,720 gam; Thảo mộc khô bên trong 01
gói giấy là Cần sa, khối lượng: 23,920 gam./.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/12/2018, Bùi
Hữu Tuấn D truy cập vào Facebook thì thấy tài khoản mang tên: Nguyễn
Văn T’ đăng tin rao bán Cần sa, loại thảo mộc, D hỏi mua 500.000 đồng (Bằng
chữ: Năm trăm nghìn đồng) người này đồng ý bán, hẹn Dũng đến ngõ 215,
Trần Quốc Hoàn, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội để
anh ta cho người mang hàng đến giao. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, D ra
điểm hẹn gặp người giao hàng một nam thanh niên khoảng 20 tuổi (không
nhân thân lai lịch) đưa cho D 01 túi nilông bên trong đựng 02 túi nilông nhỏ
hơn, mỗi túi đều chứa Cần sa, D nhận túi nilông và trả 500.000 đồng (Bằng chữ:
Năm trăm nghìn đồng).
Sau khi mua được Cần sa, D sử dụng tài khoản Facebook
Mình n đổi
mơi
đăng tin rao bán với giá 500.000 đồng/gói. Đến khoảng 15 giờ 00 phút
ngày 02/01/2019, một người dùng tài khoản mang tên
So Phan
hỏi mua
Cần sa, D đồng ý bán cho người này hẹn địa điểm giao nhận tại cổng tòa nhà
Keangnam Landmark 72, đường Phạm Hùng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ
Liêm, thành phố Nội. D cho cả 02 túi nilông Cần sa vào trong túi đeo, thuê
xe ôm đi đến điểm hẹn. Đến khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 02/01/2019, tại khu
vực trước tòa nhà Keangnam Landmark 72, D vừa nhận 500.000 đồng (Bằng
chữ: Năm trăm nghìn đồng) của 01 nam thanh niên, chưa kịp đưa Cần sa cho
người đó thì btổ công tác Công an phường Mễ Trì kiểm tra bắt giữ, nam thanh
niên đó chạy thoát.
Tại quan điều tra, Bùi Hữu Tuấn D khai nhận hành vi phạm tội nêu
trên.
Đối với người đàn ông tên Tài người n ma túy Cần sa cho D (như D
khai). Quá trình điều tra xác định, việc mua n thực hiện qua mạng hội
Facebook, D khai không biết nhân thân, lai lịch chưa gặp người này lần nào.
Do đó, quan điều tra không n cứ để xử lý.
Đối với nam thanh niên mua ma túy của D, do không xác định được tên và
địa chnên Cơ quan điều tra kng có căn cứ để xử lý.
Bản Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 31/01/2019 của Viện kiểm sát nhân
quận Nam Từ Liêm, thành phố Nội, truy tố bị cáo Bùi Hữu Tuấn D về
tội:Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của
Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều luật quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến
07 năm.”
Tại phiên tòa:
Bcáo Bùi Hữu Tuấn D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình,
xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị
cáo về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251
của Bộ luật Hình sự năm 2015, là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại din Vin kim sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm
tội, đánh giá nhân thân của bị cáo kết luận giữ quan điểm như cáo trạng đã
truy tố đối với bị o Bùi Hữu Tuấn D về tội:Mua bán trái phép chất ma túy”
theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, là đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Bị cáo nhân thân tốt,
phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội, bị cáo tích cực hợp
tác với cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án, tại phiên tòa, bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s, t Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
năm 2015. của bị cáo được tặng danh hiệu: “Bà mẹ Việt Nam anh Hùng”,
nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm
2015. Bcáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình stheo quy định tại
Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, cũng có
tác dụng giáo dục bị cáo răn đe phòng ngừa chung. Đnghị mức hình phạt
đối với bị cáo Dũng từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo
sinh viên, không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, đề nghị không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Không; Về xử vật chứng:
Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm a, b
Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét
xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ: 02 phong niêm phong được làm
bằng giấy trắng đã được dán kín các mép. Trên mép dán chữ giáp lai của
giám định viên Phạm Đình Đạo, đồng chí Nguyễn Văn Tùng - cán bộ công an
phường Mễ Trì Bùi Hữu Tuấn D; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện
thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 u đen, bên trong gắn thẻ sim số
thuê bao 0964.271998, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội; Tịch thu,
nộp ngân sách Nhà Nước số tiền: 500.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm nghìn
đồng), là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị o tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị
cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng
cứ khác đã thu thập trong hồ vụ án, đủ sở kết luận: Ngày 02/01/2019
Bùi Hữu Tuấn D đã hành vi cất giấu 35,640 gam ma túy Cần sa nhằm mục
đích bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/01/2019, tại trước cổng tòa
nhà Keangnam Landmark 72, đường Phạm Hùng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ
Liêm, thành phố Nội, Bùi Hữu Tuấn D đang thực hiện hành vi bán trái phép
11,720 gam ma túy Cần sa cho một người đàn ông không quen biết thì bị tổ công
tácng an pờng Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Nội phát hiện, bắt
quả tang ng vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Dũng đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán
trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự
năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố
bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều
251 của Bộ luật hình sự năm 2015, là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội,
phù hợp pháp luật.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm phạm
đến những quy định của Nhà Nước về chế độ quản các chất ma túy. Bị cáo
thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức hành vi mua bán trái phép
chất ma túy nguy hiểm cho hội, nhưng vẫn thực hiện, vậy, bị cáo phải
chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Vnhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự, sau khi phạm
tội, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án, tại
phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s, t Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
năm 2015. Bà của bị cáo được tặng danh hiệu:“Bà mẹ Việt Nam anh Hùng”, nên
xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s theo quy
định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự
năm 2015.
[4] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội, hành vi phạm tội
của bị cáo là nghiêm trọng, được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng, loại
ma túy bị cáo mua bán, n cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị cáo, cần phải áp dụng mức hình phạt thời hạn, cách
ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới tác dụng giáo dục bị cáo răn đe
phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xem xét bị cáo trước khi phạm tội, bị cáo có nhân
thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội trong độ tuổi
còn sinh viên, Nên, áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, xem xét
giảm nhẹ một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015,
cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt của xã hội.
[5] Về đề nghcủa đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết ván:
Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối
với bị cáo ng từ 18 tháng đến 24 tháng , phù hợp với tính chất, mức độ
hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sinh viên, không nghề nghiệp,
không thu nhập ổn định, nên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị
cáo, như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa, là có căn cứ.
[7] Về dân sự: Không.
[8] Về xử vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình s
năm 2015; Khoản 1, Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015; Tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ: 02 phong niêm phong được
làm bằng giấy trắng đã được dán kín các mép. Trên mép dán chgiáp lai
của giám định viên Phạm Đình Đạo, đồng chí Nguyễn Văn Tùng - cán bộ công
an phường Mễ Trì Bùi Hữu Tuấn D; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01
điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu đen, bên trong gắn thẻ
sim số thuê bao 0964.271998, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội;
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền: 500.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm
nghìn đồng), tiền do bị cáo phạm tội , như đnghị của kiểm sát viên tại
phiên tòa, là có căn cứ.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra ng an quận
Nam TLiêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo
không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến
hành tố tụngngười tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Về án phí: B cáo phải chịu án phí hình s thẩm quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hữu Tuấn D phạm tội: Mua bán ti phép chất
ma y.
n c o Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 54; Điểm s, t Khoản 1
Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Hữu Tuấn D 18 (Mười tám) tháng . Thời hạn chấp
hành hình phạt tính từ ngày bắt thi nh án (Được trừ thời gian tạm giam từ
02/01/2019 đến ngày 31/01/2019).
Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm
a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Về xử lý vật chứng: Tch thu, tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong được làm
bằng giấy trắng đã được dán kín các mép. Trên mép dán chữ giáp lai của
giám định viên Phạm Đình Đạo, đồng chí Nguyễn Văn Tùng - cán bộ công an
phường Mễ Trì Bùi Hữu Tuấn Dũng. Tình trạng niêm phong n nguyên
vẹn; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Samsung Galaxy J7 màu đen, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0964.271998
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 88 ngày 19/02/2019, tại Chi cục Thi
hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội); Tịch thu, nộp ngân sách
Nhà Nước số tiền: 500.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm nghìn đồng) (Theo giấy
nộp tiền vào tài khoản, lập ngày 19/02/2019, tại: Kho bạc Nhà Nước Nam Từ
Liêm).
n cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Toà
án;
Về án phí: Bịo Dũng phi chịu 200.000 đồng (Bng ch: Hai trăm ngn
đồng) án phí Hình sự thẩm.
B cáo quyn kháng cáo bn án trong thời hn 15 ngày k t ngày
tuyên án.
Nơi nhận :
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự
quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
Tải về
Bản án số 49/2019/HS-ST Bản án số 49/2019/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất