Bản án số 48/2019/HSST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 48/2019/HSST

Tên Bản án: Bản án số 48/2019/HSST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Nghĩa Đàn (TAND tỉnh Nghệ An)
Số hiệu: 48/2019/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA Đ
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 48/2019/HSST
Ngày: 23/9/2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA Đ - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lƣơng Anh Xuân.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Sỹ Hùng.
Ông Nguyễn Công Từ.
- Thư Toà án ghi biên bản phiên toà: Hoàng Thị Lan Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên
toà: Ông Hoàng Bá Thọ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2019 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa
Đ, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩmng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ số:
45/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
46/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn S n gọi khác: Không. Sinh ngày 27 tháng 8 năm 198..; Nơi
ĐKNKTT và chổ ở hiên nay: xóm N, xã Nghĩa T, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quốc Kh - sinh năm 1953 Nguyễn Thị T
sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Thị H sinh năm 1991, hiện đang đi xuất khẩu lao động
tại Đài Loan; con: có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm
giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Công Đ Tên gọi khác: đen. Sinh ngày 08 tháng 3 năm 199..; Nơi
ĐKNKTT và chổ ở hiên nay: xóm N, xã Nghĩa T, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Quốc
tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công Kh- sinh năm 1965 Hoàng Thị Tr sinh
năm 1965; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án: Vào ngày
29/6/2018 bTòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xử phạt 09 tháng cải tạo không giam
giữ về tội “Đánh bạc”, đến nay chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam
từ ngày 15/5/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2
3. Trần Văn Th Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 10 tháng 9 năm 198..; Nơi
ĐKNKTT chổ hiên nay: xóm M, Nghĩa M, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc H (đã chết) Thị H– sinh
năm 1950; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2006 bị Tòa án
nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp tài sản”, đến nay đã được xóa
án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2019 đến nay. mặt tại phiên
tòa.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Văn S: Luật Hoàng Trọng Đ sinh năm
1958. Công tác tại: Văn phòng luật sư Thành Điệp và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh
Nghệ An. Có mặt.
- Ngƣời bị hại:
1. Chị Lê Thị O sinh năm 1969.
Địa chỉ: xóm C, xã nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Thế Th sinh năm 1968.
Địa chỉ: xóm B, xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
3. Anh Nguyễn Văn ThA sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số 2, Trần Ph, Ba Đ, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Bùi Văn ThB sinh năm 1982.
Địa chỉ: xóm Q, xã Tam H, huyện Quỳ H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2. Anh Trần Văn ThC sinh năm 1972.
Địa chỉ: xóm T, xã Tam H, huyện Quỳ H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 14/5/2019, Văn Sỹ đi nhờ xe máy của người đi đường lên khu
vực ngã ba săng l, Tam H, huyện QuH để m mua ma túy. Đến nơi, S gặp một
người đàn ông giới thiệu tên Thiệu, khoảng 50 tuổi, cao 1,65m, người gầy, da ngăm
đen. Qua nói chuyện S biết người này ma y để bán nên đã hỏi mua ma y
(Hêrôin) thì người này đồng ý bán. Văn S đưa cho người đàn ông tên Thiệu số tiền
900.000 đồng thì người đàn ông này đưa lại cho S một gói ma túy (Hêrôin) được bọc
bằng mảnh giấy màu trắng. Mua xong, S cất gói ma túy vừa mua được vào người rồi
xin đi nhờ xe máy về xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ. Khi về đến nhà S lấy một ít ma túy
ra để sử dụng, số ma túy còn lại S cất dấu trong túi quần của mình để sử dụng dần, nếu
người hỏi mua thì bán. Nguyễn Công Đ là người nghiện ma túy, thường xuyên mua
ma túy về sử dụng để thỏa mãn con nghiện của bạn thân. Quá trình tìm mua ma túy thì
3
Đ biết S ma túy (Hêrôin) để bán. Nên khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 15/5/2019, Đ
ng số điện thoại 0978.196.843 gọi điện đến số điện thoại 0983.509.409 của Văn
S hỏi S “Anh Hêrôin đó không bán cho em ba trăm” thì S trả lời “Có, đến
lấy”. Sau đó, Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter mang biển kiểm soát
37G1 543.40 đi đến nhà của S xóm N, Nghĩa Th thì Đ dựng xe máy đứng bên
ngoài bờ tường rào cạnh sân, S đứng bên trong sân, Đ đưa cho S số tiền 300.000 đồng,
S lấy một phần ma túy trong số ma túy (Hêrôin) còn lại mua ở ngã ba Săng lẻ bọc bằng
mảnh giấy do S xé ra từ tờ lịch đưa lại cho Đ. Đ cầm gói ma túy vào lòng bàn tay phải,
rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Sau khi bán ma túy cho Đ, còn lại một ít ma
túy (Hêrôin) thì S sử dụng hết. Đến 09 giờ 10 phút cùng ngày, khi Đ đang điểu khiển
xe máy đi đến đoạn đường thuộc xóm Hồng T, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đ theo hướng
xã Nghĩa H lên xã Nghĩa M thì bị tổ công tác Công an huyện Nghĩa Đ ra tín hiệu dừng
xe kiểm tra, sợ bị phát hiện đang tàng trữ ma túy nên Đ đã vứt xe máy cạnh mép đường
rồi bỏ chạy về phía bên trái theo hướng đi của Đ, chạy được khoảng 25 mét thì vứt gói
ma túy đang cầm trong lòng bàn tay phải xuống mép đường cạnh cao su, Đ tiếp tục
chạy thì bị tổ công tác Công an huyện Nghĩa Đ bắt giữ và truy tìm thu giữ được gói ma
y Đ vứt xuống mép đường.
Sau khi bị bắt, Đ khai nhận gói chất bột màu trắng lực lượng công an huyện
Nghĩa Đ thu giữ mép đường cách vị trí Đ bị bắt khoảng 02 mét ma túy của Đ mới
mua của Lê Văn S với giá 300.000 đồng về để sử dụng cho bản thân.
Căn cứ vào tài liệu thu thập được, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa
Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp người nơi đối với Văn S phát hiện thu
giữ thêm một xi lanh y tế bằng nhựa màu trắng dài 12,5cm, đã qua sử dụng; một mảnh
giấy lịch đã bị xé góc; số tiền 300.000 đồng; một chiếc điện thoại nhãn hiệu oppo A3S,
võ màu đen có gắn sim Viettel số thuê bao 0983.509.409 bên trong, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, S thừa nhận đã bán cho Đ một gói ma túy (Hêrôin) với giá
300.000 đồng, gồm ba tờ mệnh giá 100.000 đồng công an thu giữ trên người S;
mảnh giấy gói ma túy bán cho Đ được S ra từ tờ lịch mà Công an thu giữ tại nhà S;
chiếc điện thoại nhãn hiệu oppo A3S, màu đen gắn sim Viettel số thuê bao
0983.509.409 bên trong chính chiếc điện thoại S sử dụng để liên lạc trao đổi mua
bán ma túy với Đ.
Ngày 16/05/2019 cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đ đã lấy mẫu vật thu giữ
của Nguyễn ng Đ trung cầu Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An giám
định. Tại bản kết luận giám định số 764/KL-PC09(MT) ngày 18/05/2019 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận mẫu chất bột màu trắng thu giữ của
Nguyễn Công Đ gửi tới giám định chất ma túy (Hêrôin), tổng khối lượng là 0,15
gam.
4
Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy trên, trong quá trình điều tra, Lê Văn
S còn khai nhận đã cùng với Trần Văn Th xóm M, xã Nghĩa M, huyện Nghĩa Đ thực
hiện ba hành vi trộm cắp tài sản là 03 chiếc xe máy tại Nghĩa L và Nghĩa Th, huyện
Nghĩa Đ vào thời gian cuối tháng 7/2018 đến tháng 8/2018, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào chiều ngày 20/7/2018, Trần Văn Th rủ S đi trộm cắp xe máy thì
S đồng ý, Th người chuẩn bị vam phá khóa, S mượn chiếc xe máy chLê Thị H (em
gái S) chở Th đi trộm cắp xe máy. Khi STh đi xe qua nhà văn hóa xóm Cuồn Đ, xã
Nghĩa L thì thấy trước sân dựng nhiều xe máy mà không có ai trông coi, quản lý. Thấy
vậy, S và Th dừng xe máy lại, Th đi bộ lại gần chiếc xe máy Sirius màu đỏ, đen, bin
kiểm soát 37G1-550.12 đang dựng gần đường, rồi dừng vam phá khóa trộm chiếc xe
máy này, còn S đứng ngoài cảnh giới. Sau khi lấy trộm xe xong, STh đưa xe vào lô
cao su rồi Th tháo biển số xe máy vừa trộm được ra cất vào cốp xe của S để tránh b
phát hiện. Sau đó S rủ Th điều khiển xe máy lên nhà người quen của S là anh Trần Văn
ThC xã Tam H, huyện Quỳ H vay của ThC 4.000.000 đồng để chiếc xe mới trộm
được lại làm tin.
Vụ thứ hai: Vào chiều ngày 26/7/2018, Trần Văn Th đang nhà Văn S tTh
rủ S đi kiếm xe máy để trộm lấy tiền tiêu xài thì S đồng ý, nhưng do gần nhà S sợ bị
phát hiện nên không muốn trực tiếp đi trộm xe máy, S bảo Th S nhà chờ, khi nào
trộm được xe thì cùng nhau đi tiêu thụ. Sau đó, Th đi bộ từ nhà S về phía chợ xã Nghĩa
Th tìm kiếm xe máy sơ hở để lấy trộm, đi được một đoạn thì Th phát hiện có một chiếc
xe máy Wave α màu sơn trắng đen mang biển kiểm soát 37G1-595.52 xung quanh
không có ai trông coi, quản lý. Th sử dụng chiếc vam phá khóa đã chuẩn bị từ trước bẻ
khóa chiếc xe máy này, rồi điều khiển xe đi về nhà S nói với S: “Tôi nhảy được xe
đây rồi, cậu chổ bán ta đưa đi bán” thì S đồng ý. Sau đó Th điều khiển xe máy
mới trộm được đi trước, S đi xe máy mượn e gái đi theo sau, khi đi đến lô cao su thuộc
xóm P, Nghĩa Th thì Th tháo biển số xe mới trộm được ra vứt đi, thay biển số xe
trộm được lần trước (37G1-550.12) vào. Sau đó S rủ Th đi đến nhà người quen S
anh Bùi Văn ThB Tam H, huyện Quỳ H hỏi vay anh ThB 4.000.000 đồng để
lại chiếc xe máy mới trộm được làm tin.
Vụ thứ ba: Vào trưa ngày 07/8/2018, Th rủ S đi trộm xe máy lấy tiền tiêu xài thì S
đồng ý. Th người chuẩn bị vam phá khóa, S dùng chiếc xe máy mượn em gái chở Th
đi trộm cắp, khi đi đến khu vực xóm K, xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đà thì thấy có chiếc
xe máy Weve α, màu sơn trắng, bạc, đen, biển kiểm soát 36B4-192.30 đang dựng gần
rạp đám cưới, xung quanh không ai trông coi, quản lý. Th S thống nhất lấy trộm
chiếc xe này nên đã dừng xe lại, Th xuống xe đi bộ lại gần xe máy và sử dụng vam phá
khóa đã chuẩn bị từ trước để phá khóa, S đứng cảnh giới. Sau khi lấy trộm được xe thì
Th S điều khiển xe máy lên khu vực ngã ba săng lẻ, Tam H, huyện Quỳ H bán
cho người đàn ông không quen biết giới thiệu tên Bình với giá 4.000.000 đồng. Toàn
5
bộ số tiền Th S bán ba chiếc xe máy đã trộm cắp được thì S Th đã sdụng, tiêu
xài hết vào mục đích cá nhân.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, quan điều tra Công an huyện
Nghĩa Đ đã ra lệnh giữ, bắt người bị gi trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Văn
Th, sinh năm 1988, trú tại xóm M, Nghĩa M, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An. Q
trình điều tra, Trần Văn Th cũng đã khai nhận các lần trộm cắp tài sản với Văn S
như S khai trên. quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đ đã truy thu được chiếc xe
máy Sirius màu đỏ, đen, biển kiểm soát 37G1-550.12 của Thị O xe máy Wave α
màu sơn trắng, đen, biển kiểm soát 37G1-595.52 của anh Nguyễn Thế Th và đã trả cho
chủ sở hữu.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 33/KLĐG ngày 23/5/2019 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nghĩa Đ kết luận:
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đỏ đen, Biển kiểm
soát 37G1-550.12, số khung RLCS5C6K0DY131555, số máy 5C6K131554, xe đã qua
sử dụng có giá trị vào tháng 7/2018 là 15.000.000 đồng.
- 01 chiếc xe nhãn hiệu Honda, loại xe Wave α, màu sơn trắng đen, Biển kiểm
soát 37G1-595.52, số khung RLHHC1210DY466055, số máy HC12E5466224, xe đã
qua sử dụng, có giá trị vào tháng 7/2018 là 14.000.000 đồng.
- 01 chiếc xe nhãn hiệu Honda, loại xe Wave α, màu sơn trắng, bạc, đen, Biển
kiểm soát 36B4-192.30, số khung RLHHC1216DY515095, số máy HC12E5514784,
xe đã qua sử dụng, có giá trị vào tháng 8/2018 là 14.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 46/CT-VKS - HS ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Nghĩa Đ truy tố bị cáo Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma
túy và “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 251 và khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự;
truy tố bị cáo Nguyễn Công Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma y” theo khoản 1
điều 249 Bộ luật hình sự truy tố bị cáo Trần Văn Th vtội “Trộm cắp tài sản” theo
khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với người đàn ông n Thiệu bán ma túy cho Văn S người đàn ông tên
Bình đã mua chiếc xe máy Wave α màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 36B4-
192.30 của Th S trộm cắp của anh Nguyễn Văn ThA, quan điều tra chưa xác
định được lai lịch, sau nay xác định được địa chỉ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viên kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố
các bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 251, khoản 1
điều 173, điểm b (đối với tội Trộm cắp tài sản), s khoản 1, 2 điều 51, điểm g khoản 1
điều 52 Bộ luật hình sự, xphạt: bị cáo Văn S từ 24 đến 26 tháng về tội “Mua
bán trái phép chất ma túy” từ 09 đến 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng
hợp chung cả hai tội từ 33 đến 38 tháng tù; áp dung khoản 1 điều 249, điểm s khoản
6
1,2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ từ
15 đến 18 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với bản án số
32/2018/HSST ngày 29/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đ, bị cáo còn phải
chấp hành 06 ngày cải tạo không giam givề tội “Đánh bạc” bằng 02 ngày . Buộc bị
cáo Nguyễn Công Đ phải chấp hành chung hình phạt hai bản án là 15 tháng 02 ngày tù
đến 18 tháng 02 ngày tù; áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1 điều 51, điểm g
khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Th từ 15 đến 18 tháng về
tội “Trộm cắp tài sản”.
-Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
ngàn đồng), 01 chiếc điện thoại Oppo A3S màu đen thu giữ của Văn S và 01
chiếc điện thoại nhãn hiệu Mobile Stas màu trắng; một chiếc xe máy nhãn hiệu
Yamaha, loại xe Exciter màu xanh, trắng, biển kiểm soát 37G1-543.40 thu giữ của
Nguyễn Công Đ. Tịch thu tiêu hủy sma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Công Đ còn
lại sau giám định; 01 mảnh giấy lịch đã bị góc, 01 xi lanh y tế bàng nhựa, màu
trắng, dài 12,5cm, đã qua sử dụng.
-Về án phí. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhhình phạt cho các bị cáo để sớm được trở v
với gia đình và xã hội.
Người bào chữa cho bị cáo Văn S trình bày như sau: Nhất trí với nội dung v
án tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố. Đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thật thà khai báo, ăn
năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (về tội trộm
cắp tài sản), bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, trước khi
phạm tội bị cáo đã có hành động dũng cảm, quên đi tính mạng của mình để băng mình
xuống dòng sông để cứu một người đang bnước cuốn trôi không bị chết đuối hành
vi lập công lớn, hành vi mua ma túy của Văn S đưa về sử dụng cho bản thân,
nhưng do nể tình Nguyễn Công Đ nên S mới bán cho Đ một ít mà bị o S không nhận
thức được đó là hành vi phạm tội, do đó hành vi bán ma túy của S thuộc trường hợp
phạm tội do lạc hậu”. Ngoài ra bị cáo Lê Văn S còn có các tình tiết giảm nhẹ quy định
tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự như hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn đang
phụ thuộc vào ông nội ngoại, phạm tội trộm cắp tài sản không phải là người chủ
mưu, cầm đầu. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt
đối với Lê Văn S 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy06 tháng tù v
7
tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội đối với Lê Văn S là 30
tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đ,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đ, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo
không ý kiến hoặc khiếu nại vhành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng,
biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định:
Vào trưa ngày 14/5/2019, Lê Văn S đi lên nba Săng lẻ, thuộc xã Tam H, huyện Quỳ
H mua của một người đàn ông không quen biết, tên Thiệu một gói Hêrôin với g
900.000 đồng. Mua xong S đi về nhà cất gói Hêrôin để sử dụng dần ai hỏi mua thì
bán kiếm lời. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/5/2019, Nguyễn Công Đ liên lạc qua
điện thoại với Lê Văn S để hỏi mua Hêrôin thì S đồng ý bán cho Đ. Đ đến nhà S ở xóm
N, Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ đưa cho S 300.000 đồng thì S đưa cho Đ 01 gói
Hêrôin, Đ cầm lấy đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đường thuộc khu vực xóm Hồng
T, Nghĩa H, huyện Nghĩa Đ thì bị công an huyện Nghĩa Đ kiểm tra, bắt quả tang
Nguyễn Công Đ hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam ma túy (Hêrôin) nhằm mục
đích để sử dụng.
Quá trình điều tra Lê Văn S khai nhận thêm đã cùng với Trần Văn Th thực hiện ba
hành vi trộm cắp xe máy trên địa bàn xã Nghĩa Th và Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ vào các
ngày như sau: Vào chiều ngày 20/7/2018, Th S đi đến nhà văn hóa xóm Cuồn Đ, xã
Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ lấy trộm chiếc xe máy Sirius màu đỏ đen của chị Thị O,
đưa đi lên nhà anh Trần Văn ThC Tam H, huyện Quỳ H hỏi vay anh ThC
4.000.000 đồng và để chiếc xe máy mới trộm được lại làm tin. Tiếp đến, ngày
26/7/2018, Th rủ S đi trộm xe máy thì S đồng ý, nhưng do gần nS nên S bảo Th đi
trộm, lấy được xe về cùng đi bán. Th đi bộ từ nhà S sang phía chợ xã Nghĩa Th, huyện
Nghĩa Đ thì thấy xe Waveα màu trắng đen của anh Nguyễn Thế Th không ai trông
coi nên Th đến phá khóa lấy trộm xe đi về nS. Sau đó, Th S tháo biển số rồi đi
lên nhà anh Bùi Văn ThB Tam h, huyện Quỳ H hỏi vay anh ThB 4.000.000 đồng
và để chiếc xe mới trộm được lại làm tin. Tiếp đến vào trưa ngày 07/8/2018, Th S đi
đến xóm K, xã Nghĩa Th lấy trộm xe máy Waveα màu trắng, đen, bạc của anh Nguyễn
8
Văn ThA, đưa đến khu vực ngã ba sang lẻ, xã Tam H, huyện Quỳ H bán cho một người
đàn ông không quen biết với giá 4.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền ThàS bán xe máy
trộm được hai bị cáo tiêu xài nhân hết. Tng giá trị tài sản Văn S Trần
Văn Th chiếm đoạt là 43.000.000 đồng.
Như vậy Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận bị cáo Văn S phạm tội Mua bán
trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 251 và khoản 1 điều
173 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài
sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự căn cứ pháp luật. Đúng như bản cáo
trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo.
Hành vi của các bị cáo Văn S và Nguyễn ng Đ nguy hiểm cho hội
không những đã xâm phạm đến chính sách quản Nhà nước về các chất ma y. Các
bị cáo ý thức được việc mua bán, tàng trữ sử dụng trái phép chất ma y bị pháp
luật nghiêm cấm, gây tác hại xấu đến sức khỏe, làm suy thoái đạo đức, phát sinh các tệ
nạn xã hội. Bị cáo Lê Văn S Trần Văn Th ý thức được tài sản của người khác là bất
khả xâm phạm, nhưng do thiếu rèn luyện động vụ lợi muốn tiền tiêu xài cho
bản thân và chơi bời nên đã đẩy các bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi đó đã trực
tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chị Thị O, anh Trần Thế Th anh
Nguyễn Văn ThA. Hành vi của các bcáo gây mất an ninh trật tự tại địa phương, y
tâm hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, do đó cần xét xử nghiêm đối
với các bị cáo để phòng ngừa chung.
Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có đồng phạm về tội trộm cắp tài
sản, bcáo Trần Văn Th vừa người rủ rê, chuẩn bị công cụ và thực hiện hành vi vào
lấy trộm ba chiếc xe máy nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án trộm cắp tài sản.
Sau đó đến bị cáo Văn S người tham gia tích cực trong vụ án nên chịu trách
nhiệm thấp n bị cáo Th.
[3] nh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bcáo Nguyễn Công Đ một tiền
án. Ngày 29/6/2018 Nguyễn Công Đ bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đ xử phạt 09
tháng cải tạo không giam giữ tội “Đánh bạc”, chưa chấp hành xong hình phạt, chưa
được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội do cố ý, là tình tiết tăng nặng tái phạm quy định
tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lê Văn S và Trần Văn Th phạm tội
hai lần trở lên tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình
sự.
[4] nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra tại phiên
tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ
được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, Bị cáo S Th đã tác động
gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên tội trộm cắp tài sản được
9
hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bcáo S
Đ bố ông nội người công với cách mạng được nnước tặng thưởng
Huân, huy chương; bị cáo S hành động dũng cảm cứu một người bị nước cuốn trôi
không bị chết đuối, đó các tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 điều
51- Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình strên sở cân nhắc
tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra kết
hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, cần áp dụng hình
phạt tù, thời hạn đối với các bị cáo cách ly các bị cáo ra khỏi hội một thời
gian, mới có đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không
công việc ổn định, thu nhập thấp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung
bằng tiền đối với các bị cáo.
[6] Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục tạm giam các bcáo để đảm bảo cho
việc thi hành án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Thị O anh Nguyễn Thế Th đã nhận lại xe
máy bị mất, anh Nguyễn Văn ThA đã được bị cáo S Th bồi thường cho chiếc xe
máy bị mất số tiền 13.000.000 đồng. Chị O, anh Nguyễn Thế Th Nguyễn Văn ThA
không yêu cầu bị cáo S Th bồi thường thiệt hại thêm về phần dân sự. Anh Trần
Văn ThC Bùi Văn ThB không yêu cầu bị cáo S Th bồi thường thiệt hại gì, nên
Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với sma túy thu giữ của bị o
Nguyễn Công Đ còn lại sau giám định; 01 mảnh giấy lịch và 01 xi lanh y tế bằng nhựa
màu trắng đã qua sử dụng thu giữ tại nVăn S. Tuyên n đấu giá nộp ngân sách
Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Oppo A3S, điện thoại màu đen, gắn sim
Viettel số thuê bao 0983509409 đã qua sử dụng thu giữ của Văn S; 01 chiếc điện
thoại Mobile Stas vỏ màu xám, viền máy màu trắng, gắn sim Viettel số thuê bao
0978196843 đã qua sử dụng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter
màu xanh, trắng, biển kiểm soát 37G1-543.40 thu giữ của Nguyễn Công Đ. Tịch thu
nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn S.
[9] Về án p: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 điều 173; điểm b (đối với tội trộm cắp tài
sản), s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 điều 55 - Bộ luật hình
10
sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp
tài sản”.
Xử phạt: B cáo Văn S 24 (Hai mươi bốn) tháng về tội Mua bán trái
phép chất ma túy” 07 (bảy) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt
chung cả hai tội buộc bị cáo Lê Văn S phải chấp hành 31 (Ba mươi mốt) tháng tù. Thời
gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/5/2019.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản
1 điều 52; điều 38; điều 55 và điều 56 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công
Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: B cáo Nguyễn Công Đ 15 (Mười lăm) tháng tù. Tổng hợp với bản án
số 32/2018/HSST ngày 29/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, bị cáo còn
phải chấp hành 06 ngày cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” bằng 02 ngày tù.
Buộc bị cáo Nguyễn Công Đ phải chấp hành chung hình phạt hai bản án là 15 tháng 02
ngày tù.Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam
ngày 15/5/2019.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 điều
52 điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài
sản”.
Xử phạt: B cáo Trần Văn Th 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình
phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/5/2019.
* Về xử vật chứng: - Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định thu giữ của bị cáo Nguyễn Công
Đ; 01 mảnh giấy lịch và 01 xi lanh y tế bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng thu giữ tại
nhà Văn S. Tịch thu bán đấu giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di
động Oppo A3S, điện thoại màu đen, gắn sim Viettel số thuê bao 0983509409 đã
qua sdụng thu giữ của Văn S; 01 chiếc điện thoại Mobile Stas vỏ màu xám,
viền máy màu trắng, gắn sim Viettel số thuê bao 0978196843 đã qua sử dụng 01
chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter màu xanh, trắng, biển kiểm soát
37G1-543.40 thu giữ của Nguyễn Công Đ. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước stiền
300.000 đồng thu giữ của bị cáo Văn S. (chi tiết được thể hiện tại biên bản giao,
nhận vật chứng, tài sản ngày 16/8/2019 của Chi cục Thi hành án n sự huyện Nghĩa
Đ).
*Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ
11
phí Tòa án. Buộc các bị cáo Văn S, Nguyễn Công Đ Trần Văn Th mỗi bị cáo
phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai thẩm mặt các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày, ktngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận
được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
- VKSND huyện Nghĩa Đàn;
- Công an huyện Nghĩa Đàn;
- Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn;
- UBND cấp xã nơi b/c cư trú;
- Lưu HS.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lƣơng Anh Xuân
Tải về
Bản án số 48/2019/HSST Bản án số 48/2019/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất