Bản án số 46/2022/HS-PT ngày 31-08-2022 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 46/2022/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 46/2022/HS-PT ngày 31-08-2022 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tội đánh bạc
Tội danh: 321.Tội đánh bạc (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lạng Sơn
Số hiệu: 46/2022/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/08/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vi Văn L, Vi Văn Đ phạm tội Đánh bạc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH LẠNG SƠN
Bn án s:46/2022/HS-PT
Ngày 31-8-2022
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp T do Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH LNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy
Các Thẩm phán: Ông Chu Long Kiếm
Ông Cao Đức Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng
Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:
Tống Văn Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022
tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số 60/2022/TLPT-HS
ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo
Vi Văn Đ Vi Văn L, do
kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm số 77/2022/HS-ST
ngày 14 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng
Sơn.
- Các b cáo có kháng cáo:
1. Vi Văn L, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1988 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi
đăng ký hộ khẩu thường trú chỗ ở: Thôn Q1, Q, thành phố L, tỉnh Lạng
Sơn; nghề nghip: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch:
Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; con ông Vi Văn L1 Lâm Thị T
(đã chết); vợ Thị N nhưng đã ly hôn năm 2019 02 người con sinh
năm 2010 và 2017; tiền án, tiền sự: Không; b cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày
30-3-2022 đến ngày 15-4-2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh;
mặt.
2. Vi Văn Đ, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1986 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng
hộ khẩu thường trú chỗ ở: Thôn Q1, Q, thành phố L, tỉnh Lạng n;
nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Nùng;
quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vi Văn M Lý Thị X; có v
Lăng Thị Ncó 03 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013;
tiền án, tiền sự: Không; b cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-3-2022 đến ngày
15-4-2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.
2
Ngoài ra trong vụ án còn 08 bị cáo không kháng cáo, không bị
kháng nghị.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 10 phút ngày 29-3-2022, Tổ công tác Công an thành phố
Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Vi Văn L, Vi Văn Đ, Vi Văn T,
Vi Văn T1, Vi Văn N, Vi Văn C, Vi Văn B, Vi Văn M1, Hoàngn A, Lâm Văn
Q nh vi đánh bạc ới hình thức xóc đĩa” tại nhà anh Vi Văn N1, anh Vi
Văn H; địa chỉ: Thôn Q1, xã Q, thành phố L.
Thu giữ trên chiếu bạc 6.400.000 đồng một số đồ vật phục vụ cho
việc đánh bạc; thu giữ trên người các bị cáo tổng cộng 15.990.000 đồng và một
số tài sản khác như xe mô tô, điện thoại.
Quá trình điều tra đã xác định: Từ ngày 25-3-2022 đến ngày 28-3-2022,
các bị cáo cùng một số người khác hàng xóm đến hộ đám ma nhà anh Vi Văn
H anh Vi Văn N1. Khoảng 20 giờ ngày 28-3-2022, sau khi ăn cơm xong thấy
n nhà anh Vi Văn N1 để 01 chiếu nhựa cùng với t đĩa quân vị n mọi
người cùng nhau tham gia đánh bạc ới nh thc “xóc đĩa. Vi n T nời
cầm cái trưc rồi đến Vin L cầm i. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đđánh
bạc 18.720.000 đồng, trong đó stiền sử dụng vào việc đánh bạc của bcáo
Vi Văn Đ là 3.000.000 đồng và bị cáo Vi Văn L300.000 đồng.
Bản án hình sự thẩm số 77/2022/HS-ST ngày 14-7-2022 của Tòa án
nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố các bị cáo Vi Văn L,
Vi Văn Đ phạm tội Đánh bạc; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1
Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 17; Điều 47 của Bộ luật Hình sự xphạt mỗi
bị cáo 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt đi
thi hành án và được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ trước đó.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên phạt đối với 08 bcáo khác trong vụ
án trong đó 03 bị cáo bị xử phạt 06 tháng nhưng cho hưởng án treo 05
bị cáo bị xử phạt từ 06 tháng đến 08 tháng cải tạo không giam giữ cùng v tội
Đánh bạc.
Trong thời hạn luật định, bị cáo Vi Văn L bị cáo Vi Văn Đ đơn
kháng cáo đề nghị Tòa án phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Vi Văn L, bị cáo Vi Văn Đ giữ nguyên
nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Đơn kháng
cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên hợp lệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét
xử các bị cáo Vi Văn L, Vi Văn Đ về tội Đánh bạc đúng người, đúng tội,
không oan. Tòa án cấp thẩm đã đánh giá đúng vai trò, tính chất, mức độ hành
3
vi phạm tội của các bị cáo áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đối với các bị cáo.
Sau khi xét xử thẩm, các b cáo đã cung cấp tài liệu th hiện c 02 b
cáo đều là lao động chính trong gia đình và đã thời gian tham gia quân ngũ.
Đây tình tiết giảm nh mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của B luật
Hình s năm 2015. Các bị cáo đều có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; phạm tội lần đầu
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét thy, vic áp dụng hình phạt tù giam đối
với các b cáo không cần thiết.
vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e
khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Ttụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo
của các bcáo; ginguyên mức hình phạt và cho c bị cáo được hưởng án
treo, ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Vi Văn L, Vi Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành
vi phạm tội như nội dung Bản án thẩm; lời nhận tội của các bị cáo phợp
các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị
cáo Vi Văn L và bị cáo Vi Văn Đ về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1
Điều 321 của Bộ luật Hình snăm 2015 căn cứ, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, không oan.
[2] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo; Hội đồng xét xử thấy
rằng:
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng vai trò, tính chất, mức độ hành vi
phạm tội của các bị cáo áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đối với các bị cáo; mức hình phạt Bản án thẩm đã tuyên đối với
các bị cáo là phù hợp.
[4] Sau khi xét xử thẩm, c 02 b cáo đã cung cấp tài liệu chứng c
chứng minh là lao động chính trong gia đìnhđãthời gian tham gia phc v
quân ngũ. Vì vậy, c 02 b cáo đưc ng thêm tình tiết giảm nhẹ mới đưc quy
định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015.
[5] Các bị cáo đều là người lao động nhất thời phạm tội, không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm nh sự, nhiều tình tiết gim nhẹ trách nhiệmnh sự quy
định tại khon 1, khon 2 Điều 51 của Bluật Hình sự năm 2015. Mặt khác, cả 02 bị
cáo đều nơi thường trú cụ thể, ràng; trong thời gian tại ngoại vừa qua
không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật. Xét thấy, c bcáo có khả năng
tự cải tạo nếu không bắt đi chấp hành hình phạt thì không gây nguy hiểm
cho hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn hội, không ảnh
hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4
[6] T nhng phân tích, đánh giá nêu trên; Hi đồng xét xử thấy bị cáo Vi Văn
L bị cáo Vi n Đ đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp
luật. vậy, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; sửa một phần Bản án thẩm
do có tình tiết mới.
[7] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát căn c phù hợp với nhận
định nêu trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của các bcáo được Hội đồng xét
xử chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
[9] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vi Văn L bị cáo Vi Văn Đ v vic
xin hưởng án treo; sa mt phn Bn án hình s thm s 77/2022/HS-ST
ngày 14-7-2022 ca Tòa án nhân dân thành ph Lạng Sơn, tnh Lạng Sơn về
phần hình phạt đối với b cáo Vi Văn L và b cáo Vi Văn Đ; cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17,
Điều 65, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Vi Văn L
b cáo Vi Văn Đ;
Xử phạt bị cáo Vi Văn L 09 (chín) tháng cho hưởng án treo về tội Đánh
bạc; thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 31-
8-2022.
X phạt bị cáo Vi Văn Đ 09 (chín) tháng cho hưởng án treo về tội
Đánh bạc; thời gian thử thách 18 (mười m) tháng ktừ ngày tuyên án phúc
thẩm 31-8-2022.
Giao bị o Vi Văn L, bị cáo Vi Văn Đ cho U ban nhân n xã Q, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn để giám t giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình
c bị o trách nhiệm phối hợp với chính quyền đa phương trong việc giám
t, giáo dục c bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực
hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02
lần trở lên thì Tòa án thquyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá
14 quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
5
phí Toà án.
Các bị cáo Vi Văn L, Vi Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Phòng PV 06 Công an tỉnh Lạng Sơn;
- Sở T tỉnh Lạng Sơn;
- TAND thành phố Lạng Sơn;
- VKSND thành phố Lạng Sơn;
- CC T thành phố L;
- Công an thành phố Lạng Sơn;
- Các bị cáo;
- Tổ HCTP, KTNV&THA;
- Lưu: Hồ sơ,Tòa hình sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh Thùy
Tải về
Bản án 46/2022/HS-PT Lạng Sơn Bản án 46/2022/HS-PT Lạng Sơn

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 46/2022/HS-PT Lạng Sơn Bản án 46/2022/HS-PT Lạng Sơn

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất