Bản án số 47/2020/HS-ST ngày 22/12/2020 của TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2020/HS-ST ngày 22/12/2020 của TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Điện Biên Đông (TAND tỉnh Điện Biên)
Số hiệu: 47/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/12/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ B
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 47/2020/HS- ST
Ngày: 22/12/2020.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên t: Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Thƣơng.
Ông Lò Văn Ơn.
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư Toà án nhân
dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên tham gia
phiên toà: Nguyễn Thị Mai- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện
Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2020/TLST-
HS ngày 18 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
46/2020/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 12 năm 2020 đối với Bị cáo:
Họ n: Lƣờng Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm:1988, tại Điện
Biên; Nơi trú: Bản L C, N S, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp:
Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn N- sinh năm 1955; con bà:
Thị M- sinh năm 1959; Năm 2006 Bị cáo sinh sống như vợ chồng với Lường Thị
H bản L C, xã N S, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên đến năm 2010 thì không chung
sống với nhau nữa và có 02 người con chung; con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh
năm 2009. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm
hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.
Bị cáo bị áp dụng biện pp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ B
từ ngày 10/10/2020 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
2
Khoảng 07 giờ, ngày 10/10/2020, Lường Văn T đi bộ từ nhà ở Bản L C, xã N
S, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên cầm theo 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng với
mục đích đi tìm mua Heroine để sử dụng. Bị o ra đường bắt xe khách đi từ nhà đi
đến bản H T, N N, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Bị cáo xuống xe đi bộ o trong
bản H T, N N, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên gặp một người đàn ông, dân tộc
Thái, khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ đâu). Bị cáo hỏi người đàn ông đó:
“Có Heroine bán không, bán cho một trăm nghìn đồng?”. Người đàn ông đó nói:
“Có, đưa tiền đây”. Sau đó Bị o lấy tiền ở trong túi quần bên phải đang mặc ra tờ
tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho Người đàn ông đó. Người đàn ông cầm tiền, rồi
đưa cho Bị cáo 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, miệng i
được hở lửa n kín. T cầm lấy xem bên trong Heroine rồi bị o cất gói
Heroine đó vào trong túi quần bên trái đang mặc đi bộ tìm chỗ sử dụng Heroine.
Còn người đàn ông đó đi đâu thì Bị o không biết. Khi Bcáo đi bộ một đoạn thì
gặp tổ công tác Công an đang làm nhiệm vụ, u cầu bị cáo đứng lại để kiểm tra.
Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện thu giữ tại túi quần bên trái Bcáo đang mặc
có 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon u trắng, miệng gói được hở lửa
hàn kín. Với nội dung trên, tổ công đã mời người chứng kiến tiến hành đưa Bcáo
cùng toàn bộ hồ sơ vụ án về trụ sở UBND xã N N,huyện Đ B, tỉnh Điện Biên để lập
biên bản bắt người phạm tội quả tang niêm phong vật chứng theo qui định. Sau
khi hn tất thủ tục tổ ng tác đã đưa bị o cùng toàn bộ hồ sơ, vật chứng của vụ
án về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B để điều tra làm rõ.
Tại biên bản m niêm phong c định khối ợng ngày 10/10/2020 đã xác
định: Khối ợng số cục bột màu trắng nghi Heroine thu gicủa ờng n T
khối ợng là 0,18 gam, trích 0,05 gam gửi giám định.Vật chứng còn lại 0,13 gam.
Tại bản kết luận giám định số 918/GĐ-PC09 ngày 19/10/2020 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra
từ vật chứng thu giữ của Lường Văn T gửi giám định chất ma túy, loại Heroine
nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC; Danh mục II, Nghị định
73/2018/NĐ- CP ngày 15/05/2018.
Tại bản cáo trạng số 288/CT-VKSĐB ngày 18/11/2020 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đ B truy tố bị cáo Lường Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma
túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên giữ
quyền công tố, ginguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình s.
Xphạt bị o: Từ 01 năm đến 01 m 03 tháng về tội "Tàng trữ trái phép
chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm
a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
3
Tịch thu tiêu hủy: 0,18 gam Heroine (đã trích gửi giám định không hoàn lại
0,05 gam, vật chứngn lại là 0,13 gam).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng
án phí, lệ pTòa án miễn 200.000 đồng án phình sự sơ thm cho Bị cáo.
Trong quá trình điều tra tại phiên tòa Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội
của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc
làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn T khai nhận nh
vi phạm tội của nh phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản
mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản
cung,biên bản ghi lời khai, bản tự khai trong hồ vụ án cũng như cáo trạng đã
truy tố đối với Bị o, đủ sở khẳng định: Vào hồi 15 giờ 50 phút ngày
10/10/2020 tại Bản H T, N N, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên ờng Văn T đã
hành vi cất giấu trái phép trong túi quần phía trước bên trái đang mặc của T 0,18gam
Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm
cho hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma
túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội
"Tàng tr trái phép cht ma túy" quy định ti điểm c khoản 1 Điu 249 Bộ luật nh
sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...c....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Bcáo người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm nh sự. Bị cáo thực
hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo
4
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn trên là hoàn
toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất
giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho
hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy,
xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây luận xấu
trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh
các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính
vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mình
đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt có thời hạn đối
với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt phòng ngừa chung cho
toàn xã hội.
[3] V tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tch nhiệm nh sự, nn tn của Bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bản thân bị cáo không tình thiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra tại phiên tòa, B cáo đã thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra lớn lên tại N S, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện
Biên được gia đình nuôi ăn học hết lớp 11/12 thì nghỉ học nhà làm ruộng cùng
gia đình.
Năm 2006 Bị cáo sinh sống như vợ chồng với Lường Thị H bản L C, xã N
S, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên đến năm 2010 thì không chung sống với nhau nữa
và có 02 người con chung; con lớn sinh năm 2007, con nh sinh năm 2009.
Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2006 cho đến ngày bị bắt.
Ngày 10/10/2020 bị Công an huyện Đ B bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái
phép chất ma y, quan CSĐT- Công an huyện Đ B ra Quyết định khởi tố Bị
cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam đối với Bcáo theo quy định của
pháp luật.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với
Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
Ngoài nh phạt chính Bcáo còn thbị áp dụng hình phạt bổ sung bằng
nh thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bi sản. Nhưng xét thấy Bị o có
hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập chủ yếu dựao lao động sản xuất nông nghiệp
5
ngi ra không thu nhập nào khác, n không khả ng thi nh. Do vậy, Hội
đồng t xử không áp dụng nh phạt bổ sung phạt tiền đối với Bo.
[4] Về vật chứng vụ án gồm: 0,18 gam Heroine (đã trích gửi giám định
không hoàn lại 0,05 gam, vật chứng còn lại 0,13gam) vật Nhà nước cấm tàng
trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] c vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của
một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ đâu) Cơ quan
điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[6] ̀ hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến
nh tố tụng:
Về tính hợp pp của hành vi, quyết định t tụng của quan điều tra,
quan truy tố, Điều tra viên, Kim sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã
thực hiện đúng vthẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật t tụng
nh s. Q tnh điều tra tại phiên tòa, Bị cáo kng ý kiến hoặc khiếu
nại v hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến nh tố
tụng. Do đó, c hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành t tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp lut.
[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng nh sự,
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thm
cho Bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dng: Điểm c, khon 1 Điu 249; điểm s khoản 1, Điều 51B luật hình sự.
Tuyên bố: Bcáo Lường Văn T phạm tội: "Tàng tr trái phép cht ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 01m 03 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày bị tạm gi(10/10/2020).
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106
BLTTHS:
* Tch thu tiêu hy: 0,18gam Heroine (đã trích gửi giám định không hoàn lại
0,05 gam, vật chứng còn lại là 0,13 gam).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2020 giữa quan cảnh sát
điều tra Công an huyện Đ B Chi cục thi hành án n sự huyện Đ B,
6
tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự B
o quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Nhà tạm giữ CAHĐB;
-VKSND H. Đ B;
-VKSND tỉnh Điện Biên;
- CQCSĐT CAHĐB;
- Hồ sơ THA hình sự;
- Chi cục THADS HĐB;
- Toà án ND tỉnh Điện Biên;
- Bộ phận HSNV C.an HĐB;
- u hồ sơ vụ án;
- Sở tư pháp;
- Lưu VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA
Trần Thị Tố Loan
7
Tải về
Bản án số 47/2020/HS-ST Bản án số 47/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất