Bản án số 48/2024/HS-PT ngày 23-01-2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM về về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 48/2024/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 48/2024/HS-PT ngày 23-01-2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM về về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội danh: 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 48/2024/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/01/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 48/2024/HS-PT
Ngày 23 01 2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đức Thọ
Bà Trần Thị Hòa Hiệp
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số
444/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Công M. Do
kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công M đối với Bản án Hình s thẩm số
218/2023/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Bị cáo kháng o, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Nguyễn
Công M; giới tính: Nam; sinh ngày 27/4/1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng
ký hộ khẩu thường trú: 173/14/117 K, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở: Số C đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt
Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: chạy xe
ôm; con ông: Nguyễn Công M1 và Thị S; Bị cáo chưa vợ, con; tiền án, tiền
sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2022 (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đoàn Trọng Nghĩa Luật của Văn
phòng luật sư Đoàn Trọng N thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 25 phút ngày 11/7/2022, tại trước nhà không số, tổ A, ấp
D, V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội
phạm về ma túy Công an huyện B Công an V, huyện B phát hiện Nguyễn Công
M đang điều khiển xe gắn máy biển số 54M3-8713 biểu hiện nghi vấn nên tiến
2
hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên móc bên trái xe gắn máy M điều khiển
01 bịch nylon màu đỏ, bên trong 01 thùng xốp đựng 02 gói nylon chứa tinh thể
không màu và trong cốp xe có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu (kết quả giám
định là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 1.398,56 gam loại Methamphetamine).
Sau đó, tổ công tác đưa M về trụ sở công an lập biên bản bắt người phạm tội
quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên, ngoài ra còn thu giữ của M: 01 điện
thoại di động, 01 túi đeo màu đen và 01 xe gắn máy biển số 54M3-8713.
Khám xét khẩn cấp chỗ của Nguyễn Công M tại 3 T, phường H, quận T,
Thành phố Hồ Chí Minh, Công an không thu giữ vật chứng liên quan đến ma túy.
Số ma túy bị thu giữ đã được giám định, kết quả thể hiện tại Bản kết luận giám
định số 4011/KL-KTHS ngày 20/7/2022 của Phòng K1 Công an Thành phố H.
Quá trình điều tra Nguyễn Công M khai nhận:
Thông qua bạn giới thiệu, M quen biết với một người phụ nữ tên N1 (không
lai lịch) P, qua nói chuyện thì N1 bảo M đi nhận giúp N1 thùng hàng gửi tP
về Thành phố Hồ Chí Minh rồi giao cho khách của N1, xong việc thì người nhận sẽ
trả công cho M từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nên M đồng ý. Khoảng tháng
5/2022, N1 gọi điện nói M đến chành xe T, Quận A nhận 01 thùng xốp rồi đem về
nhà M cất giấu đợi khi nào N1 gọi điện thì M đem giao cho khách, M đến chành xe
Trần Q nhận thùng xốp đem về nrồi mở ra xem thì thấy bên trong04 gói ma
túy đá. Sau đó, thấy lâu ngày N1 không gọi điện nên M đã lấy một ít ma túy đá sử
dụng thử M lấy bán cho người nghiện khu vực phường B, quận B 01 gói ma
túy đá (không số lượng) giá 2.000.000 đồng. Đến tháng 7/2022, M vẫn không
thấy N1 gọi điện nên quyết định bán số ma túy trên để lấy tiền tiêu xài. Ngày
11/7/2022, M đi xe gắn máy đem theo toàn bộ 04 gói ma túy đá (1.398,56 gam loại
Methamphetamine) đến khu vực huyện B để bán cho người nghiện nhưng chưa kịp
bán thì bị công an phát hiện bắt giữ như nêu trên.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói niêm phong ghi vụ số 4011, bên ngoài chữ của Điều tra viên
Nguyễn Phi K và Giám định viên Nguyễn Thanh Đ, bên trong là ma túy còn lại sau
giám định;
- 01 ĐTDĐ Huawei, 01 thùng xốp, 01 túi nylon màu đỏ, 01 túi đeo màu đen
có ghi chữ Jeep, 01 túi nylon màu vàng có ghi chữ Guanyinwang, 01 áo mưa;
- 01 xe gắn máy biển số 54M3-8713, hiệu Honda Wave RSX. Kết quả xác
minh xe gắn máy trên do ông Nguyễn Công M1 (cha ruột của Nguyễn Công M)
đứng tên chủ sở hữu. Ông M1 khai xe do ông làm chủ sở hữu và sử dụng từ tháng
5/2022. Ông M1 cho M mượn để chạy xe ôm công nghệ, việc M sử dụng xe vào việc
mua bán ma y tông M1 không biết. Bị can M khai nhận phù hợp với lời khai
của ông M1 nên ngày 28/9/2022, C điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại
xe gắn máy biển số 54M3-8713 cho ông Nguyễn Công M1.
3
Tại Bản cáo trạng số 176/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 27/3/2023, Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Công M về tội “Mua bán
trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015
sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Bản án Hình sự thẩm số 218/2023/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2023
của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình
sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công M thình về tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan án phí, các biện
pháp tư pháp, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, bị cáo Nguyễn Công M làm đơn kháng cáo, nêu
lý do: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo tử hình là quá nặng, xin được xem xét lại vụ án
và giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Công M ginguyên yêu cầu kháng cáo, lập luận rằng bị
cáo vận chuyển ma túy giao cho người khác huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh,
trên đường đi thì bị bắt chứ chưa biết bán cho ai. Bị cáo xác định mình không bị cơ
quan tiến hành tố tụng bức cung, móm cung, nhục hình nhưng do tâm lý lo sợ liên
lụy người nhà nên bcáo những lời khai tại quan điều tra đem ma túy đi bán.
Thực tế, bị cáo đang vận chuyển ma túy cho đối tượng tên N1 đến huyện B tbị
bắt. Cơ quan điều tra không chứng minh được người bị cáo bán ma túy nên trường
hợp này bị cáo chỉ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng
xét xử chuyển tội danh từ tội “Mua bán trái phép chất ma túysang tội “Vận chuyển
trái phép chất ma túy”, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ tử nh sang hình phạt
tù có thời hạn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm
đã thực hiện đầy đủ theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi,
bổ sung năm 2017), những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.
Về nội dung: Việc xét xử của Tòa án cấp thẩm xác định bị cáo phạm tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” đúng người, đúng tội, không oan. Xét thấy tại
phiên tòa bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ nào
đặc biệt mới. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356
của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáogiữ nguyên
Bản án sơ thẩm.
4
Luật bào chữa cho bị cáo ý kiến tranh luận: Lúc đầu bị cáo kháng cáo
đề nghị xem xét về tội danh, nhưng qua việc hỏi và giải thích pháp luật của Luật sư
thì bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài những tình tiết giảm nhẹ như Tòa án cấp
thẩm nhận định, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết như hoàn cảnh
gia đình bị cáo khó khăn; lần đầu phạm tội; số lượng ma túy đã được ngăn chặn kịp
thời; bị cáo khả năng cải tạo được nên đề nghị Hội đồng xét xgiảm mức hình
phạt từ tử hình xuống hình phạt tù có thời hạn.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thống nhất với lời bào chữa của Luật sư,
xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử thẩm, ngày 17/5/2023 bị cáo
Nguyễn Công M có làm đơn kháng cáo có xác nhận của BCH Đội 5, Trại tạm giam
Chí Hòa ngày 18/5/2023. Xét đơn kháng cáo của bị cáo làm nộp trong thời hạn
luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại các Điều 331,
Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản cáo
trạng đã truy tố bản án sơ thẩm đã quy kết, trình bày của bị cáo phù hợp với các
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thể hiện như sau:
Khoảng tháng 5/2022, bị cáo nhận được thùng xốp do đối tượng tên N1 gửi
cho bị cáo tại chành xe T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, khi bcáo kiểm tra phát
hiện bên trong có 04 gói ma túy đá, do lâu ngày thấy N1 không gọi điện, bị cáo cần
tiền tiêu xài nhân, nên đã trực tiếp liên hệ với các đối tượng nghiện để bán ma túy
kiếm lời. Khoảng 16 giờ 25 phút ngày 11/7/2022, khi M đang điều khiển xe gắn máy
đến trước nhà không số, tổ A, ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để bán
ma túy cho người nghiện thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm vma túy Công an
huyện B Công an V, huyện B phát hiện bắt quả tang, thu giữ 1.398,56 gam
loại Methamphetamine. Đối với người phụ nữ tên N1 do bị cáo khai không họ
tên, địa chỉ, thông tin liên hệ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ
để xử lý.
[2.2] Bị cáo cho rằng chỉ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” chưa
xác định được bị cáo bán cho người nào thì bị bắt và thật sự bị cáo đang đi giao ma
túy cho N1 đhưởng tiền công. Hội đồng xét xử xét thấy tại Biên bản bắt người
phạm tội quả tang (bút lục số 21), các biên bản ghi lời khai bị cáo tại quan điều
tra, Bản tự khai/Bản tường trình (bút lục số 60) bị cáo đã khai nhận bị cáo quen biết
đối tượng tên N1 từ trước, nhiều lần vận chuyển ma túy cho N1 vào Thành phố Hồ
Chí Minh để bán cho con nghiện. Khi đối tượng tên N1 không liên lạc với bị cáo
trong lần này thì bị cáo tự ý lấy một phần trong 04 gói ma túy để bán cho con nghiện
5
với giá hai triệu đồng. Đến ngày 11/7/2022 thì bị cáo đem toàn bộ số ma túy đá tìm
đối tượng để bán lấy tiền tiêu xài. Như vậy, có căn cứ xác định ý thức của bị cáo là
bán ma túy nhưng chưa bán được thì bị bắt.
[2.3] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử sở kết luận: Hành vi của bị cáo
Nguyễn Công M đã đyếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội
phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp thẩm
xét xử bị cáo M theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự
tại địa phương, xâm phạm hoạt động của Nhà nước trong việc quản lý và kiểm soát
các chất ma túy, thế cần thiết phải xnghiêm để răn đe giáo dục bị cáo đồng
thời làm gương cho người khác. Số lượng ma túy rất lớn lên đến 1.398,56 gam loại
Methamphetamine. Do đó, Tòa án cấp thẩm tuyên phạt bị cáo tử hình tương
xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đã có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như
bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được pháp luật quy định tại điểm s khoản
1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Tại phiên a phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được
tài liệu chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu của mình nên không sở
chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Xét đnghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp
nhận nên bị cáo phải chịu theo luật định.
[6] Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công M về việc xin
giảm nhẹ hình phạt.
Giữ nguyên Bản án Hình sthẩm số 218/2023/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm
2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công M phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma
túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công M thình về tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
6
Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, bị cáo Nguyễn
Công M được gửi đơn lên Chủ tịch N2 để xin ân giảm án tử hình.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Công M chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
3. Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Toà án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND TP.HCM;
- Công an TP.HCM;
- Trại tạm giam TP. HCM;
- Cục THADS TP.HCM;
- Sở Tư pháp TP.HCM;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu VP; HSVA; NVK.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Hồ Tâm
Tải về
48-2024-HS-PT-CAP-CAO-TPHCM 48-2024-HS-PT-CAP-CAO-TPHCM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất